1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ THI ÔN TẬP NGỮ VĂN HK1 LỚP 12( ĐỀ SỐ 10)

6 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề thi Ôn tập Ngữ Văn HK1 lớp 12 (Đề số 10)
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề thi ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 659,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 I ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường.

Trang 1

I ĐỌC HIỂU:

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những nơi công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dưới chữ Triều Tiên to hơn ở phía trên Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác

(Chữ ta, bài xã luận Bản lĩnh Việt Nam của Hữu Thọ)

Câu 1 (NB): Đoạn văn trên được diễn đạt theo phong cách ngôn ngữ gì?

Câu 2 (TH): Đoạn văn trên nói về vấn đề gì? Quan điểm của tác giả về vấn đề đó như thế nào?

Câu 3 (TH): Tác giả đã sử dụng phương pháp lập luận gì trong đoạn văn nêu trên?

Câu 4 (TH): Từ 2 câu sau:

- Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên

- Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh,

Tác giả muốn nêu lên điều gì về việc sử dụng quảng cáo của người Hàn Quốc và tình trạng quảng cáo ở Việt Nam?

II LÀM VĂN

Câu 1 (VDC): Từ đoạn văn trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ: Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, chúng ta phải làm gì?

Câu 2 (VDC): Trình bày cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc và liên hệ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam ta

- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không

ĐỀ ÔN TẬP HKI - ĐỀ SỐ 10 MÔN: NGỮ VĂN 12 Thời gian làm bài: 90 phút THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM

 Kiểm tra mức độ kiến thức của học sinh cụ thể: Kiến thức tiếng việt, làm văn; Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm; Kiến thức đời sống

 Rèn luyện các kỹ năng cơ bản: Kỹ năng đọc hiểu; Kỹ năng tạo lập văn bản (đoạn văn nghị luận xã hội, bài văn nghị luận văn học)

MỤC TIÊU

TAILIEUONTHI.NET

Trang 2

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân lo Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, 2008, tr.10

Trang 3

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM

I ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương pháp: Căn cứ vào các phong cách ngôn ngữ đã học: Sinh hoạt, nghệ thuật, báo chí, chính luận, hành chính

Cách giải:

Phong cách ngôn ngữ: Chính luận

Câu 2:

Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Đoạn văn trên nói về vấn đề: Hiện tượng các biển hiệu in chữ nước ngoài quá nhiều tại Việt Nam

Quan điểm của tác giả: Bày tỏ sự phê phán đối với hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài và không coi trọng tiếng Việt

Câu 3:

Phương pháp: Căn cứ vào các phương pháp lập luận đã học: Giải thích, so sánh, phân tích, bình luận, bác bỏ

Cách giải:

- Phương pháp lập luận: So sánh

- Tác giả đưa ra các hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trên bảng hiệu ở Hàn Quốc và Việt Nam

Câu 4:

Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Tác giả muốn nói rằng ở Hàn Quốc họ ưu tiên sử dụng ngôn ngữ của quốc gia mình còn ở Việt Nam thì sính ngôn ngữ ngoại Điều này ở hai quốc gia là trái ngược nhau và tình trạng sính ngôn ngữ ngoại ở Việt Nam rất phổ biến, điều này làm mất đi giá trị của tiếng nói dân tộc

II LÀM VĂN

Câu 1:

Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận, ) để tạo lập một văn bản nghị luận xã hội

Cách giải:

* Giới thiệu vấn đề

* Giải thích vấn đề

- Sự trong sáng của tiếng Việt:

+ Thể hiện bằng tính chuẩn mực về phát âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, về phong cách ngôn ngữ, phải tuân theo quy tắc chung của tiếng Việt

TAILIEUONTHI.NET

Trang 4

+ Không lai căng, pha tạp quá nhiều ngôn ngữ nước ngoài, nhưng vẫn dung hợp những yếu tố tích cực với Tiếng Việt

+ Sự sáng tạo cái mới phải tuân theo quy tắc chung, đảm bảo được sự trong sáng của tiếng Việt còn góp phần phát triển, làm tiếng Việt ngày càng phong phú đa dạng hơn

+ Tính lịch sự, văn hóa trong lời ăn tiếng nói

- Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là giữ gìn hồn cốt của tiếng Việt, giữ gìn chuẩn mực về sử dụng từ và ngữ pháp

* Bàn luận vấn đề

- Hiện trạng sử dụng tiếng Việt trong thời buổi hiện đại:

+ Ngày nay với sự du nhập của văn hóa ngoại lai, ngôn ngữ mẹ đẻ phần nào đó đã bị lai căng, pha tạp nhiều, nhiều từ ngữ không còn được sử dụng với ý nghĩa như trước đây hoặc xuất hiện từ ngữ được viết theo kiểu teencode, sai về dấu hoặc biến đổi về kí tự

+ Hiện tượng sính tiếng Anh cũng xuất hiện rất nhiều, tràn lan trên biển hiện, trang phục

->Chúng ta hòa nhập chứ không hòa tan, vì vậy cần phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

- Giải pháp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt:

+ Cần ý thức được sự quan trọng của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, và tôn trọng nó

+ Tập thói quen cân nhắc trước khi mở lời, phát biểu Cổ nhân có câu “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” chưa

có sai bao giờ

+ Hai kỹ năng nói và viết cần phải được rèn luyện thường xuyên, tránh nói sai, viết sai làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, hiệu quả giao tiếp không cao

+ Nói năng lịch sự, không phát ra các từ ngữ thô thiển, bất lịch sự, không lai tạp tiếng Việt, không biến tấu sai thời điểm

* Liên hệ bản thân

* Tổng kết

Câu 2:

Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận, ) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học

Cách giải:

* Yêu cầu hình thức:

- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản

- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

* Yêu cầu nội dung:

1 Mở bài:

Trang 5

- Dẫn dắt vấn đề

2 Thân bài:

* Giới thiệu tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc,

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam Đường Cách mạng, đường thơ Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam

- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và thắng lợi của dân tộc

* Phân tích đoạn thơ trên

*4 câu thơ đầu: Giống như những khúc hát giã bạn người ơi người ở đừng về trong đêm hội, ở đây người cất lên tiếng nói đầu tiên trong cuộc chia tay là người ở lại

- Điệp từ nhớ luyến láy trong cấu trúc câu hỏi đồng dạng “Mình về mình có nhớ ta?/ / Mình về mình có nhớ không?”

- Kỉ niệm đầu tiên được nhắc nhớ là: Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng,

+ Mười lăm năm ấy vừa là chi tiết thực vừa là chi tiết gợi cảm:

Thực vì đó là khoảng thời gian Việt Bắc đã làm tròn sứ mệnh của một căn cứ địa cách mạng vững chắc Gợi cảm vì nó gợi ra chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn, mang dáng dấp của câu thơ Kiều:

Những là rày ước mai ao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình,

+ Thiết tha mặn nồng vì tình nghĩa người- đi kẻ ở được trải nghiệm qua thời gian

- Kỉ niệm thứ hai được gợi lại là:

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

+ Tác giả đã tái hiện một không gian Việt Bắc- nơi ta với mình từng gắn bó- với đầy đủ cây, núi, sông, nguồn + Thiên nhiên hiện ra nhuốm màu tâm trạng của con người,

*4 câu thơ còn lại:

- Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

- Từ láy “tha thiết” là sự luyến láy lại lời ướm hỏi của người Việt Bắc diễn tả sự đồng điệu nhớ nhung, lưu luyến

- Các từ láy liên tiếp "Bâng khuâng, bồn chồn" giàu giá trị gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm hụt hẫng, bịn rịn, luyến tiếc, vương vấn, nhớ thương đan xen cùng một lúc

- Hình ảnh "Áo chàm đưa buổi phân li" là một ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc

TAILIEUONTHI.NET

Trang 6

- Hai chữ “phân li” đã cổ điển hóa cuộc chia tay này, làm cho thời khắc tháng10/ 1954 (các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô) vốn đầy màu sắc chính trị trở thành chuyện muôn đời của thi ca

- Câu thơ "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay " đầy tính chất biểu cảm Nhịp ngắt phá cách 3/3/2 (thông thường thơ lục bát sử dụng nhịp chẵn để tạo nên sự nhịp nhàng, hài hòa) không chỉ tăng tính nhạc mà còn góp phần thể hiện sự ngập ngừng, nghẹn ngào trong giây phút chia tay

- Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng

* Liên hệ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

- Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý truyền thống tốt đẹp của cha ông

- Đạo lý nhắc nhở con người cần biết ơn những người đã hy sinh, đã tạo ra những thành quả tốt đẹp cho chúng

ta ngày hôm nay

- Để thể hiện đạo lý đó trong thời đại này chúng ta cần tự hào về truyền thống tốt đẹp và giữ gìn, phát huy truyềnthống đó Đồng thời cần góp công sức xây dụng đất nước sao cho xứng đáng với thế hệ cha anh đã đi trước

3 Kết bài:

- Nêu cảm nhận chung

Ngày đăng: 17/01/2023, 22:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm