1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

61 2,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Huế
Chuyên ngành Khoa học môi trường và Công nghệ sinh học
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những yêu cầu bức bách hiện nay là trồng rừng phòng hộ để vừa chống xói mòn, vừa ngăn chặn nạn cát bay, cát chuồi, đồng thời cải thiện môi trường, ổn định sản xuất nông nghiệp,… nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương. Để giải quyết các yêu cầu đó, trong những năm gần đây loài Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) đã được chọn đưa trồng rộng rãi trên nhiều diện tích đất cát nội đồng và trên đất cát ven biển của Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên hiệu quả của rừng Keo lưỡi liềm thì chưa được đánh giá một cách đầy đủ.

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATSC Trung tâm giống cây Lâm nghiệp Úc

COGREDA Nghiên cứu và phát triển Keo ở khu vực Đông Nam ÁAusAID Tổ chức Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc

ACIAR Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc GS.TS Giáo sư tiến sĩ

PGS.TS Phó giáo sư tiến sĩ

KH&CN Khoa học và Công nghệ

CIFOR Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế

GEF Quỹ môi trường toàn cầu

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới

Bảng 1.2: Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam

Bảng 4.1 Bảng số liệu diện tích Keo lưỡi liềm của xã

Bảng 4.2: Tình hình sinh trưởng của rừng Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên cứu

Bảng 4.3 Lượng vật rơi rụng ở khu vực rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống Bảng 4.4: Phẫu diện đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống

Bảng 4.5 Độ ẩm tuyệt đối khu vực trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống Bảng 4.6: Bảng nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài rừng

Bảng 4.7 Kết quả phân tích độ pH của đất trong rừng và ngoài đất trống

Bảng 4.8 Kết quả phân tích mùn của mẫu đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài

đất trống

Trang 3

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ Biểu đồ 4.1 Biểu đồ biến động diện tích trồng Keo lưỡi liềm

Biểu đồ 4.2 Biều đồ lượng nước trong vật rơi rụng

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ so sánh độ ẩm trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống Biểu đồ 4.4 Biểu đồ so sánh pH của đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.2 Cơ sở thực tiễn 8

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14

PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 23

3.1.1 Mục tiêu chung 23

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 24

3.3.1 Công tác chuẩn bị 24

3.3.2 Công tác ngoại nghiệp 24

3.3.3 Công tác nội nghiệp 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Khái quát tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu 29

4.1.1 Vị trí địa lý 29

4.1.2 Địa hình 29

4.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn, địa chất công trình 29

4.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 31

4.1.5 Đặc điểm dân cư và nguồn lao động 33

4.1.6 Đánh giá về lợi thế và hạn chế của khu vực 34

4.2 Khái quát tình hình sinh trưởng của rừng Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên cứu 35

4.3 Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm 36

4.3.1 Đánh giá lượng vật rơi rụng tại khu vực nghiên cứu 36

Trang 5

4.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của rừng Keo lưỡi liềm đến tính chất vật lý của đất

tại khu vực xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 39

4.3.3 Ảnh hưởng của rừng Keo lưỡi liềm đến tính chất hóa học của đất cát ven biển 44

4.4 Giải pháp nâng cao khả năng cải tạo đất cát ven biển 48

4.4.1 Giải pháp về kinh tế - xã hội 48

4.4.2 Giải pháp về tài chính 48

4.4.3 Giải pháp về kỹ thuật 48

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 6

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, việc khai thác và sử dụnghợp lý nguồn tài nguyên đất là vô cùng quan trọng bởi nó không chỉ quyết địnhđến năng suất mà còn quyết định cơ cấu cây trồng và mùa vụ sản xuất nông lâmnghiệp Tài nguyên đất đai được con người khai thác và sử dụng từ rất sớm gắnliền với nền sản xuất nông, lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác Mỗi loạiđất khác nhau sẽ có các kiểu sử dụng khác nhau nhằm đạt được những hiệu quảcao nhất trong quá trình khai thác và sử dụng đất

Theo NIAPP (2003) nhóm đất cát biển nước ta có tổng diện tích hơn442.570 ha, có mặt trên 120 huyện, 28 tỉnh, chiếm khoảng 1,61% diện tích tựnhiên của cả nước Ðất cát biển phân bố chủ yếu ở ven biển các tỉnh Nghệ An,

Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận Diện tích đất cát vùng Bắc Trung Bộ chiếm một diện tích rất lớn là 334.740 ha,chiếm 12% tổng diện tích đất lâm nghiệp của cả vùng, trong đó 36,7% diện tíchcòn bỏ hoang Một trong những bất cập lớn nhất là chưa xác định được loài câytrồng và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phù hợp Ngoài ra còn một số diệntích phân bố ở các cửa sông lớn hoặc trên những vùng đất được hình thành từnền đá mẹ sa thạch hay Granit Đặc điểm tự nhiên ở các vùng đất cát ven biểnnước ta vô cùng khắc nghiệt, trong khi đó những vùng này có vai trò rất quantrọng trong việc bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế -

xã hội

Vùng cát ven biển Thừa Thiên Huế là một tiểu vùng sinh thái khắc nghiệt

và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết Điều kiện môi trường của vùngđất này trong vài thập niên vừa qua có sự biến động khá mạnh do tác động củathiên nhiên và con người Bão lụt hàng năm thường xuyên đe dọa đời sống của

cư dân địa phương Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát trôi, cátchuồi là những mối đe dọa thường xuyên Ngay cả việc phát triển sản xuất nângcao đời sống trong mấy năm gần đây như đào hố nuôi trồng thủy sản cũng đãlàm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; cộng với việc khai khoáng đại trà

đã làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó lại càng khốn khó hơn Thực trạngnhiễm mặn đất trống, sa mạc hóa cảnh quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún

Trang 7

sụt địa tầng… do hậu quả của khai khoáng và đào hố nuôi trồng thủy sản thiếukiểm soát gây ra, đã và đang là vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ.

Một trong những yêu cầu bức bách hiện nay là trồng rừng phòng hộ để vừachống xói mòn, vừa ngăn chặn nạn cát bay, cát chuồi, đồng thời cải thiện môitrường, ổn định sản xuất nông nghiệp,… nâng cao chất lượng cuộc sống của ngườidân địa phương Để giải quyết các yêu cầu đó, trong những năm gần đây loài Keo

lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) đã được chọn đưa trồng rộng rãi trên nhiều diện tích

đất cát nội đồng và trên đất cát ven biển của Thừa Thiên Huế Tuy nhiên hiệu quảcủa rừng Keo lưỡi liềm thì chưa được đánh giá một cách đầy đủ

Xuất phát từ những vấn đề đó mà tôi tiến hành lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Nhằm phân tích những thay đổi về lý tính và hoá tính của đất cát ven biển khuvực này từ khi có Keo lưỡi liềm

Trang 8

PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

Trong lịch sử hình thành, quá trình tiến hoá và phát triển của con người đãnhận thấy được mối quan hệ khăng khít giữa thực vật đối với đất Từ đó conngười đã biết quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao giá trị sử dụng của đất, mộttrong những tài nguyên vô giá của nhân loại Đặc biệt mối quan hệ đó được cácnhà lâm học nghiên cứu, họ đã cho thấy được ý nghĩa lớn lao trong các vấn đề:nuôi dưỡng, cải thiện rừng, nâng cao sản lượng rừng… Mối quan hệ giữa thựcvật và đất càng được con người chú trọng khi họ biết phân biệt đất nào thích hợpvới cây trồng nào Như vậy thì thực vật có vai trò rất to lớn đối với cuộc sốngcủa chúng ta, trong đó hệ sinh thái rừng có vai trò lớn nhất

Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần

nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ độngvật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất) Nội dungnghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinhthái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng vớicác sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa nhữngsinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (E.P Odum 1986,

G Stephan 1980)

Khái niệm về hệ sinh thái rừng cho ta thấy rừng là một hợp phần quantrọng nhất cấu thành nên sinh quyển Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật,rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên; nó có vai tròcực kỳ quan trọng tạo cảnh quan và có tác dụng mạnh mẽ đến các yếu tố khíhậu, đất đai Vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xãhội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường Rừng có ảnh hưởng đếnnhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hòa khí hậu.Rừng không chỉ chắn gió mà nó còn làm sạch không khí và có ảnh hưởng lớnđến vòng tuần hoàn cacbon trong tự nhiên Là máy lọc bụi khổng lồ, trung bìnhtrong 1 năm, 1 ha rừng thông có khả năng hút 36,4 tấn bụi từ không khí Rừngcòn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức khỏe con người.Rừng còn tác động lên đất rừng ở nhiều phương diện khác nhau Các cây rừng,quần thể, quần xã thực vật rừng có ảnh hưởng đến đất rừng về cả không gian và

Trang 9

thời gian với các mức độ khác nhau Các đặc điểm của rừng như: cấu trúc rừng,tuổi rừng, tầng thứ, độ khép tán…ảnh hưởng đến tiểu khí hậu rừng (chế độnhiệt, thành phần không khí, lượng hơi nước…), đến số lượng và chất lượngnước rơi xuống mặt đất, đến biến thiên nhiệt độ đất và độ ẩm đất rừng như:+ Nhiệt độ đất rừng rất ổn định ở các độ sâu khác nhau do có tầng thảmtươi và tầng thảm mục.

+ Trong rừng do có tầng tán lá cây và tầng thảm mục, cũng như tác dụnggiữ nước của cây nên đất rừng hấp thụ được nhiều nước Bên cạnh đó nhiệt độtrong rừng thấp hơn nên hạn chế sự bốc hơi nước, vì vậy độ ẩm đất rừng thườngcao hơn so với đất bên ngoài rừng

Ngoài ra còn có những tác động vật lý, hóa học và sinh lý của hệ rễ câyrừng như: hệ rễ cây rừng làm cho đất tơi xốp hơn, thoáng khí hơn và giữ nướctốt hơn… Bên cạnh đó rừng còn đem lại một khối lượng lớn vật rơi rụng chođất, tạo ra lớp thảm mục phủ trên bề mặt đất rừng Thảm mục rừng là sản phẩmđặc trưng và là một trong những thành phần của hệ sinh thái rừng, nó giữ vai tròquan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng Thảm mục lànguồn nguyên liệu cơ bản để hình thành mùn và là kho dinh dưỡng vô cùng lớncủa cây rừng thông qua quá trình mùn hóa và khoáng hóa, chính vì thế mà thảmmục cũng là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá độ phì nhiêu của đất Độ dày và thànhphần của tầng thảm mục ảnh hưởng đến quá trình điều tiết và duy trì nguồnnước trong đất, ngăn cản dòng chảy chống xói mòn, điều hòa nhiệt độ đất rừng.Thảm mục được tích luỹ dần dần cùng với quá trình hình thành rừng và tăngthêm của lớp thảm khô, nhưng đồng thời song song với quá trình tích lũy còn cóquá trình phân giải của vi sinh vật đất Quá trình phân giải kị khí thảm khô vàthảm mục dẫn đến sự phân hủy của xenlulozơ và linhin Kết quả của quá trìnhphân giải và mùn hóa là hình thành nên lớp đất bề mặt gọi là mùn, đồng thời nócũng ảnh hưởng đến các phản ứng hóa sinh của các vi sinh vật từ đó thay đổinhiều tính chất của đất như: tỷ lệ axit humic và axit fulvic…

Đất là một hệ thống động trong đó dung dịch đất là môi trường của các quátrình vật lý, hoá học và sinh học trong đất Dung dịch đất tồn tại ở trạng thái cânbằng động với các chất vô cơ, chất hữu cơ, vi sinh vật và không khí đất Vì thế

nó đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá và vận chuyển các phân tử vàcác ion cần thiết cũng như các phân tử và ion có hại trong một hệ sinh thái Cònhoá học đất bao gồm các phản ứng và quá trình hoá học của đất gắn liền với sinhtrưởng của thực vật, động vật và môi trường phát triển của con người Các quá

Trang 10

trình hoá học đất là nền tảng cho sự tiến hoá của địa quyển, sinh quyển và môitrường sống của con người Vì vậy hoá học đất đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển của tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và sự bền vững của hệsinh thái Việc nắm vững bản chất của các phản ứng và các quá trình hoá học đất

ở mức độ nguyên tử, phân tử và vi mô là rất cần thiết nhằm khai thác và quản lý

có hiệu quả đất cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và điều chỉnhcác hoạt động của hệ sinh thái trên mặt đất trong phạm vi vùng và toàn cầu.Đất được phân chia thành nhiều loại khác nhau, trong đó có đất lâm nghiệp,

nó được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc là đất trống, đồi núitrọc được quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp Đất ở các khuvực khác nhau sẽ khác nhau về thành phần và tính chất của đất Theo Cục Kiểmlâm, tổng diện tích đất có rừng ở Việt Nam hiện nay là hơn 13,5 triệu ha, chiếm40,8% tổng diện tích đất của cả nước Chúng ta biết rằng đất rừng khác với đấtnông nghiệp và các loại đất khác ở điểm nó có khả năng tích lũy chất hữu cơ từvật rơi rụng (cành cây khô, lá rụng, thân cây, hoa, quả rơi rụng…) xuống đất.Thông qua quá trình chuyển hóa, mùn hóa và khoáng hóa tạo ra chất dinhdưỡng, đặc biệt là chất khoáng và đạm cung cấp cho quá trình sống của động,thực vật Qua phân tích thấy trong cây có 74 nguyên tố hóa học, trong đó có 16nguyên tố cần thiết nhất là C, H, O, N, P, K, Ca, Mg, Si, Fe, Zn, Cu, Mn, Mo,

Bo, Cl Ngoại trừ 3 nguyên tố đầu là C, H, O và một phần N được lấy từ khí trờithì N và 12 nguyên tố còn lại đều được cung cấp từ đất và được coi là dinhdưỡng cho cây

Nhưng hiện nay tài nguyên đất nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng trênthế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễmmặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu Nhiều diện tích đang dần bị

sa mạc hóa, làm cho diện tích đất hoang hoá và đất cát cằn cỗi tăng lên Đặc biệt

là nhóm đất cát biển (Arenosols), nó phân bố rộng rãi ở nhiều nơi và có xuhướng tăng nhanh về diện tích Điều kiện hình thành của nhóm đất này ở nước

ta là do phạm vi phân bố của nhóm đất cát biển trải dài từ Bắc Trung Bộ cho tớiNam Trung Bộ cho nên các yếu tố hình thành đất ở đây như các điều kiện khíhậu, thảm thực vật cũng có sự thay đổi nhất định theo từng vùng Ở phía Bắc cólượng mưa lớn tập trung vào các tháng 7, 8, 9 và càng đi vào Nam càng muộndần Lượng mưa trung bình trên 2000 mm/năm Ðặc biệt dải đất từ Ninh Thuậnđến Bình Thuận có điều kiện khí hậu khá đặc thù với nhiệt độ trung bình/ngày

cả năm cao (26-27oC) và lượng mưa thấp hơn nhiều so với lượng bốc hơi (lượng

Trang 11

mưa 600-1200mm; trong khi lượng bốc hơi 1300- 1700mm) điều kiện khí hậu ởđây đã góp phần tạo ra loại đất cát có màu đỏ Thực vật tự nhiên chủ yếu là các

loại thực vật chịu hạn như: cây Bắt mồi (Drosera burmani Vohl), cây Nắp ấm (Nepenthes anamensis), Sim (Rhodomyrtustomentosa), Mua đất, Cỏ gừng, Cỏ

dầy, Dứa gai Trên những vùng có điều kiện tưới nông dân có thể trồng đượclúa và một số cây hoa màu như khoai lang, lạc, thuốc lào, đậu đỗ, vừng, kê, ớt,năng suất tùy thuộc vào lượng nước mưa và lượng nước tưới hàng năm Theokết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học, sự hình thành đất cát biển ViệtNam liên quan mật thiết đến các hoạt động địa chất trong khu vực Phan Liêu(1978) cho rằng đất cát biển rất trẻ (từ kỷ đệ tứ đến hiện đại) Ðất cát biển đượchình thành từ hai quá trình chính đó là quá trình hoạt động địa chất của biển, vậnđộng nâng lên của thềm biển cũ (bằng chứng là các bãi vỏ sò, ốc ở Diễn Châu,Nghệ An) và quá trình bồi tụ tạo lập đồng bằng của hệ thống các con sông ngắn

ở miền Trung Do hệ thống sông miền Trung thường ngắn do phần lớn được bắtnguồn từ phía Ðông của dãy Trường Sơn chảy thẳng ra biển nên có độ dốc lớn,dòng chảy ở các con sông này rất mạnh do đó các sản phẩm lắng đọng lạithường là những hạt vật liệu thô chủ yếu là các hạt cát có kích thước khác nhau.Ngoài ra, về cấu tạo địa chất ở khu vực đầu nguồn phần lớn có cấu tạo đá mẹkhó phong hóa như các loại đá granit, riolit, cát kết nên chất liệu của các sảnphẩm phong hóa cũng thường rất thô Từ đó việc sử dụng cũng như biện phápcải tạo chúng được áp dụng khác nhau cho phù hợp và hiệu quả Ðất cát là loạiđất trong đó tỷ lệ cấp hạt cát lớn, có thể đạt tới 100 % Ðất cát có những ưunhược điểm sau:

+ Do các hạt có kích thước lớn nên tổng thể tích khe hở lớn, lớn nhất là khe

hở phi mao quản, từ đó nước dễ thấm xuống sâu và đồng thời cũng dễ bốc hơinên dẫn tới đất dễ bị khô hạn

+ Trong đất cát điều kiện ôxy hoá tốt nên chất hữu cơ bị khoáng hoá mạnhdẫn đến đất nghèo mùn

+ Ðất cát dễ bị đốt nóng vào mùa hè và cũng dễ mất nhiệt trở nên nguộilạnh vào mùa đông, bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật phát triển

+ Ðất cát rời rạc, dễ cày bừa giảm công làm đất, nhưng nếu mưa to hay tướingập, đất thường bị lắng rẽ, bí chặt

+ Ðất cát chứa ít Keo nên khả năng hấp phụ thấp, khả năng giữ nước giữphân (chất dinh dưỡng) kém Vì vậy nếu bón nhiều phân tập trung vào một lúc

Trang 12

cây sẽ không sử dụng hết, một phần lớn bị rửa trôi do đó gây lãng phí Trên đấtcát khi bón phân hữu cơ nhất thiết phải vùi sâu để giảm sự "đốt cháy".

+ Ðất cát thích hợp với nhiều loại cây trồng có củ như khoai lang, khoaitây, lạc Trong đất cát rễ và củ dễ dàng vươn xa và ăn sâu mà không bị chèn ép.Các cây họ đậu có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nên cũng có thể thích ứngtrên đất cát Một số vùng đất cát người ta còn trồng các loại: dưa hấu, dưa lê hayvừng, kê; thậm chí cây đặc chủng như thuốc lá cũng được trồng trên đất cát.Thực tế sản xuất trên đất cát, do cơ sở vật chất không cho phép chúng ta cải tạothành phần cơ giới bằng cách đưa sét vào Muốn đạt năng suất cao nhất chỉ cóthể bố trí những loại cây trồng phù hợp với đất cát đồng thời áp dụng những kỹthuật canh tác hợp lý

Để hạn chế tình hình suy thoái và cải tạo tài nguyên đất Một trong nhữngbiện pháp khắc phục hiện tượng này là trồng rừng phòng hộ, đặc biệt là rừngphòng hộ ven biển Theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, rừng phòng

hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chốngxói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu góp phần bảo vệmôi trường Phân theo vị trí có 3 loại rừng phòng hộ: rừng phòng hộ đầu nguồn,rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái Vai trò củarừng phòng hộ được thể hiện rất rõ trong các hệ sinh thái rừng thì đất rừng có độphì cao và hệ sinh thái của nó rất bền vững nhờ có tán rừng che chở bảo vệ vàluôn được bổ sung các chất dinh dưỡng hữu cơ từ việc phân huỷ và rễ lá rụng,thân và rễ của những cây chết Cũng nhờ có sự che phủ của rừng mà đất không

bị xói mòn, dung tích hấp thụ cao, phần lớn nước mưa được rừngvà đất rừng giữlại, thiên tai lũ lụt cũng được giảm nhiều Như vậy việc che phủ đất là rất quantrọng, nhất là các khu vực đất nhạy cảm như: đất đồi núi dốc dễ sạt lở và rửatrôi, đất cát ven biển,… Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tập đoàncây che phủ bảo vệ và cải tạo đất, đã có nhiều kết quả đáng khích lệ Nhiềuchủng loại cây được ứng dụng rộng rãi ngoài thực tế sản xuất và đã khẳng địnhđược vai trò trong việc bảo vệ và cải tạo đất như: Cốt khí, Muồng hoa vàng, Đậumèo, Đậu nho nhe và một số loại cỏ khác , đặc biệt là các loài cây họ Đậu.Những loài cây che phủ phải là cây đa tác dụng, sinh trưởng nhanh, sinh khốilớn, dễ tính, có bộ rễ khoẻ để phá vỡ đất rắn và khai thác dinh dưỡng từ sâutrong lòng đất, đồng thời phải dễ kiểm soát

Hiện nay diện tích đất cát nói chung và đất cát ven biển ở trên trái đấtchiếm diện tích tương đối lớn Nhưng phần lớn chúng chưa được sử dụng hoặc

Trang 13

sử dụng chưa hiệu quả, do đây là loại đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng, cùngvới điều kiện khí hậu và môi trường ở các khu vực đó rất khắc nghiệt Công táccải thiện môi trường ở những khu vực đang trở nên rất cấp bách, trong đó cầnchú trọng việc trồng rừng phòng hộ ven biển với mục đích chống gió hạn, chặncát bay, ngăn sự xâm nhập của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ cáccông trình ven biển Ngoài ra các loài cây sử dụng để trồng rừng phòng hộ venbiển còn phải có khả năng cải tạo đất Như vậy với những nghiên cứu về nhữngtính chất của đất, thành phần và số lượng vật rơi rụng ở hai khu vực trong rừngKeo lưỡi liềm và ngoài đất cát trống, cũng như việc nghiên cứu về những đặcđiểm đặc trưng của cây Keo lưỡi liềm trong đề tài sẽ là những thông tin quantrọng và có giá trị Tôi hi vọng sẽ làm được những điều đó, qua đó góp phầnđánh giá được khả năng cải tạo đất và tính thích hợp của loài Keo lưỡi liềm ởvùng đất cát ven biển của khu vực nghiên cứu và có thể áp dụng sang các khuvực khác

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người

có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của conngười như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người Tại Hội nghị LHQ

về môi trường con người họp năm 1972 tại Stockholm- Thụy Điển, các nhà khoahọc đã đi đến kết luận rằng, nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng về MTkhông phải là do phát triển mà chính là hậu quả của sự kém phát triển Tư tưởng

đó đã được thể hiện trong chiến lược phát triển 10 năm lần thứ nhất của LHQ.Chiến lược đã đề cập tới mối quan hệ giữa phát triển với môi trường, dân số, tàinguyên thiên nhiên, bảo vệ đất, bảo vệ rừng…

Trong qua trình sinh sống, con người càng ngày càng nhận thấy giá trị tolớn và không thể thiếu của đất Vì vậy con người càng ngày càng có nhiều hoạtđộng để sử dụng hiệu quả nhất nguồn tài nguồn này, trong đó có hoạt độngnghiên cứu khoa học về đất đang ngày càng phát triển và đạt được nhiều thànhtựu to lớn Sự phát triển của hoá học đất, cũng như nhiều khoa học khác đã bắtđầu từ xa xưa Đầu tiên đó là sự tích luỹ các kinh nghiệm và kiến thức tập thể vềcác đặc điểm của đất và các đặc tính của chúng theo mức độ phát triển của sảnxuất nông nghiệp Trong thực tiển của sản xuất nông nghiệp người ta đã sử dụngnhiều phương pháp hoá học để cải thiện tính chất đất Theo nhà thổ nhưỡng học– nhà sử học I A Krupenikov (Liên Xô) thì vào đầu những năm 2000 trước

Trang 14

công nguyên ở Atxyri, Babylon, Shumer người ta đã sử dụng nhiều biện pháp đểchống tái mặn hoá đất Cũng trong khoảng thời gian này nhân dân ở vùng trung

Mỹ đã sử dụng macnơ để giảm độ chua cho đất Trong thực tiễn sản xuất nôngnghiệp, từ rất lâu người ta đã nghiên cứu các đất chua và biết cách cải thiện tínhchất của nó Hơn 2000 năm về trước, ở Anh người dân đã biết sử dụng đá phấn,macnơ, sét cacbonat làm phân bón [3]

Từ thế kỷ 15 – 16 bắt đầu hình thành các khái niệm rõ hơn về đặc tính hoáhọc của đất, xuất hiện tài liệu tham khảo về nông nghiệp, trong đó đã hệ thốnghoá các kiến thức tích luỹ được và dẫn ra các thông tin về các thực nghiệm đầutiên nghiên cứu các đặc tính hoá học đất Năm 1580 ở Pháp đã xuất hiện cuốnsách của B Palissi viết về macnơ Trong sách này không chỉ mô tả các loạimacnơ khác nhau và các mỏ của chúng mà còn dẫn các quy phạm điều tra mỏ,khai thác macnơ và bón phân cho đồng ruộng Nhà triết học duy vật, nhà hoạtđộng quốc gia người Anh F Bekon (1561 - 1626) đã có đóng góp to lớn trongnghiên cứu đất Dựa trên kinh ngiệm của nhân dân F Bekon đã đặt thí nghiệmchuyên môn và làm giảm được độ mặn của nước biển sau khi cho nó đi qua 20bình có đất Đây là nghiên cứu thực nghiệm đầy tiên về khả năng hấp thụ củađất [4]

Những nghiên cứu một cách hệ thống đầu tiên về các đặc tính hoá học củađất và các chất cấu thành của nó thuộc thế kỷ 18 Nhiều nghiên cứu cuối thể kỷ

18 - đầu thế kỷ 19 có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình phát triển sau này củakhoa học Cơ bản là việc nghiên cứu ba vấn đề quan trọng nhất: mùn đất, khảnăng hấp thụ của đất và lý thuyết về dinh dưỡng khoáng của thực vật Trong cácvấn đề quan trọng này phải kể đến công trình của F Ahard (1786) là người đãnhận được dung dịch màu nâu thẫm khi tác động dung dịch kiềm vào trong đất

và than bùn Thêm axit sunfuric vào dịch chiết kiềm gây ra sự kết tủa màu đen.Sau này ta gọi chất màu đen đó là axit humic, còn phương pháp chiết rút nó doAhard sử dụng với một vài cải tiến vẫn còn được giữ đến ngày nay [4]

Việc tiến hành các thử nghiệm tách và phân tích các hợp chất hữu cơ cómàu nâu thẫm đặc trưng từ đất ở một mức độ nhất định gắn liền với học thuyếtmùn dinh dưỡng của thực vật do nhà bác học Thuỷ Điển Y Vallerius đưa ratrong cuốn sách “Các cơ sở của hoá học nông nghiệp” Ông cho rằng mùn là hợpchất dinh dưỡng chính đối với thực vật, còn các phần cấu thành khác của đất chỉtạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự hấp thụ mùn của thực vật Giáo sư của đạihọc tổng hợp Beclin A Teier cũng đi theo học thuyết này nhưng sau các nghiên

Trang 15

cứu của Z B Bussengo ở pháp và Iu Libikh ở Đức các nhà nông hoá học khôngcòn công nhận thực vật có khả năng đồng hoá trực tiếp các hợp chất hữu cơphức tạp của đất, mặc dù sau đó vấn đề này vẫn gây ra nhiều tranh cãi Cácnghiên cứu của những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, với việc sử dụng các hợp chấtmùn được đánh dấu C14 đã khẳng định khả năng thực vật hấp thụ các axit mùn

có khối lượng phân tử cao qua hệ thống rễ Cần nhấn mạnh rằng ở các thế kỷ 18

và thế kỷ 19 các vấn đề hoá học nông nghiệp và hoá học đất nói riêng là trungtâm chú ý của nhiều nhà hoá học vĩ đại Trong số đó có I A Bertselius, người

đã nghiên cứu chi tiết các đặc tính của axit mùn Trong “Sách giáo khoa hoáhọc” (1839) Bertselius đã dành hẳn một chương lớn cho hoá học hợp chất mùn.Ông nghiên cứu các quá trình biến đổi tàn dư thực vật thành mùn, mô tả đặc tínhcủa các axit mùn tách được và các hợp chất của chúng với kali, natri, amoni,bari, canxi, magiê, nhôm oxit, mangan, sắt, chì, đồng, thuỷ ngân và bạc [4]

Sự phát triển các hiểu biết về các đặc tính chua của đất thuộc về đầu thế kỷ

19 Vào năm 1813 đã xuất bản cuốn sách của nhà hoá học người Anh GemfrDevi (1778 - 1829) “Các cơ sở của hoá học nông nghiệp” Trong cuốn sách nàyông đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của vôi Theo ông, vôi hoà tan nguyên liệuthực vật, hơn nữa còn có tác dụng cải thiện các điều kiện dinh dưỡng của thựcvật và thúc đẩy việc tạo thành cấu trúc tốt cho đất Nhà nghiên cứu người Mỹ E.Ruffin đã thử áp dụng phương pháp của Devi cho các đất ở Mỹ và nhờ các thínghiệm này mà ông đã rút ra kết luận rằng: vai trò của bón vôi là trung hoà độchua của đất Mặc dù cuốn sách của Ruffi “Các nghiên cứu về phân bón có vôi”

đã được xuất bản năm 1832 nhưng chỉ đến đầu thế kỷ 20 các nhà nghiên cứu về

độ chua đất mới được tiếp tục [4]

Những nghiên cứu thực nghiệm trong thế kỷ 20 gắn liền các vấn đề về độchua của đất, khả năng hấp thụ của đất, hoá Keo đất, dung dịch đất, cơ sở hoáhọc và sinh học của quá trình mùn hoá Đầu tiên các nghiên cứu hệ thống bảnchất của độ chua đất gắn liền với các công trình nghiên cứu được công bố củanhà nghiên cứu người Mỹ T P Veitr (1904) và nhà bác học người Nhật G.Daikuhara về tương tác của độ chua với muối trung tính NaCl (hoặc muối tươngtự) Bản chất của phản ứng xảy ra khi đó đến nay vân còn được tranh luận, đãtừng tồn tại hai giả thuyết đối nghịch nhau giải thích bản chất của độ chua traođổi Một giả thuyết là giả thuyết Hydro trao đổi giải thích độ chua bằng sự cómặt của các ion Hydro có khả năng trao đổi và sự xuất hiện dung dịch chiết Al3+

gắn liền với phản ứng hoà tan sau đó các hợp chất của nhôm Giả thuyết thứ hai

Trang 16

là giả thuyết nhôm trao đổi mà bản chất của nó là công nhận sự chiết trực tiếp

Al3+ trao đổi và sự làm chua hoá sau đó dung dịch cân bằng do sự thuỷ phân củacác muối nhôm Các nhà bác học V A Xokolov, H Kapen, K Marshall… đãphát triển giả thuyết nhôm trao đổi Nghiên cứu về vấn đề này đã được nhà báchọc Liên Xô V A Trernov hoàn thành cuốn sách “Về bản chất độ chua đất”(1947) của ông đã quyết định hướng nghiên cứu tiếp theo được thực hiện trongnhững năm sau bởi các nhà khoa học nổi tiếng của nhiều nước Sự phát triển tiếptheo các vấn đề độ chua gắn liền với các vấn đề cấp bách hiện nay là độc đối vớithực vật và vấn đề sinh thái được trình bày trong chuyên khảo của các nhà khoahọc người Bungari T Palaveev và T Totev “Độ chua của đất và cách khắcphục” (1983) [4]

Sự phát triển tiếp theo của các nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu Keođất và khả năng hấp thụ của đất gắn liền chặt chẽ với tên tuổi của viện sĩ K K.Gedroits (1872 – 1932), ông là nhà bác học, nhà nông hoá học, nhà lý hoá học,nhà thổ nhưỡng học xô viết nổi tiếng đã tạo ra cơ sở hoá học và phân tích hoáhọc đất Các nghiên cứu của ông đều hướng tới nắm vững đất để điều khiển cácđặc tính của nó, nâng cao độ phì nhiêu đất và năng suất cây trồng Ông có rấtnhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực này, năm 1922 xuất bản cuốn sách “Họcthuyết về khả năng hấp thụ của đất”, năm 1923 ông cho xuất bản cuốn sách

“Phân tích hoá học đất”, năm 1925 ông đưa ra nguyên tắc phân loại đất trên cơ

sở thành phần cation hấp thụ, đã soạn thảo giả thuyết lý hoá học phát sinh củađất solonet Trong nhưng năm đầu tiên của thế kỷ 20 nhà bác học Thuỵ Sĩ G.Vigner (1833 – 1935) và nhà bác học Thuỵ Điển S E Mattson (1886 – 1945) đãđóng góp rất nhiều cho lý thuyết hoá Keo đất và sự trao đổi ion Trong nhữngnăm 30 - 40 của thế kỉ 20, các nhà khoa học tăng cường nghiên cứu khả năngcủa hấp thụ của đất gắn liền với việc mở rộng sử dụng các loại phân khoáng, sửdụng và cải tạo các đất solonet và đất bị mặn hoá, tìm tòi các phương trình mô tảquy luật trao đổi cation trong đất [4]

Nghiên cứu về mùn diễn ra rất mạnh trong những năm 1940 - 1950 đến naydưới ảnh hưởng viện sĩ I V Tiurin và các học trò của ông Ivan VladimirovitrTiurin (1892 – 1962) là nhà thổ nhưỡng, nhà di truyền học và nhà thổ nhưỡng –hoá học Xô Viết vĩ đại Ông đã đưa ra hệ thống hoàn chỉnh các quan điểm vềchất hữu cơ đất, nghiên cứu các phương pháp xác định các hợp chất hữu cơ củacacbon và nitơ trong đất, xác định mùn theo phương pháp Tiurin là nhưngphương pháp chủ yếu hiện nay và được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí

Trang 17

nghiệm Trong những năm 1970 – 1980 nhiều nhà khoa học Xô Viết đã tiếp tụctham gia vào các nghiên cứu mùn đất Họ đã đưa ra được nhiều công thức mớicủa axit humic và người ta đã tìm cách giải quyết vấn đề các thông số của hợpchất humic [4]

Sự phát triển như vũ bão của công nghiệp, giao thông vận tải, việc sử dụngrộng rãi phân bón, các chất dộc hoá học đã đặt hoá học đất vào một nhiệm vụmới Đó là ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ công nghệ hoá học xung quanhmôi trường, trong đó có đất Trong số các chất gây ô nhiễm đất có các sản phẩmcháy của nhiên liệu khác nhau, các khí thải của các xí nghiệp, nhà máy ản xuấtcông nghiệp, nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, sự rửa trôi các thànhphần của phân bón và nhiều nguyên nhân khác Hiện nay các nhà khoa học đangtập trung tìm tòi các cách ngăn ngừa tác động độc hại của các chất ô nhiễm đếnnăng suất, chất lượng của sản phẩm, nghiên cứu các biện pháp cải tạo đất bị ônhiễm [4]

Ở các nước phát triển trên thế giới việc nghiên cứu ảnh hưởng của rừngtrồng đến môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Vai trò

và lợi ích của rừng trong việc phòng hộ và cải thiện môi trường được giới thiệunhiều trong các tài liệu khoa học và diễn đàn Quốc tế Nhất là các khu rừngphòng hộ ven biển, để khắc phục hiện tượng cát bay, cát chảy và hạn chế gióbão Thực tế ở tất cả các quốc gia có đường bờ biển trên thế giới đều có hệ sinhthái vùng cát ven biển, các bãi cát và cồn cát ven biển là vùng đệm an toàn giữabiển và đất liền và rất dễ bị tổn thương do hoạt động của con người cũng như dothay đổi chế độ động lực biển và khí hậu

Theo Mc Harg (1972), các dải đất cát ven biển là một dạng công trình thiênnhiên có tác dụng hấp thu năng lượng từ gió, thuỷ triều và sóng, qua đó bảo vệcác vùng đất phía trong Các vùng đất cát ven biển tại các châu lục khác nhau,tuy cách xa về mặt địa lý nhưng đều được xếp vào cùng một dạng hệ sinh tháiđặc thù do có chung một số đặc điểm như: kết cấu rời rạc, độ phì thấp, khả năngtrữ nước và chất dinh dưỡng kém, thảm thực vật chủ yếu là các loại cây bụi cókhả năng chống chọi lại các điều kiện khắc nghiệt (Moreno - Casasola, 1982) Trước thực trạng biến đổi khí hậu, sự mất đi của rất nhiều diện tích rừng trênthế giới đã làm cho nguồn không khí bị ô nhiễm không khí, thảm họa thiên taidiễn ra hết sức nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng sa mạc hóa, cạn kiệt nguồnnước ngọt, sự xâm thực của cát vào đất liền và nước biển dâng cao đang đặt ra rấtnhiều thách thức cho các nhà khoa học ở tất cả các quốc gia

Trang 18

Nhiều loài cây trồng đã được đưa vào khảo nghiệm nhằm mục đích cải tạođất, ngăn chặn hiện tượng sa mạc hóa ở các vùng cát khô hạn, trong đó các loài

Keo (Acacia) rất được quan tâm chú ý và được đưa vào trồng rừng ở nhiều quốc

gia trên thế giới vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất,chống xói mòn và cho năng suất cao

Một trong những loài Keo có nguồn gốc mọc tự nhiên ở Úc đang rất đượcnhiều nước ở khu vực châu Á nghiên cứu và đưa vào trồng trên vùng đất cát ven

biển là loài Keo lá liềm (A crassicarpa) Theo những nghiên cứu chính thức của

Trung tâm giống cây Lâm nghiệp Úc (ATSC) từ năm 1980 đến năm 1993, loài

A crassicarpa đã chứng minh sự tồn tại và sức mạnh tuyệt vời trong một loạt

các thử nghiệm trong vùng nhiệt đới ẩm, và đã được nhóm các nhà tư vấn, tài trợNghiên cứu và phát triển Keo (COGREDA) ở khu vực Đông Nam Á ghi nhận làloài có khả năng phát triển hiệu quả

Trong thời gian 15 năm trở lại đây, Keo lá liềm đã được nghiên cứu đưavào trồng ở một số nước Đông Nam Á và châu Phi, và nó đã chứng tỏ là mộttrong những loài cây trồng lâm nghiệp mới có nhiều hứa hẹn cho các vùng đấtcát ven biển, các vùng đất bị suy thoái

- Tại Queensland, Australia và Papua New Guinea:

Ban đầu, Keo lá liềm được trồng và phát triển mạnh mẽ trên đất bị suythoái sau khi trồng và đốt slash ở Papua New Guinea, chính những khả năng đặcbiệt của loài Keo này nên nó đã được trồng và phát triển mạnh về phía Bắc củaquần đảo

Những nghiên cứu chính thức đã được ATSC đưa vào nghiên cứu để thuầnhóa loài cây phục vụ cho mục đích thương mại từ năm 1980 theo chương trìnhtài nguyên di truyền và cải thiện giống cây có sự hỗ trợ của tổ chức Cơ quanPhát triển Quốc tế Úc (AusAID), Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế

Úc (ACIAR) và Bộ lâm nghiệp Papua New Guinea Đến năm 1993, loài A crassicarpa đã chứng minh sự tồn tại và sức mạnh tuyệt vời trong một loạt các

thử nghiệm trong vùng nhiệt đới ẩm và đã được ghi nhận bởi nhóm tư vấn cácnhà tài trợ cho Nghiên cứu và phát triển Keo (COGREDA) ở khu vực ĐôngNam Á [8]

Sau hơn 15 năm nghiên cứu và thử nghiệm, đến nay các chương trìnhnghiên cứu của ATSC vẫn đang tiếp tục với mục đích đi sâu vào nghiên cứuphân tử đa dạng di truyền của loài Keo này, đưa loài cây này thành cây lâmnghiệp ưu tiên phát triển ở vùng đất cát ven biển các nước trong khu vựcChâu Á

Trang 19

- Tại Thailand:

Nghiên cứu sinh trưởng của các loài Keo trên 6 vùng sinh thái khác nhausau 36 tháng tuổi, sinh trưởng của các loài này có sự sai khác rõ ràng, trong đó 2loài là A crassicarpa, A auriculiformis thể hiện sinh trưởng tốt nhất Loài Keochịu hạn sinh trưởng chậm hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm về cả chiều caocũng như đường kính Sinh khối khô và tươi của Keo chịu hạn cũng thấp hơnKeo tai tượng và Keo lá tràm

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề môi trường rừng đã được khởi động từ khá lâu Tuynhiên do nhiều lý do Các nghiên cứu về môi trường rừng chưa được chú ý xứngđáng với vị trí của nó Những năm gần đây, vấn đề môi trường rừng mới đượcxem xét nghiêm túc trở lại Tuy nhiên do điều kiện kinh tế của nước ta cũng nhưkhó khăn chung của toàn xã hội Vấn đề nghiên cứu môi trường nói chung vàmôi trường rừng nói riêng vẫn còn rất nhiều bất cập và cần thiết phải có nhiềucông trình nghiên cứu

Theo PGS.TS Lê Văn Thăng trong Giáo trình Khoa học môi trường đạicương, thì môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.Mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt độngsống như: nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, Mỗi ngày mỗi ngườicần trung bình 4 m3 không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống, một lượnglương thực, thực phẩm tương ứng 2000 - 2500 calo Tuy nhiên, hiện nay khônggian này ngày càng bị thu hẹp (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới

Trang 20

Dân số (triệu người) 1,0 5,0 20

0 545

1.000

2.000

5.000

7.000

Cũng tương tự trong tổng kết nghiên cứu nhiều năm Thái Phiên và Nguyễn

Tử Siêm 1994, Lê Quốc Doanh – Hà Đình Tuấn cùng các cộng sự khẳng địnhvai trò không thể thay thế được các biện pháp sinh học trong việc ngăn chặn vàphục hồi sự thoái hóa của đất dốc

Như chúng ta đã biết, hầu hết các loại đất bị suy thoái đều có đặc điểm đặctrưng là nghèo kiệt chất hữu cơ trong đất, dẫn đến đất xuất hiện nhiều tính chất

lý hóa và sinh học xấu của đất như mất kết cấu, khả năng giữ ẩm kém, khả nănghấp phụ thấp, hàm lượng dinh dưỡng đất (độ phì nhiêu đất) thấp Nguyên nhânchính của nhiều loại đất bị suy thoái như ngày nay là do bị khai phá mất lớpthảm thực vật ban đầu (khai hoang phá rừng làm nương rẫy), sử dụng triệt đểcác nguồn và các sản phẩm hữu cơ của đất trong sản xuất mà không trả lại chođất lượng hữu cơ nào, không bón hoặc bón rất ít phân hữu cơ cho cây trồng,không đủ lượng hữu cơ đã lấy đi của đất Vì vậy, một trong những biện phápquan trọng nhất và được chú ý nhất nhằm phục hồi đất bị suy thoái là biện phápsinh học/hữu cơ Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tiễn trong việc phục hồi đất

đã bị suy thoái bằng biện pháp này đã chứng minh rằng sau một thời gian ngắn,đất được phục hồi độ phì và khả năng sản xuất rõ rệt Hơn nữa, với điều kiện khí

Trang 21

hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, các loại cây trồng và thực vật sinh trưởngphát triển mạnh, đã tạo sinh khối lớn, trả lại chất hữu cơ cho đất, đó là:

- Tàn tích hữu cơ: rễ cây, thân lá rụng, rơi vào đất, được để lại đất sau thuhoạch

- Các hệ thống trồng trọt luân canh, xen canh, trồng theo băng giữa câytrồng chính và cây cải tạo đất là cây phân xanh, cây họ đậu

- Các hệ thống nông lâm kết hợp giữa cây dài ngày và cây ngắn ngày bổsung chất hữu cơ cho nhau và cho đất

- Các phương thức bổ sung chất hữu cơ cho dất như bón phân hữu cơ, phủvật liệu hữu cơ cho cây trồng chính, trồng cây phủ đất đa tác dụng cho cây trồngchính

Trong những năm gần đây, trên thế giới và ở nước ta, các công trình nghiêncứu khoa học và ứng dụng các biện pháp cải tạo, phục hồi và bảo vệ đất nôngnghiệp bằng hữu cơ/sinh học đã và đang phát triển và được gọi là nông nghiệphữu cơ Nông nghiệp hữu cơ không chỉ có tác dụng bảo vệ đất, phục hồi đất đã

bị thoái hóa, mà còn có tác dụng duy trì một nền nông nghiệp bền vững và antoàn về môi trường Xin giới thiệu một số các báo cáo kết quả nghiên cứu khoahọc và ứng dụng biện pháp này của các tác giả thuộc các cơ quan nghiên cứu đất

và nông nghiệp khác nhau ở viện, trường, trung tâm, trạm, trại

- Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc với Dự án 327 của thập kỷ

90 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)

- Chương trình định canh định cư và Dự án 5 triệu ha rừng

- Chương trình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng

- Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông lâm nghiệp

- Chương trình nghiên cứu các mô hình sử dụng và bảo vệ đất dốc của cácviện, trường đại học (Chương trình SALT, Dự án IBSRAM, Dự án sử dụng đấtbền vững vùng Tây Bắc, Dự án canh tác đất dốc vùng miền núi Bắc Việt Nam)

- Mô hình nông lâm kết hợp (Nguyễn Ngọc Nông, trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên): Cây ăn quả (vải, nhãn, quýt); cây lâm nghiệp (mỡ, lát); câyhoa màu ngắn ngày (ngô và đậu tương); và các băng cây phân xanh (cốt khí,muồng) Kết quả sau hai năm cho thấy: độ phì đất được cải thiện rõ, trong đóhàm lượng mùn (1,99% lên 2,70%), đạm tổng số (0,11% lên 0,14%) và các chấtdinh dưỡng dễ tiêu đều cao hơn các so sánh khác (tăng gấp hai lần) do phương

Trang 22

thức trồng các cây nông lâm kết hợp cùng các băng cây phân xanh đã giảm xóimòn rửa trôi, trả lại cho đất một phần chất hữu cơ Lượng đất bị xói mòn giảmđáng kể, chỉ còn khoảng 8 tấn đất/ha/năm, chỉ bằng 1/4 lượng đất bị xói mòn ởphương thức canh tác trồng ngô thuần Năng suất chất xanh trả lại cho đất từbăng phân xanh: băng cốt khí là 5,4 đến 6,0 tấn/ha; băng muồng là 5,0 đến 5,6tấn /ha Mỗi năm lượng dinh dưỡng của các cây phân xanh bổ sung cho đấtkhoảng 20 - 30 kg đạm, 2 - 4 kg lân và 17 - 28 kg kali.

- Nghiên cứu biện pháp sinh học để cải tạo/phục hồi đất đồi bị suy thoáisau nhiều năm trồng bạch đàn (Phạm Tiến Hoàng, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa):

Mô hình gồm trồng cây lâm nghiệp trên đỉnh đồi (Keo tai tượng, Keo lá tràm);cây phân xanh phủ đất (cốt khí, đậu mèo, đậu công); cây ăn quả (cây vải); câyđậu đỗ lấy hạt (lạc, đậu đen) Đất đồi trồng bạch đàn chu kỳ II bị thoái hóanghiêm trọng, đã bị kết đá ong hóa đến 20-30%, đất khô kiệt chai cứng, mất khảnăng thấm nước và giữ nước, hàm lượng dinh dưỡng của đất nghèo kiệt từ trênđỉnh đồi xuống chân đồi Sau 3 năm thí nghiệm kết quả cho thấy: các loại câylâm nghiệp sang năm thứ 3 đã sinh trưởng phát triển tốt, góp phần ngăn xói mònrửa trôi đất và giữ ẩm đất Lá cây góp lượng hữu cơ vào đất Các loại cây phânxanh phủ đất và cây lấy hạt họ đậu từ năm thứ hai đã trả lại cho đất một lượngchất xanh giàu dinh dưỡng đáng kể: cốt khí là từ 10 đến 20 tấn/ha/năm, 20 đến

25 tấn/ha/năm đối với đậu mèo, 12 đến 15 tấn/ha/năm đối với cây lạc Nhữngtính chất lý hóa học của đất đồi cũng được cải thiện, đáng kể là độ ẩm đất, hàmlượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng NPK, dung tích hấp thu, độ xốp đất…

Tại viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiếnhành đề tài “Nghiên cứu, đánh giá khả năng che phủ, bảo vệ, cải tạo đất và xâydựng quy trình trồng cây lạc dại - LD99 (Arachis pintoi) ở Vùng miền núi phía

Bắc”, đề tài sẽ góp phần nghiên cứu và phát triển một cây trồng có nhiều tiềm

năng trong phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng đất dốc, đặc biệt là các tỉnhmiền núi

Những nhận thức đúng đắn về sự suy giảm không gian sống và môi trườngsống bị suy thoái, đã giúp con người có chính sách và hoạt động tích cực hơntrong vấn đề này Trong đó có việc quản lý, sử dụng hợp lý và nâng cao giá trịcủa đất cần được chú trọng Bằng những nghiên cứu và áp dụng các mô hìnhtrồng cây ở các khu vực khác nhau để có hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thờiphải có tác dụng phòng hộ cao.Trong công tác này thì chúng ta cũng đã đạt được

Trang 23

nhiều thành tựu to lớn khi đã phân loại được các loại rừng phòng hộ khác nhau,như ở Việt Nam rừng phòng hộ được chia thành 4 loại chính là:

- Rừng phòng hộ đầu nguồn;

- Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;

- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;

- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái

Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp,quá trình biến đổi khí hậu diễn ra tốc độ nhanh Theo cảnh báo của Tổ chức LiênHợp quốc thì nước ta là một trong những quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởnglớn nhất do biến đổi khí hậu gây nên, mà các tỉnh ven biển trung Trung bộ là nơiphải hứng chịu nhiều nhất những tổn thất do thiên tai gây ra Hàng năm các địaphương này phải đối mặt với thiên tai, nắng nóng, bão, lũ lụt, áp thấp nhiệt đới;

hệ thống rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển bị thu hẹp do khai khoáng,nuôi trồng thủy sản làm tăng nguy cơ cát bay, cát chảy, xâm thực mặn đã đẩynhanh quá trình sa mạc hóa, hoang mạc hóa Ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đờisống của nhân dân, môi trường sinh thái ven biển đang bị suy thoái Nên việctrồng rừng phòng hộ ven biển càng trở nên cấp bách hiện nay và đã đạt đượcnhiều kết quả tích cực

Trồng mới được gần 50.000 ha rừng phòng hộ ven biển theo tin từ CụcLâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Mới đây, lần đầu tiên cómột công trình nghiên cứu “Xây dựng rừng phòng hộ trên đất cát ven biển” doViện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam chủ trì Đưa ra các tiêu chí về phân vùngphòng hộ, phân chia lập địa, trạng thái rừng phi lao , nghiên cứu này là cơ sở

để quy hoạch cả hệ thống đai rừng phòng hộ đối với vùng cát khắc nghiệt và vôcùng xung yếu của nước ta “Nét mới của công trình nghiên cứu này là đã địnhlượng được một số chỉ tiêu về năng lực phòng hộ và tác dụng sinh thái của cácđai rừng” do TS Đặng Văn Thuyết, chủ nhiệm công trình Các tiến bộ kỹ thuật

về phân vùng phòng hộ, việc lựa chọn và thử nghiệm các loài cây trồng phù hợpcho từng vùng phòng hộ có trong nghiên cứu này có thể áp dụng cho vùng cátven biển Bắc Trung Bộ, vận dụng phát triển cho toàn vùng cát ven biển nước ta.Tham gia nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng nên tranh thủ nguồn vốn củacác chương trình, dự án trong và ngoài nước, kết hợp với địa phương chuyểngiao kỹ thuật mới, xây dựng mô hình trình diễn và triển khai trên diện rộng.Điều không kém quan trọng là cần nghiên cứu bổ sung hệ thống đai rừng phòng

Trang 24

hộ điển hình cho các vùng phòng hộ, nhóm dạng lập địa Rừng này bao gồm cảcây cao ở trên, cây nhỡ ở giữa và cây bụi ở dưới để tạo đai rừng có kết cấu tán

từ dưới sát mặt đất cát lên phía trên Hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường củacông trình đã rõ Các vấn đề được phát hiện và kết quả nghiên cứu đã được traođổi, chuyển giao cho các cơ quan, cán bộ, người dân vùng cát ven biển - lànhững nơi thực hiện nghiên cứu Cụ thể, các đai rừng phi lao, Keo lá tràm trồngtrên các dạng lập địa bãi cát, trên líp trong khu vực canh tác nông nghiệp, có thểchặt khai thác ở tuổi 7 - 10, mỗi ha thu được 9,7 - 10 triệu đồng Khai thác xong

có kế hoạch trồng lại rừng mới Đai rừng phi lao hay Keo Acacia difficilis, Acacia torulosa 3 tuổi trồng trên đụn cát bay với mật độ 5.000 cây/ha, bề rộng

đai 100m có tác dụng làm giảm tốc độ gió ở sau đai rừng 10m tới 0,7 - 0,8 lần sovới tốc độ gió ở trước đai rừng 10m, giảm lượng cát bay 2,4 - 4,2 lần, tăng độ

ẩm không khí 2,1 - 3,7%, giảm nhiệt độ không khí 0,9 - 20, trả loại đất tới 240g/m2 lá rụng và cải thiện tính chất hóa học đất so với nơi trống Với công trìnhnghiên cứu này, không chỉ các nhà khoa học mà rồi đây, người dân vùng biển sẽbiết rất rõ về giá trị to lớn của rừng phòng hộ ven biển Nó ngăn chặn tình trạngbiển xâm thực, cát bay cát chảy vào khu dân cư, lại bảo vệ được môi trường sinhthái ở những miền quê nắng nóng khốc liệt

Còn với nghiên cứu khoa học “Phân vùng phòng hộ vùng cát ven biển bắctrung bộ” của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã chỉ ra rằng: do địa hìnhphức tạp, đất cát ven biển tồn tại ở dạng đụn cát, cồn cát và bãi cát với địa mạokhác nhau; đất cát khô, rời rạc, dễ bị di động do gió thổi và nước chảy kéo cáttrôi Vì vậy, vùng cát ven biển Bắc Trung bộ là vùng đất đã và đang bị sa mạchóa do nạn cát di động nhưng mỗi phân vùng lại có mức độ xung yếu khác nhau.Bài viết này nhằm đưa ra những cơ sở phân chia và kết quả phân vùng phòng hộtheo mức độ xung yếu cho vùng cát ven biển, giúp các địa phương xây dựng kếhoạch, quy hoạch và có giải pháp phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trongvùng đạt hiệu quả cao

Cùng với Nghiên cứu phát triển đai rừng phòng hộ, kết hợp sản xuất nônglâm nghiệp bền vững tại dải ven biển thuộc Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị doBan Khoa học và Công nghệ địa phương phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu vàPhát triển Vùng (Bộ KH&CN), Sở KH&CN Hà Tĩnh phối hợp thực hiện Đểhạn chế các thiệt hại do thiên tai gây ra, việc quy hoạch, hoàn thiện hệ thốngrừng phòng hộ, phòng chống lại sự xâm hại của sóng, gió biển và hiện tượng cát

Trang 25

bay, cát chảy, cải thiện môi trường, cần có các giải pháp khoa học và công nghệ

để phục hồi, bảo vệ và phát triển bền vững

Như vậy ta có thể thấy việc phân loại và phân vùng các loại rừng phòng hộnói chung và rừng phòng hộ ven biển nói chung là rất quan trọng Nhưng songsong với nó chúng ta cần xây dựng được hệ thống cây trồng thích hợp với cácvùng đất khác nhau, nghiên cứu để tìm ra kỹ thuật thâm canh trồng rừng phùhợp với từng cây và mục tiêu của sản phẩm Xây dựng các biện pháp kỹ thuậtthích hợp với các loài cây đó Nhất là ở khu vực đất cát ven biển, vì đây là vùng

có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng và khôcằn… Trong công tác này chúng ta cũng đã đạt được nhiều kết quả có giá trịthực tiễn cao, hiện đang được áp dụng và nhân rộng ở nhiều khu vực

Trong những năm gây đây Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) đã tiếnhành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nướcnhiệt đới CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là bạch đàn, thông,Keo trồng thuần loại trên các dạng lập địa ở các nước Brazil, Công Gô, NamPhi, Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ và nay bắt đầu nghiên cứu ở Việt Nam Kếtquả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài câytrồng khác nhau đã có ảnh hưởng rất khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước,

sự phân huỷ thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng

Ở Việt Nam, đặc biệt trong khoảng 10 năm gần đây, với sự phối hợp củaViện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các trung tâm giống cây Lâm nghiệpcủa các tỉnh đã thực hiện thành công nhiều nghiên cứu, mô hình thí nghiệm như:

Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài Bạch Đàn Eucalptus camaldulensis, Eucalyptus pellita và các loài Keo: Acacia crassicarpa, Acacia aulacocarpa, trồng thử nghiệm 3 năm tuổi tại trạm thực nghiệm Mang Yang,

tỉnh Gia Lai

Nhà giáo ưu tú Đỗ Xuân Cẩm cũng có rất nhiều nghiên cứu đóng góp tronglĩnh vực này như nghiên cứu về đa dạng sinh học và khả năng tận dụng các loàicây bản địa làm nguồn vật liệu phát triển rừng phòng hộ ven biển miền trung,Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng phát triển hệ thống cây lâm nghiệp trên vùngcát ven biển Thừa Thiên Huế nhằm tận dụng nguồng gen bản địa hiện hữu trongcác quần thể thực vật của vùng cát ven biển, phân loại, chọn lọc để làm vật liệuphục hồi các hệ sinh thái ven bờ nói chung và kiến tạo những dải rừng hỗn giaocây bản địa phòng hộ bền vững cho các điểm xung yếu bờ biển miền trung nóiriêng, thì sẽ góp phần đáng kể vào việc khắc phục những hậu quả của suy thoái

Trang 26

đa dạng đa dạng sinh học cục bộ và sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã được cảnhbáo Đồng thời xác định tiềm năng nguồn gen cây lâm nghiệp phục vụ chiếnlược phát triển rừng phòng hộ bền vững ven biển Còn trong cuốn sách Một sốloài cây che phủ đất đa dụng phục vụ phát triển nông lâm nghiệp vùng cao củaTh.S Hà Đình Tuấn giới thiệu một số loài cây đang được áp dụng thành côngtrong bảo vệ và cải tạo đất ở vùng núi phía Bắc Việt Nam.

Còn ở tỉnh Quảng Trị với sự hỗ trợ của dự án nâng cao năng lực thích ứngvới biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư đã thực hiện “Nghiên cứu có sự thamgia về kinh nghiệm thực tiễn của người dân trong cải tạo đất cát để thích ứng vớibiến đổi khí hậu tại tỉnh Quảng Trị” Nghiên cứu được thực hiện tại hai xã TriệuVân và Hải Quế thuộc tỉnh Quảng Trị từ năm 2009 – 2010, là nơi chịu ảnhhưởng nhiều của biến đổi khí hậu như hạn hán và lũ lụt, làm cho đất canh tácngày càng bị thoái hóa, kéo theo nhiễm mặn và chua phèn Để thích ứng vớibiến đổi khí hậu và đất nghèo dinh dưỡng, người dân tại hai xã đã áp dụngnhững kinh nghiệm trong cải tạo đất cát như: bón phân hữu cơ, bón vôi, bónphân cân đối, sử dụng cây trồng hợp lý, trồng cây họ đậu, cây phân xanh, chephủ đất,… mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Ở tỉnh Hà Tĩnh thì có dự án “Xây dựng mô hình phát triển bền vững trêncồn cát hoang hoá ven biển” với sự tham gia của GS.TS Nguyễn Vy, do “Quỹmôi trường toàn cầu” GEF tài trợ cùng với nguồn kinh phí nghiên cứu và đưatiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của tỉnh đã đạt được thành công bước đầu khá rõnét Mới chỉ qua hơn một năm, cảnh quan đã hoàn toàn đổi khác, những cồn cáttrắng xám nhấp nhô đã biến mất Có những cây trồng cho năng suất chẳng kém

gì trên đất thuần thục Cây Keo lai với chức năng cây rừng mới đầy năm mà đãxanh tốt, bình quân chiều cao gấp 5 lần so với nhiều vùng lân cận Rễ cây rừngnày tích luỹ trong đất một nguồn hữu cơ không nhỏ, lại có tác dụng giữ nước,giữ phân đáng kể

Đặc biệt trong nhưng năm gần đây với việc tiến hành điều tra tập đoàn cây

trồng và xây dựng mô hình trồng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên cát

nội đồng vùng Bắc Trung Bộ của trung tâm khoa học sản xuất Bắc Trung Bộ vàxây dựng nhiều mô hình thử nghiệm tai các tỉnh miền trung như: Quảng Bình,

Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế… Đã xác định được loài Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) có khả năng thích nghi rộng nhất, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt

trên điều kiện đất cát Đồng thời cũng đã xác định được một số đặc điểm cơ bảncủa loài cây này và giá trị của nó

Trang 27

Keo lưỡi liềm (còn gọi là Keo lá liềm vì lá có hình lưỡi liềm) có tên khoa

học là Acacia crassicarpa, thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) Cây thân gỗ có thể

biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn tùy môi trường sống Nơi nguyên sản tạicác đụn cát ven biển (Australia) là cây thân bụi cao 2 - 3m, còn bình thường cao

5 - 20m, nơi thích hợp cao tới 30m, đường kính thân ít khi to quá 50cm Thânthẳng, đâm nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu Rễphát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụngbảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển Lá già nhẵnbóng mọc thành lá kép, màu xanh lục, lá đơn hình lưỡi liềm dài 11 - 12cm, rộng

1 - 4cm, thường xanh Hoa màu vàng nhạt gần giống hoa Keo lá tràm Quả dạngquả đậu, mọc xoắn, hạt nhẵn màu đen, khoảng 35.000 - 40.000 hạt/kg Độ caothích hợp dưới 200m, cũng có thể trồng tới độ cao 700m so với mặt biển Lượngmưa bình quân hàng năm từ 1.000 - 2.500mm, mưa theo mùa hoặc mưa tậptrung vào mùa hè, chịu được khô hạn, gió Lào… Chịu nhiệt độ bình quâncác tháng nóng nhất là 31 – 340C, nhiệt độ bình quân các tháng lạnh nhất 15 -

220C, không có sương giá Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể

cả đất cát sâu và đất sét khó thoát nước Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi vàkhả năng chịu lửa tốt

Gỗ Keo lưỡi liềm khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làmván ghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ…

Do tán lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dạinên dùng để trồng trên đồi trọc làm cây che bóng cho các cây ăn quả, cây côngnghiệp rất tốt Trên các vùng đất dốc có thể trồng thành hàng rào hay băng xanh

để chống xói mòn, làm băng cản lửa, chắn gió để bảo vệ đất rất hữu hiệu Vớicác vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát di động,bán di động… là cây trồng lý tưởng để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất,điều hóa khí hậu, chống cát bay, cát nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điềukiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và đời sống dân sinh

Trang 28

PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá khả năng cải tạo đất của Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao khả năng cải tạo đất cát ven biển

3.2 Nội dung nghiên cứu

* Phân tích đặc điểm lý hóa tính của đất tại khu vực ven biển xã Điền Môn,huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu

- Tìm hiểu thông tin về cơ cấu sử dụng đất, hiện trạng, diện tích và sự phân

bố các loại đất tại khu vực nghiên cứu

- Phân tích hàm lượng mùn, độ pH, độ ẩm tương đối, độ ẩm tuyệt đối…củamột số mẫu đất tại khu vực nghiên cứu

* Đánh giá khả năng cải tạo đất của Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên cứu

- So sánh các chỉ tiêu về lý hóa tính tại khu vực trồng Keo lưỡi liềm vàngoài đất trống

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi

* Đề xuất một số giải pháp để nâng cao khả năng cải tạo đất cát ven biển

- Giải pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng Keo

- Giải pháp cải tạo đất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Công tác chuẩn bị

Trang 29

Chuẩn bị một số vật liệu, dụng cụ như sau: cân, thước dây, phiếu điều tra,hộp nhôm.

Thu thập các tài liệu liên quan đến một số dòng Keo lưỡi liềm, các thôngtin dựa trên cơ sở khảo sát thực tế, phỏng vấn cán bộ địa phương hoặc người dân

và tìm đọc từ các báo cáo có liên quan

3.3.2 Công tác ngoại nghiệp

- Thu thập thông tin ở cơ quan địa chính và người dân về vị trí địa lý, địahình, đất đai, khí hậu của vùng

- Xác định diện tích và tình hình sinh trưởng của rừng Keo lưỡi liềm trongkhu vực nghiên cứu

- Theo dõi chất hữu cơ rơi rụng trên mặt đất tại khu vực có rừng Keo lưỡiliềm và khu vực không có Keo lưỡi liềm

+ Lập ô tiêu chuẩn 4m2 (2m x 2m) và mỗi tháng lập 3 ô

+ Cân vật rơi rụng ở mỗi ô mỗi tháng một lần

- Tiến hành đào phẫu diện đất ở khu vực có rừng Keo lưỡi liềm và ngoàiđất trống rồi ghi vào phiếu điều tra Trong qua trình đào xác định mực nướcngầm (nếu có)

Bảng: Mô tả phẫu diện đất

Hạng

mục

Khu vực

Thành phần cơgiới

Độ dày tầngđất

Màu sắc Sự chuyển

màu

Đào phẫu diện:

+ Trước lúc đào phải chọn vị trí đại diện cho khu vực nghiên cứu

+ Mặt thành phẫu diện hướng về phía mặt trời Đối diện là các bậc để lênxuống Nếu đào ở chỗ đất dốc thì mặt thành phẫu diện cắt ngang hướng dốc + Không được đứng dẫm lên vùng đất trên mặt quan sát của phẫu diện vìthế sẽ làm mất trạng thái tự nhiên của đất Ở khu vực đó chúng ta phải quan sátthực bì

+ Mặt quan sát phẳng: Dùng mai hoặc xẻng vạt, tránh miết đất làm mấttrạng thái tự nhiên của đất

Trang 30

- Lấy mẫu đất xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy.

- Độ mùn: Xác định theo phương pháp phân tích mùn của Tiurin

- Độ pH: Xác định theo phương pháp so màu

3.3.3 Công tác nội nghiệp

Trên cơ sở những số liệu đã thu thập được ở ngoài thực tế, tiến hành tổnghợp, đánh giá và phân tích

- Độ ẩm được tính theo công thức:

Độ ẩm tuyệt đối (%) = W 2 – W 1 W 3 – W 1∗100

Trong đó: W1: là trọng lượng hộp nhôm (g)

W2: là trọng lượng hộp nhôm và đất trước khi sấy (g)

W3: là trọng lượng hộp nhôm và đất sau khi sấy (g)

- Mùn được tính theo công thức:

Ngày đăng: 25/03/2014, 00:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bài giảng trồng rừng phòng hộ, NXB Nông Nghiệp, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng trồng rừng phòng hộ
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
[2]. Cẩm nang lâm nghiệp, Chương 15 Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang lâm nghiệp
[4]. Giáo trình Hóa học đất, NXB Nông Nghiệp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hóa học đất
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
[5]. Nguyễn Mười, Giáo trình thực tập thổ nhưỡng, NXB Nông Nghiệp, 1979 [6]. PGS.TS Lê Văn Thăng , Giáo trình khoa học môi trường đại cương - Đại Học Huế, 2007.Trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực tập thổ nhưỡng", NXB Nông Nghiệp, 1979[6]. PGS.TS Lê Văn Thăng , "Giáo trình khoa học môi trường đại cương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
[3]. Dương Viết Tình, Giáo trình thực tập thổ nhưỡng, Huế, 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 1.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới (Trang 20)
Hình 4.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Điền Môn 4.1.4.1. Tài nguyên đất - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Điền Môn 4.1.4.1. Tài nguyên đất (Trang 37)
Bảng 4.1. Bảng số liệu diện tích Keo lưỡi liềm của xã - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.1. Bảng số liệu diện tích Keo lưỡi liềm của xã (Trang 38)
Bảng 4.3. Lượng vật rơi rụng ở khu vực rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.3. Lượng vật rơi rụng ở khu vực rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống (Trang 42)
Bảng 4.4: Phẫu diện đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.4 Phẫu diện đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống (Trang 44)
Hình 4.2: Các lớp nước trong đất - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.2 Các lớp nước trong đất (Trang 45)
Bảng 4.5. Độ ẩm tuyệt đối khu vực trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.5. Độ ẩm tuyệt đối khu vực trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống (Trang 46)
Bảng 4.7. Kết quả phân tích độ pH của đất trong rừng và ngoài đất trống - “Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.7. Kết quả phân tích độ pH của đất trong rừng và ngoài đất trống (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w