1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỤC NGỮ CA DAO CỔ VIỆT NAM - TINH HOA ĐẠO ĐỨC NHỮNG RĂN DẠY VỀ CÁCH ĂN Ở TRONG GIA TỘC ppt

15 2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 155,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu... Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ.. Liệu mà thờ mẹ kính cha, Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.. Có cha, có mẹ, thì hơn, K

Trang 1

TỤC NGỮ CA DAO CỔ VIỆT NAM - TINH HOA ĐẠO ĐỨC

NHỮNG RĂN DẠY VỀ CÁCH ĂN Ở TRONG GIA TỘC

Trang 2

1.1 - Với cội nguồn:

Uống nước, nhớ nguồn

Con người có tổ, có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn

Con chim có tổ, con người có tông

Con chim tìm tổ, con người tìm tông

Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,

Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng

Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,

Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng

Ăn cây nào, vào cây ấy

Ăn cây nào, rào cây ấy

Trang 3

Ăn của Bụt, thắp hương thờ Bụt

Ăn oản, thời phải thờ Phật

Ăn oản, phải giữ lấy chùa

Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật

Ta về, ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn

Cáo chết ba năm, còn quay đầu về núi

1.2- Đạo làm con

Thứ nhất thì tu tại gia,

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa

Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu

Trang 4

Nâng niu bú mớm đêm ngày,

Công cha, nghĩa mẹ, coi tày bể non

Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ

Lên non, mới biết non cao,

Nuôi con, mới biết công lao mẫu từ

Con mẹ thương mẹ lắm thay,

Chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau

Liệu mà thờ mẹ kính cha,

Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười

Có cha, có mẹ, thì hơn,

Không cha, không mẹ, như đờn đứt giây

Trách ai được cá quên nơm,

Được chim bẻ ná, quên ơn sinh thành

Trang 5

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm mớm, lưỡi lừa cá xương

Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều,

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau

Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã gạo cho trắng, mà nuôi mẹ già

Mẹ cha như chuối chín cây,

Sao đấy chẳng liệu, cho đây liệu cùng

Cha mẹ ở tấm lều tranh,

Sớm thăm, tối viếng, mới đành dạ con

Mẹ cha như nước như mây,

Làm con phải ở cho tày lòng son

Con có làm ra của vạn tiền trăm,

Con ơi, hãy nhớ lúc con nằm trong nôi

Trang 6

Trâu dê chết để tế ruồi,

Sao bằng lúc sống, ngọt bùi là hơn

Lúc sống, thời chẳng cho ăn,

Đến khi thác xuống, làm văn tế ruồi

Sống thì chẳng cho ăn nào,

Chết thì cúng giỗ, mâm cao cỗ đầy

Dạy con, con nhớ lấy lời,

Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên

Con giữ cha, gà giữ ổ

Dâu hiền hơn gái, rể hiền hơn trai

Trai mà chi, gái mà chi,

Cốt sao có nghĩa, có nghì là hơn

Con ở đâu, cha mẹ đấy,

Trang 7

Cháu con ở đâu, tổ tiên ở đấy

Trẻ đeo hoa, già đeo tật

Già sinh tật, đất sinh cỏ

Lụ khụ, như ông cụ bảy mươi

Bảy mươi chưa đui, chưa què, chớ khoe là giỏi

Một già, một trẻ như nhau

Kính lão, đắc thọ

Thương già, già để tuổi cho

Cá không ăn muối, cá ươn,

Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

Cha mẹ là biển là trời,

Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha

Trang 8

Nói con, con chẳng nghe lời,

Con nghe ông huyểnh, ông hoảng, hết đời nhà con

Cha mẹ đánh cửa trước, vào cửa sau (1)

Một mẹ, nuôi được mười con,

Mười con, không nuôi được một mẹ

Con bà, có thương bà đâu,

Để cho chàng rể, nàng dâu thương cùng

Cha mẹ nuôi con, bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ, con kể từng ngày

Mẹ nuôi con, biển hồ lai láng,

Con nuôi mẹ, kể tháng kể ngày

Mẹ già hết gạo treo niêu,

Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai

Trang 9

Mẹ lá rau, lá má,

Con đầy rá, đầy mâm

Mẹ sớm chiều, ngược xuôi tất tưởi, Con đẫy ngày, đám dưới đám trên

Cơm cha thời ngon, cơm con thời đắng

Bình phong khảm ốc xà cừ,

Vợ hư thời bỏ, chớ từ mẹ cha

Bất hiếu chi tử? (2)

Bên cha cũng kính , bên mẹ cũng vái

Mẹ chồng nàng dâu,

Chủ nhà, người ở, khen nhau bao giờ

Thật thà, cũng thể lái trâu,

Trang 10

Yêu nhau, cũng thể nàng dâu mẹ chồng

Mẹ chồng dữ, mẹ chồng chết,

Nàng dâu có nết, nàng dâu chừa

Chồng dữ, thời em mới rầu,

Mẹ chồng mà dữ, giết trâu ăn mừng

Chưa làm dâu, đã hay đâu làm mẹ chồng

Tứ thân phụ mẫu

Thông gia, là bà con

Thông gia, hai nhà như một

Sống vì mồ vì mả,

Không ai vì cả bát cơm

Mồ mả làm cho người ta khá

Trang 11

Giữ như giữ mả tổ

Sống Tết, chết Giỗ

Trưởng bại, hại ông vải

Trưởng nam bại, ông vải vong

Con cháu mà dại, thời hại cha ông

Con hơn cha, là nhà có phúc

Con khôn, nở mặt mẹ cha

Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ

Làm anh, làm ả, phải ngả mặt lên

Một người làm nên, cả họ được cậy, Một người làm bậy, cả họ mất nhờ

Trang 12

Một người làm xấu, cả bậu mang dơ

Một người làm quan,

Thời sang cả họ

Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó

Tột cùng Thiện, không gì hơn hiếu, Tột cùng Ác, không gì hơn bất hiếu

Kính cha, tấm lụa tấm là,

Trọng cha, đồng quà tấm bánh

Sáng thăm, tối viếng Cơm nặng áo dày Sáng cơm, trưa cháo, chiều trà,

Chăm cha, chăm mẹ, tuổi già xa xăm (3)

Trẻ cậy cha, già cậy con,

Trẻ thì dưỡng cây, già thì cây dưỡng

Trang 13

Bé thì nhờ mẹ, nhờ cha,

Lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con

Xin người hiếu tử gắng khuyên,

Kịp thời nuôi nấng, cho tuyền đạo con, Kẻo khi sông cạn đá mòn,

Thơ ca ngâm đọc, có còn thấy chi

Công cha như núi Thái Sơn, (4)

Nghĩa mẹ như nước, trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha,

Cho tròn chữ Hiếu, mới là Đạo con

Ngày nào em bé cỏn con,

Bây giờ em đã lớn khôn thế này

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,

Nghĩ sao cho bõ, những ngày ước ao

Thờ cha kính mẹ hết lòng,

Ấy là chữ Hiếu, dạy trong luân thường

Trang 14

Thảo thơm, sau trước nhịn nhường,

Nhường anh nhường chị, lẫn nhường người trên

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ, lấy nền con em

Ba năm bú mớm con thơ,

Kể công cha mẹ, biết cơ ngần nào

Dạy rằng chín chữ cù lao, (5)

Bể sâu không ví, trời cao không bì

Chú thích:

(1) Ý nói không bao giờ được phép giận hờn cha mẹ, giận hờn cha mẹ là thất hiếu (2) Kẻ bất hiếu coi như đã chết

(3) Năm câu này nêu lên được lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ khi cha

mẹ còn sống

(4) Một trái núi rất cao to và đẹp bên Trung Hoa

(5) Chín chữ cù lao: nói công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con cái

Mượn điển cố trong Kinh Thi: Ai ai phụ mẫu ngã cù lao Phụ hề sinh ngã Mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phúc ngã, xuất nhập phục ngã Dục báo chi đức, hạo nhiên võng cực Nghĩa là:

Trang 15

Xót thương cha mẹ ta, sinh ra ta khó nhọc Cha ta sinh ra ta, mẹ ta nâng đỡ ta từ trong bụng; cha mẹ đã vỗ về nuôi nấng cho ta bú mớm, bồi bổ cho ta khôn lớn, dạy cho ta lời khôn lẽ phải lo lắng theo dõi khi ta đi đâu, dựa theo tính ta mà khuyên răn ta, che chở, giữ gìn cho ta Muốn báo đền ơn đức cha mẹ, công đức đó như trời rộng không có giới hạn Người sau nói gọn lại là Chín chữ cù lao (Cửu tự cù lao)

Ngày đăng: 25/03/2014, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w