Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu... Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ.. Liệu mà thờ mẹ kính cha, Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.. Có cha, có mẹ, thì hơn, K
Trang 1TỤC NGỮ CA DAO CỔ VIỆT NAM - TINH HOA ĐẠO ĐỨC
NHỮNG RĂN DẠY VỀ CÁCH ĂN Ở TRONG GIA TỘC
Trang 21.1 - Với cội nguồn:
Uống nước, nhớ nguồn
Con người có tổ, có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn
Con chim có tổ, con người có tông
Con chim tìm tổ, con người tìm tông
Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng
Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng
Ăn cây nào, vào cây ấy
Ăn cây nào, rào cây ấy
Trang 3Ăn của Bụt, thắp hương thờ Bụt
Ăn oản, thời phải thờ Phật
Ăn oản, phải giữ lấy chùa
Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật
Ta về, ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn
Cáo chết ba năm, còn quay đầu về núi
1.2- Đạo làm con
Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu
Trang 4Nâng niu bú mớm đêm ngày,
Công cha, nghĩa mẹ, coi tày bể non
Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ
Lên non, mới biết non cao,
Nuôi con, mới biết công lao mẫu từ
Con mẹ thương mẹ lắm thay,
Chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau
Liệu mà thờ mẹ kính cha,
Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười
Có cha, có mẹ, thì hơn,
Không cha, không mẹ, như đờn đứt giây
Trách ai được cá quên nơm,
Được chim bẻ ná, quên ơn sinh thành
Trang 5Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,
Miệng nhai cơm mớm, lưỡi lừa cá xương
Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau
Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giã gạo cho trắng, mà nuôi mẹ già
Mẹ cha như chuối chín cây,
Sao đấy chẳng liệu, cho đây liệu cùng
Cha mẹ ở tấm lều tranh,
Sớm thăm, tối viếng, mới đành dạ con
Mẹ cha như nước như mây,
Làm con phải ở cho tày lòng son
Con có làm ra của vạn tiền trăm,
Con ơi, hãy nhớ lúc con nằm trong nôi
Trang 6Trâu dê chết để tế ruồi,
Sao bằng lúc sống, ngọt bùi là hơn
Lúc sống, thời chẳng cho ăn,
Đến khi thác xuống, làm văn tế ruồi
Sống thì chẳng cho ăn nào,
Chết thì cúng giỗ, mâm cao cỗ đầy
Dạy con, con nhớ lấy lời,
Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên
Con giữ cha, gà giữ ổ
Dâu hiền hơn gái, rể hiền hơn trai
Trai mà chi, gái mà chi,
Cốt sao có nghĩa, có nghì là hơn
Con ở đâu, cha mẹ đấy,
Trang 7Cháu con ở đâu, tổ tiên ở đấy
Trẻ đeo hoa, già đeo tật
Già sinh tật, đất sinh cỏ
Lụ khụ, như ông cụ bảy mươi
Bảy mươi chưa đui, chưa què, chớ khoe là giỏi
Một già, một trẻ như nhau
Kính lão, đắc thọ
Thương già, già để tuổi cho
Cá không ăn muối, cá ươn,
Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư
Cha mẹ là biển là trời,
Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha
Trang 8Nói con, con chẳng nghe lời,
Con nghe ông huyểnh, ông hoảng, hết đời nhà con
Cha mẹ đánh cửa trước, vào cửa sau (1)
Một mẹ, nuôi được mười con,
Mười con, không nuôi được một mẹ
Con bà, có thương bà đâu,
Để cho chàng rể, nàng dâu thương cùng
Cha mẹ nuôi con, bằng trời bằng bể,
Con nuôi cha mẹ, con kể từng ngày
Mẹ nuôi con, biển hồ lai láng,
Con nuôi mẹ, kể tháng kể ngày
Mẹ già hết gạo treo niêu,
Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai
Trang 9Mẹ lá rau, lá má,
Con đầy rá, đầy mâm
Mẹ sớm chiều, ngược xuôi tất tưởi, Con đẫy ngày, đám dưới đám trên
Cơm cha thời ngon, cơm con thời đắng
Bình phong khảm ốc xà cừ,
Vợ hư thời bỏ, chớ từ mẹ cha
Bất hiếu chi tử? (2)
Bên cha cũng kính , bên mẹ cũng vái
Mẹ chồng nàng dâu,
Chủ nhà, người ở, khen nhau bao giờ
Thật thà, cũng thể lái trâu,
Trang 10Yêu nhau, cũng thể nàng dâu mẹ chồng
Mẹ chồng dữ, mẹ chồng chết,
Nàng dâu có nết, nàng dâu chừa
Chồng dữ, thời em mới rầu,
Mẹ chồng mà dữ, giết trâu ăn mừng
Chưa làm dâu, đã hay đâu làm mẹ chồng
Tứ thân phụ mẫu
Thông gia, là bà con
Thông gia, hai nhà như một
Sống vì mồ vì mả,
Không ai vì cả bát cơm
Mồ mả làm cho người ta khá
Trang 11Giữ như giữ mả tổ
Sống Tết, chết Giỗ
Trưởng bại, hại ông vải
Trưởng nam bại, ông vải vong
Con cháu mà dại, thời hại cha ông
Con hơn cha, là nhà có phúc
Con khôn, nở mặt mẹ cha
Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ
Làm anh, làm ả, phải ngả mặt lên
Một người làm nên, cả họ được cậy, Một người làm bậy, cả họ mất nhờ
Trang 12Một người làm xấu, cả bậu mang dơ
Một người làm quan,
Thời sang cả họ
Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó
Tột cùng Thiện, không gì hơn hiếu, Tột cùng Ác, không gì hơn bất hiếu
Kính cha, tấm lụa tấm là,
Trọng cha, đồng quà tấm bánh
Sáng thăm, tối viếng Cơm nặng áo dày Sáng cơm, trưa cháo, chiều trà,
Chăm cha, chăm mẹ, tuổi già xa xăm (3)
Trẻ cậy cha, già cậy con,
Trẻ thì dưỡng cây, già thì cây dưỡng
Trang 13Bé thì nhờ mẹ, nhờ cha,
Lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con
Xin người hiếu tử gắng khuyên,
Kịp thời nuôi nấng, cho tuyền đạo con, Kẻo khi sông cạn đá mòn,
Thơ ca ngâm đọc, có còn thấy chi
Công cha như núi Thái Sơn, (4)
Nghĩa mẹ như nước, trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ Hiếu, mới là Đạo con
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ, những ngày ước ao
Thờ cha kính mẹ hết lòng,
Ấy là chữ Hiếu, dạy trong luân thường
Trang 14Thảo thơm, sau trước nhịn nhường,
Nhường anh nhường chị, lẫn nhường người trên
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ, lấy nền con em
Ba năm bú mớm con thơ,
Kể công cha mẹ, biết cơ ngần nào
Dạy rằng chín chữ cù lao, (5)
Bể sâu không ví, trời cao không bì
Chú thích:
(1) Ý nói không bao giờ được phép giận hờn cha mẹ, giận hờn cha mẹ là thất hiếu (2) Kẻ bất hiếu coi như đã chết
(3) Năm câu này nêu lên được lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ khi cha
mẹ còn sống
(4) Một trái núi rất cao to và đẹp bên Trung Hoa
(5) Chín chữ cù lao: nói công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con cái
Mượn điển cố trong Kinh Thi: Ai ai phụ mẫu ngã cù lao Phụ hề sinh ngã Mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phúc ngã, xuất nhập phục ngã Dục báo chi đức, hạo nhiên võng cực Nghĩa là:
Trang 15Xót thương cha mẹ ta, sinh ra ta khó nhọc Cha ta sinh ra ta, mẹ ta nâng đỡ ta từ trong bụng; cha mẹ đã vỗ về nuôi nấng cho ta bú mớm, bồi bổ cho ta khôn lớn, dạy cho ta lời khôn lẽ phải lo lắng theo dõi khi ta đi đâu, dựa theo tính ta mà khuyên răn ta, che chở, giữ gìn cho ta Muốn báo đền ơn đức cha mẹ, công đức đó như trời rộng không có giới hạn Người sau nói gọn lại là Chín chữ cù lao (Cửu tự cù lao)