TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG, TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng những quan điểm sâu sắc về pháp luật và về[.]
Trang 1TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG, TỔ CHỨC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng những quan điểm sâu sắc về pháp luật và về vai trò của quần chúng nhân dân trong việc tham gia xây dựng cũng như tổ chức thực hiện pháp luật Những quan điểm đó không chỉ thể hiện qua các bài viết mà còn được Người áp dụng hiệu quả trong thực tiễn lãnh đạo quản lý đất nước Vì vậy, nghiên cứu vận dụng những tư tưởng đó của Chủ tịch
Hồ Chí Minh là điều hết sức có ý nghĩa trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân ở nước ta hiện nay
I- TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁP LUẬT
1 Về vai trò của pháp luật trong quản lý kinh tế - xã hội
Tư tưởng nhà nước pháp quyền Hồ Chí Minh đã sớm hình thành ngay từ
những năm đầu Người bôn ba tìm đường cứu nước Trong “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi chính phủ thực dân Pháp năm 1919, Người đưa ra yêu cầu:
“Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được
hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” [10, tr.416] Sau này, khi “diễn ca” bài yêu sách nói trên thành “Việt Nam yêu cầu ca”, Người viết:
“Bảy xin hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” [10, tr.438]
“Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” là tư tưởng sắc bén về nhà nước pháp quyền, là sự đón nhận và tiếp biến “tinh thần pháp luật” lên một phạm vi
rộng lớn hơn, tiến bộ hơn: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Nhà nước
pháp quyền - theo tư tưởng Hồ Chí Minh - là nhà nước tôn trọng vai trò của luật pháp trong tổ chức và hoạt động, một nhà nước đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội Bản thân nhà nước, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội đều tồn tại, hoạt
Trang 2động trong khuôn khổ pháp luật Theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luật pháp chi phối mọi hoạt động của nhà nước như một vị thần linh mà tất cả phải tuân theo
Thể hiện tư tưởng đó, trong hoạt động thực tiễn, với cương vị là người đứng đầu Nhà nước, đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc đòi hỏi mọi tổ chức đảng, chính quyền, quân đội, đoàn thể tuân thủ pháp luật, không một ai được đứng trên hay đứng ngoài pháp luật Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc (năm 1848), Người dạy cán bộ tư pháp phải “phụng công thủ pháp, chí công vô tư” Đối với cán bộ, đảng viên, Người đòi hỏi: đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác của Đảng, mà còn phải gìn giữ kỷ luật chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, đoàn thể nhân dân
Đối với nhân dân, Người nhắc nhở “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gọi pháp luật một cách dễ hiểu là phép luật,
“phép luật là phép luật của nhân dân” [3, tr.453] Người luôn kêu gọi mọi người tuân theo pháp luật, tuân theo những quy tắc, quy định, kỷ luật của đơn vị mình, địa phương mình cũng như các văn bản pháp luật của Nhà nước Theo Hồ Chí Minh, làm tròn bổn phận công dân và giữ đúng đạo đức công dân, tức là “Tuân theo pháp luật của nhà nước; Tuân theo kỷ luật lao động; Giữ gìn trật tự chung; Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số lượng để xây dựng lợi ích chung” [3, tr.452]
Trong quản lý kinh tế, Người nhấn mạnh: “Để xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội , toàn dân và toàn Đảng phải ra sức phát triển và phát triển mạnh kinh tế của ta Muốn vậy, thì về công nghiệp, các xí nghiệp của Nhà nước
(tức là của nhân dân) cần phải cải tiến chế độ quản lý Để quản lý tốt xí nghiệp phải sửa đổi những chế độ và quy tắc không hợp lý” [5, tr.230] Luận
điểm về hiệu quả quản lý kinh tế của Hồ Chí Minh là “quản lý một nước cũng
Trang 3như quản lý một doanh nghiệp, phải có lãi” Đó là những tư tưởng quản lý đặc sắc, có sức thuyết phục và mang tính khoa học cao
Quản lý đất nước, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay hòa bình, Hồ Chí Minh đều rất xem trọng việc xây dựng pháp luật Ngay từ những ngày đầu lập nước, trong điều kiện chính trị đối nội, đối ngoại cực kỳ phức tạp, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chủ trương tổng tuyển cử tự do để toàn dân trực tiếp bầu Quốc hội
-cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Người trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á Cho đến nay, bản hiến pháp đó vẫn được coi là mang tính khoa học pháp lý rất cao, quy định khá chặt chẽ về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước
Chăm lo cho nền pháp lý nước nhà, Người lưu ý các cán bộ ngành tư pháp:
“Chúng ta cũng thấy pháp luật của ta hiện nay chưa đầy đủ Chính các chú có trách nhiệm phải góp phần làm cho luật pháp của ta tốt hơn, càng ngày càng phong phú hơn Phải cố gắng làm cho luật pháp dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn” [2, tr.187] Có thể nói, hệ thống pháp luật ngày càng tốt hơn, phong phú hơn, mang tính dân chủ cao hơn vẫn đang là những quan tâm cấp thiết của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hiện nay
Vai trò của pháp luật, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện không chỉ ở việc xây dựng luật pháp, mà quan trọng hơn là luật pháp ấy phải được xã hội thi hành
nghiêm túc để tạo ra một nền pháp chế cách mạng Vấn đề cốt lõi của nhà nước
pháp quyền là: một bộ máy hành chính phải hoạt động trên cơ sở của pháp luật, quản lý nhà nước bằng pháp luật Chính phủ - cơ quan hành pháp cao nhất - phải
là “người làm gương” trong việc thi hành pháp luật Trong bài trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội (Khóa I) về trường hợp vi phạm pháp luật của một cán bộ chính phủ, Hồ Chí Minh đã nói: “Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ - đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết” [2, tr.158]
Trang 4Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh là tư tưởng xuyên suốt hoạt động của Người Trong những năm tháng ở cương vị lãnh đạo đất nước, Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo soạn thảo hai bản Hiến pháp quan trọng (1946 và 1959), ký 613 sắc lệnh từ năm 1945 - 1959, trong đó có tới 243 sắc lệnh quy định về tổ chức nhà nước và pháp luật Có thể nói, tư tưởng nhà nước pháp quyền Hồ Chí Minh
đã hình thành nên một thể chế bộ máy nhà nước thời đại Hồ Chí Minh
Không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết ở việc nhận thức vai trò của pháp luật trong quản
lý nhà nước, lại nảy nở sớm và bền vững như vậy trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của Người Trong tư tưởng của Người có sự kế thừa, phát triển những tinh hoa của tư tưởng pháp trị theo trường phái Pháp gia Đông phương cổ đại; của những quan niệm và thành tựu pháp quyền tư sản; và đặc biệt là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, vai trò của luật pháp Nói cách khác, Hồ Chí Minh thấu hiểu một cách sâu sắc bản chất chính trị
- xã hội của công cụ luật pháp Người xem pháp luật như một công cụ quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, có ý nghĩa như một phương pháp có hiệu lực nhất
để nhà nước đạt tới mục đích của mình: pháp luật đúng đắn sẽ tạo nên sự ổn định trong cơ cấu và hoạt động của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo Người chỉ ra rằng, điều kiện và cơ sở kinh tế của xã hội quy định nội dung của pháp luật Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với luận điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen khi bàn về pháp luật tư sản, rằng: pháp quyền tư sản chỉ
là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung
là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp đó quyết định Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng khẳng định: “Nhà nước nào có pháp luật ấy”, “pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho quyền lợi của hàng triệu người lao động Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động” [2, tr.187] Từ đó, quan điểm của Hồ Chí Minh về cớ
sở tư tưởng để định ra pháp luật là phải dựa hẳn và lực lượng nhân dân, lực lượng lao động làm nền tảng để xây dựng nhà nước, xây dựng chế độ Chính vì
Trang 5vậy, luật pháp - theo Hồ Chí Minh - “phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của mọi tầng lớp nhân dân” và Hiến pháp phải “trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách rộng rãi” để “xứng đáng với nhân dân”
Thấu hiểu bản chất của pháp luật, Hồ Chí Minh đòi hỏi công cụ luật pháp
của Nhà nước ta phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và phù hợp.
Tính dân chủ của pháp luật, một mặt, thể hiện ý chí của các tầng lớp nhân
dân trong việc xây dựng luật pháp; mặt khác, dân chủ không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật Trong chỉ đạo xây dựng cũng như sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tuân thủ hai bước: bước sơ thảo và bước trưng cầu ý kiến nhân dân Người khẳng định: “Nhân dân ra hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự
do của người khác là phạm pháp Không thể có tự do cho bọn Việt gian, bọn phản động, bọn phá hoại tự do của nhân dân” [2, tr.187]
Bình đẳng là thiên chức của pháp luật Theo Hồ Chí Minh, pháp luật phải
bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau, giữa các miền, các vùng, giữa nam và nữ Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, đất nước còn bị chia cắt, Hồ Chí Minh vẫn đòi hỏi Hiến pháp “phải thật sự đảm bảo nam, nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng” và “Hiến pháp phải là mục tiêu phấn đấu cho đồng bào miền Nam” [4, tr.322] Bình đẳng theo pháp luật không phải
là sự cào bằng mà là sự bình đẳng về mặt pháp lý, tức là phải có sự tương xứng
giữa quyền lợi và nghĩa vụ, thưởng người có công đi đôi với phạt người có tội
Để đạt được các yêu cầu trên, luật pháp phải có tính kế thừa và phù hợp với cuộc sống Khi tham gia sửa đổi Hiến pháp năm 1959, Hồ Chí Minh cho rằng:
“chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ tình hình của nước ta, nghiên cứu lại bản Hiến pháp năm 1946” Nhờ tư tưởng tiến bộ và cầu thị nên hai bản hiến pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo đều mang tính khoa học và pháp lý cao Cho đến bản Hiến pháp năm 1992, nhiều định chế pháp lý như thiết chế bộ
Trang 6máy nhà nước, chế độ kinh tế đã có sự kế thừa sâu sắc nhiều ý tưởng của bản Hiến pháp năm 1959, đặc biệt là của Hiến pháp năm 1946 Hơn thế nữa, thực tế cho thấy, tư tưởng nhà nước pháp quyền Hồ Chí Minh chứa đựng tầm vóc quốc
tế Trong xây dựng pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: một mặt, “phải
phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của chế độ ta do cuộc cách mạng phản đế, phản phong thắng lợi đã mang lại, phản ánh đúng con đường đang tiến lên của
dân tộc ta”; mặt khác, “phải tham khảo hiến pháp của các nước bạn và của một
số nước tư bản có tính chất điển hình” [4, tr.322] Chính vì vậy, ghi nhận những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, năm 1958, Trường Đại học Răng-gun (Mianma) đã trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng Tiến sĩ Luật khoa danh dự Điều đó thể hiện sự đánh giá đúng mức của bè bạn quốc tế đối với tư tưởng cũng như thực tiễn hoạt động xây dựng nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2 Sự thống nhất giữa luật pháp và đạo đức trong tư tưởng pháp quyền
Hồ Chí Minh
Trong lịch sử nhân loại, từ rất sớm đã có sự “song hành” giữa hai dòng tư tưởng, hai khuynh hướng văn hóa trị nước là “pháp trị” và “đức trị” Ngay trong
thời kỳ hưng thịnh nhất của tư tưởng đức trị, chính Khổng Tử đã nói: “Người
quân tử quan tâm đến đức, còn kẻ tiểu nhân quan tâm đến đất cát; người quân tử
quan tâm đến pháp độ, còn kẻ tiêu nhân thì quan tâm đến ơn huệ“ (Luận ngữ,
thiên Lý nhân) Hàn Phi Tử “pháp trị” đến mức tàn nhẫn, nhưng chính sách
“thưởng, phạt” của ông vẫn có mục đích “làm lợi cho dân và tiện cho thứ dân” Ông viết: “Kẻ bị phạt nặng là những bọn trộm cướp, và kẻ được thương yêu, lo lắng là dân lành” (Lục phản) Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc những bài học quý báu trong kho tàng văn hóa trị nước của nhân loại và Người đã khéo léo vận dụng nó một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn, kết hợp hài hòa, hợp lý giữa “pháp trị” và “đức trị” trong quản lý đất nước
Trang 7Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “đức trị” tiềm ẩn và là nền tảng của công cụ
“pháp trị” Từ những ngày đầu dựng nước, Người đã dạy: “Đạo nghĩa là chính sách của Chính phủ đối với dân chúng - chính sách này phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đời sống của dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa v.v Có như thế dân chúng mới đoàn kết chung quanh chính phủ” [4, tr.227] Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, làm việc đạo nghĩa cho dân là yêu cầu cốt yếu trong các chính sách của Nhà nước, có như thế mới là Nhà nước “của dân, vì dân” Phát biểu tại Kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa I (năm 1953), Người nói: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp tình, hợp lý Chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông
ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố cho đồng bào phú nông, đồng bào địa chủ Ngoài ra chúng ta cũng chiếu cố đến đồng bào công thương nghiệp, chiếu cố cán bộ, công nhân, nhân dân lao động khác và đồng bào tản cư” [3,
tr.186] Có thể thấy đạo lý và pháp luật hòa quyện trong văn hóa quản lý của Hồ
Chí Minh Tư tưởng pháp quyền của Người rất nghiêm, nhưng cũng đầy tình
người, đầy lòng nhân ái Người nói: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người Ở đời và làm
người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp bức” [1, tr.187]
Sự thống nhất giữa “pháp trị” và “đức trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở nguyên tắc kết hợp giữa sử dụng công cụ chuyên chính với thực hiện chế độ dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn dân chủ với pháp luật, đưa vấn
đề dân chủ, tự do vào khuôn khổ pháp luật và luật pháp phải thể hiện được bản chất dân chủ trong đó Không thể có dân chủ tách rời khỏi pháp luật, cũng như không thể chỉ có pháp luật mà không có dân chủ Đánh giá pháp luật nước nhà, Người nói: “Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi của hàng triệu người lao động Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động” Người minh họa mối quan
Trang 8hệ giữa pháp luật và dân chủ bằng một dẫn chứng dễ hiểu, sinh động thể hiện
phong cách Hồ Chí Minh: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên
chính là cái khóa, cái cửa để phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ” [4, tr.279-280] Người cũng đưa vấn đề dân chủ và chuyên chính vào thực tiễn bằng việc thực hiện các chính sách thưởng phạt rất nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thi hành “Trong một nước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên
ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công Vậy Chính phủ ra quốc lệnh rõ ràng gồm 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm” [11, tr.163] Hồ Chí Minh thường nhắc nhở việc soạn thảo và thi hành chính sách thưởng - phạt, sự kết hợp này thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa “đức trị” và “pháp trị” trong tư tưởng quản lý của Người Với lòng nhân ái bao la, Người chủ trương “nhân trị” cần đi trước “pháp
trị” Người nói: “chúng ta cần phải có giáo dục đạo đức công dân Giáo dục là
chính, nhưng đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi thì chính quyền
phải dùng phép luật” [3, tr.453] Ngày nay, việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn
đã chứng minh quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chỉ khi công dân được giáo dục pháp luật một cách đầy đủ, kịp thời, luật pháp mới được tuân thủ nghiêm chỉnh, hiệu quả Ngược lại, pháp luật được thực thi nghiêm minh mới thực sự có hiệu lực trong quản lý kinh tế - xã hội
II- TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
1 Về vai trò của nhân dân trong xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật là một chức năng của mọi nhà nước, nhưng hoạt động này được tiến hành không giống nhau ở các kiểu nhà nước khác nhau Đối với các kiểu nhà nước bóc lột, pháp luật là sản phẩm của thiểu số giai cấp cầm quyền để cai trị dân chúng, chứ không phải là tiếng nói của dân chúng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Nhà nước nào có pháp luật ấy” Và để
Trang 9pháp luật thật sự là công cụ thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của nhân dân, quan điểm của Hồ Chí Minh là phải dựa hẳn vào nhân dân để làm nền tảng xây dựng Nhà nước, xây dựng chế độ
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng - chân lý đó đã sớm được nhận thức
từ quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc Được hun đúc tinh thần yêu nước từ truyền thống lịch sử và qua sự trải nghiệm thực tiễn của những năm tháng bôn ba hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy vai trò vĩ đại của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc với bút danh WANG
-đã chỉ rõ “công nông là người chủ cách mệnh” [1, tr.232], tức công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt, là đội quân chủ lực của cách mạng Khi tìm hiểu thực tiễn ở các nước khác, đặc biệt là cách mạng Pháp, Nguyễn Ái Quốc cũng rút ra một điều rằng, “dân chúng công nông là gốc cách mệnh”[1, tr.242]
Từ nhận thức nền tảng ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Chính phủ thực dân Pháp 8 yêu sách đối với nhân dân An Nam, trong đó có yêu cầu việc thành lập “đoàn đại biểu thường trực của những người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”[1,tr.70] Điều đó cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã
ấp ủ một kỳ vọng về một chế độ nhà nước “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” mà ở đó, nguyện vọng của người dân là nguồn gốc, là căn cứ để xây dựng chính quyền, xây dựng nền pháp lý của nhân dân, vì nhân dân
Sau khi lãnh đạo nhân dân giành được độc lập dân tộc, xây dựng Nhà nước kiểu mới, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò quan trọng của nhân dân nói chung, trong xây dựng chính sách, pháp luật nói riêng tiếp tục được khẳng định Người đưa ra một nhận xét sâu sắc rằng: “Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà còn phải học hỏi quần chúng”[1, tr.450] Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh đạo đất nước, đã rất nhiều lần Bác Hồ nói đến vấn đề phải “học ở nhân dân” Người nói: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu
Trang 10dân chúng” Người còn nhấn mạnh: “mỗi khẩu hiệu, mỗi công tác, mỗi một chính sách của ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”[1, tr.459]
Như vậy, cũng như trong mọi công tác khác, hoạt động xây dựng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền phải biết phát huy vai trò của nhân dân, phải nắm bắt kịp thời nguyện vọng, sáng kiến của quần chúng nhân dân Đó cũng là
cơ hội để nâng cao năng lực, kinh nghiệm trong hoạt động lập pháp Theo cách làm việc của Bác, các cơ quan ban hành pháp luật muốn thành công thì “phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”[1, tr.450] Để làm được điều đó, phải không ngừng tăng cường mối liên
hệ chặt chẽ với mọi tầng lớp nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “một ngày, một phút cũng không thể giảm bớt mối quan hệ giữa ta và dân chúng” Người còn nói thêm rằng: “xa cách dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định sẽ thất bại”[1, tr.451]
Quan niệm trên về vai trò của quần chúng nhân dân được thể hiện rõ nét trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh Khi xây dựng bản Hiến pháp năm 1959, mặc dù điều kiện nước nhà còn bị chia cắt hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên đặt ra yêu cầu: “Hiến pháp chẳng những phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân miền Bắc, mà còn phải là mục tiêu phấn đấu cho đồng bào miền Nam”[4, tr.322]
Như vậy, trong hoạt động xây dựng pháp luật nói riêng, cũng như trong mọi hoạt động của quản lý nhà nước nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn nhận và đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân lao động Vai trò đó
to lớn đến nỗi chính Người đã khẳng định như một chân lý, rằng “Làm việc gì cũng phải có quần chúng Không cho quần chúng thì không thể làm được”[1, tr.481]
Để phát huy tốt nhất vai trò của nhân dân trong hoạt động xây dựng pháp luật, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần chú ý những vấn đề sau: