Giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2CNH- HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 3DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân và thực hiện chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có vai trò hết sức quan trọng không những để nâng cao khả năng thu hút đầu tư từ ngoài nước mà còn nhằm nhanh chóng tạo nên một khu vực công nghiệp năng động có trình
độ công nghệ cao, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế quốc dân
và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
Mô hình khu công nghiệp và cụm công nghiệp có nhiều dạng khác nhau như khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ Chúng đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới và bước đầu được vận dụng ở Việt Nam và ở Hà Nội Từ sau khi mở rộng địa giới, Hà Nội có 11 khu công nghiệp, 1 khu công nghệ cao và 34 cụm công nghiệp Việc phát triển hài hoà các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội phù hợp với những chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô
Bố cục của bài luận văn tốt nghiệp:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển khu công nghiệp.
Trang 6Chương 2: Thực trạng phát triển khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp phát triển khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
Bài luận văn còn có phần phụ lục các số liệu cần thiết và danh mục các tài liệu tham khảo
Mặc dù có nhiều cố gắng song do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên bài viết của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các thầy cô góp ý để bài viết của tôi hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn – TS Nguyễn Tiến Dũng Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác, các chú và các anh chị trong Phòng Thống kê Công nghiệp, Cục Thống kê Hà Nội – nơi tôi thực tập
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Lý luận về khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp
Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, hiện nay có 3 khái niệm do Nhà nước quy định về khu công nghiệp, xuất phát từ đặc điểm sản xuất quản lý của chúng
• Khu công nghiệp (industrial zone, industrial park, industrial estate) là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho các sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất
Từ định nghĩa về KCN cho phép rút ra một số kết luận sau:
- KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách bằng đường bao hữu hình hoặc vô hình
- Được phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến, tư liệu sản xuất) và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp dịch vụ cho sản xuất công nghiêp
- Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công nghiẹp sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo một cơ chế tổ chức quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN Trong đó KCN có doanh nghiệp
Trang 8của cả khu trong suốt thời gian tồn tại KCN.
- Nguồn nhân lực chủ yếu là người lao động trong nước và tại chỗ
- Được sự quản lý trực tiếp của Chính phủ từ quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát
• Khu chế xuất (the Export processing zone) là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho các hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tại đây Nhà nước ban hành các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài
• Khu công nghệ cao ( High- Technology park) là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu – triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp khu chế xuất
Qua đó ta thấy 3 khái niệm về KCN, KCX, KCNC trong Nghị định 36/CP có liên quan đến nhau, trong đó khái niệm về KCN là chủ đạo và phổ biến, còn 2 khái niệm kia là sự phát triển với những đặc trưng riêng
Kỹ thuật cao nhìn chung là loại kỹ thuật đòi hỏi sự tập trung rất cao về tri thức và kỹ năng hoàn hảo Về ý nghĩa kỹ thuật cao phải đáp ứng các yêu cầu: hiệu quả cao, độ tăng giá trị cao và thâm nhập cuộc sống ở mức độ cao Khi áp dụng kỹ thuật cao cho loại hình công nghệ nào thì loại hình ấy có thể gọi là công nghệ kỹ thuật cao Hiện nay người ta thống nhất các loại hình cần
ưu tiên áp dụng kỹ thuật cao là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và điện tử, công nghệ chế tạo máy và cơ điện tử, công nghệ vật liệu mới, công
Trang 9nghệ năng lượng mới, công nghệ hải dương và kỹ thuật du hành vũ trụ Ba loại hình công nghệ đầu hiện đang được chú trọng ở Việt Nam.
Trong khu công nghệ cao có thể có nhà ở, công trình thương mại dịch vụ cao, nghỉ ngơi, giải trí
Khu công nghệ cao là một khu công nghệ đặc biệt, số lượng hạn chế Hiện nay Việt Nam mới đang triển khai 2 khu công nghệ cao tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trong thực tế hiện nay xuất hiện thêm một số khái niệm hay mô hình công nghiệp mới như KCN địa phương, KCN nông thôn Đây là các KCN phục vụ chủ yếu cho các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trong nước với hoạt động không chỉ đơn thuần là sản xuất mà còn gắn liền với các hoạt động khác như thương mại, dịch vụ, nhà ở
Khu công nghiệp về cơ bản là một khu chức năng của đô thị Hiện nay
mô hình quản lý phát triển khu công nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là mô hình về Công ty đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và Ban quản lý khu công nghiệp
• Cụm công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập, có quy
mô nhỏ hơn khu công nghiệp Các cụm công nghiệp thường có quy mô nhỏ, diện tích chỉ khoảng 10-15ha, có thể không có tường rào phân cách Điều hành hoạt động cụm công nghiệp là các công ty hoặc cấp hành chính tỉnh, huyện, xã Các tiêu chí về cơ sở hạ tầng không nhiều và đôi khi rất đơn giản
1.1.2 Phân loại khu công nghiệp
Ở Việt Nam, khu công nghiệp thường được phân loại như sau:
- Phân loại theo đặc điểm quản lý: Có 3 loại KCN:
+ KCN tập trung: Là KCN có thể đa ngành, chuyên ngành hoặc là những KCN có quy mô và diện tích khác nhau được hình thành với các điều kiện
Trang 10khác nhau.
+KCX: Là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập hoặc cấp giấy phép thành lập
+KCNC: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ phát triển công nghệ cao bao gồm: nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ, đào tạo các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập
- Phân loại theo loại hình công nghiệp:
+KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng 1 ngành hoặc 1 số ngành khác nhau nhưng cùng sản xuất ra 1 loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất – hoá dầu, điện
tử – tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí ở Việt Nam có hoá chất Việt Trì, lọc dầu Dung Quất
+KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành nghề công nghiệp khác nhau Các KCN hiện nay phần lớn là các KCN đa ngành phù hợp theo cơ cấu phát triển kinh tế và công nghiệp của khu vực
- Phân loại theo mức độ độc hại: Đây là hình thức phân loại hay được đề cập tới vì nó quyết định việc bố trí của KCN so với khu dân cư cũng như các biện pháp để đảm bảo điều kiện về môi trường Mức độ vệ sinh công nghiệp của KCN phụ thuộc chủ yếu vào loại hình công nghiệp bố trí trong KCN [1]
- Phân loại theo quy mô:
+ KCN có quy mô nhỏ: thường có diện tích đến 100ha
+ KCN có quy mô trung bình: 100 – 300ha
+ KCN có quy mô lớn hơn 300ha
Các phân loại này phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước và chủ yếu
Trang 11phục vụ để xếp hạng KCN Trong tổng số 124 KCN dự kiến phát triển đến năm 2020, số KCN có quy mô đến 100ha chiếm tỷ lệ khoảng 28,2%, KCN có quy mô 100 – 300ha chiếm tỷ lệ 31,5%, KCN có quy mô lớn hơn 300ha chiếm tỷ lệ lớn nhất đến 40,3%.
Trong một đô thị có thể có nhiều khu công nghiệp với quy mô khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển công nghiệp cũng như quy mô đất đai, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội kèm theo
1.1.3.Đặc điểm của khu công nghiệp
KCN và KCX là công cụ để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để tạo ra năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu về hàng hoá của thị trường trong nước và quốc tế Với cơ cấu được hình thành trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, KCN và KCX bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau:
- KCN có cơ sở kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tạo môi trường thuận lơị, hấp dẫn cho phép các nhà đầu
tư sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ ưu đãi về thủ tục xin và cho thuê đất, miễn hoặc giảm thuế Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước ở các nước, Chính phủ thường bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng như san lấp mặt bằng, làm đường giao thông ở Việt Nam, Nhà nước không có đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Vì vậy, việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở khu công nghiệp được hiểu là tiến hành kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường Bởi vậy cơ chế quản lý trong KCN lấy điều tiết thị trường làm chính
- KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một vương
Trang 12quốc độc lập như KCX Do vậy, các chế độ quản lý hành chính, các quyết định liên quan đến việc ra vào KCN và quan hệ với các doanh nghiệp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo điều kiện bình đẳng.
- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài như KCN Hà Nội - Đài Tư, doanh nghiệp liên doanh như KCN Nội Bài, doanh nghiệp 100% vốn trong nước
- Việc hình thành các KCN tạo nên sự thay đổi một cách căn bản về hạ tầng kinh tế – xã hội trong và ngoài KCN, là cơ sở hạ tầng đô thị công nghiệp
và thành phố công nghiệp trong tương lai
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội góp phần tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội cho khu vực có KCN
- Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất
và xuất khẩu trong KCN là những doanh nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
1.2.Lý luận chung về phát triển khu công nghiệp
1.2.1.Khái niệm và thực chất phát triển khu công nghiệp
Theo cách tiếp cận quản lý vĩ mô, phát triển khu công nghiệp chủ yếu được hiểu là tăng trưởng số lượng, chuyển dịch quy mô, cơ cấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả khu công nghiệp trong mục tiêu phát triển bền vững hệ thống kinh tế xã hội của đất nước dưới những điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể rút ra thực chất và nội dung của phát triển khu công nghiệp nước ta là:
- Phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
Trang 13đại hoá, phát triển ngành và lãnh thổ Phát triển tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP của khu công nghiệp.
- Phát triển trình độ công nghệ của mỗi ngành công nghiệp, mỗi địa phương và toàn bộ đất nước
- Phát triển đồng bộ các tiêu chí kinh tế, công nghệ với bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, tài nguyên và sinh thái
- Phát triển năng lực sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên cơ sở bảo đảm các yếu tố tăng cường chuỗi cung ứng giá trị gia tăng, hạ thấp chi phí bình quân trên đơn vị sản phẩm trong dài hạn và phát triển các yếu tố cạnh tranh bền vững của chúng
- Phát triển các điều kiện kinh tế xã hội trong và ngoài hàng rào khu công nghiệp trong mối liên kết với khu vực, cộng đồng dân cư, tổ chức nguồn nhân lực và thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở các địa phương và cả nước
1.2.2.Các tiêu chí phát triển công nghiệp
Số lượng các khu cong nghiệp và số dự án đầu tư :
Số lượng các KCN trên địa bàn phản ánh khả năng quy hoạch xây dựng KCN để thu hút vốn đầu tư vào địa phương
Số các dự án đầu tư vào từng KCN cho phép xác định khả năng thu hút các nhà đầu tư và đồng thời chỉ tiêu này còn cho phép so sánh hiệu quả khai thác các dự án đầu tư giữa các KCN với nhau
Vị trí của khu công nghiệp:
Đây là tiêu chí rất quan trọng đánh giá sự thành công của khu công nghiệp Khu công nghiệp đảm bảo vị trí thuận lợi, gần cảng biển, cảng hàng không, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội thuận lợi, có nguồn nhân lực dồi dào, hấp dẫn các nhà đầu tư, chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp thấp và được các ngành trong nước hỗ trợ thì sự phát triển của khu
Trang 14công nghiệp rất thuận lợi và ngược lại, những khu công nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu trên thì sẽ gặp khó khăn trong việc hình thành và phát triển khu công nghiệp.
Quy mô và loại hình khu công nghiệp:
Tuỳ theo đặc điểm và lợi thế của mỗi vùng, địa phương mà xác định quy
mô và loại hình khu công nghiệp cho phù hợp Đây là tiêu chí rất quan trọng
để các UBND cấp tỉnh lựa chọn quy mô và loại hình khu công nghiệp cho phù hợp với địa phương mình
- Về diện tích các KCN:
Đối với các thành phố lớn ở các vùng trọng điểm kinh tế thì phát triển khu công nghiệp theo các mục tiêu sau: với mục tiêu nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì hình thành khu công nghiệp có quy mô từ 100-300 ha, chủ đầu
tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Với mục tiêu nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong thành phố, đô thị lớn tập trung vào khu công nghiệp thì hình thành khu công nghiệp có quy
mô nhỏ hơn 100 ha, chủ đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp là doanh nghiệp trong nước như KCN Phú Thị, KCN Thanh Trì
Đối với các tỉnh nằm kề với các thành phố lớn thì phát triển KCN theo các mục tiêu sau: với mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm khai thác các thế mạnh của địa phương thì hình thành KCN có quy mô từ 200 – 400ha, chủ đầu tư phát triển hạ tầng KCN là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Với mục tiêu phát huy nội lực nhằm khai thác các thế mạnh của địa phương
và giải quyết lao động cho địa phương thì hình thành KCN có quy mô từ 100ha, chủ đầu tư phát triển hạ tầng KCN là doanh nghiệp trong nước
Những địa phương với điều kiện có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn thì hình thành KCN chuyên sản xuất ổn định một số sản phẩm hàng hoá, đặc
Trang 15biệt là phát triển các ngành công nghiệp chức năng, quy mô của những KCN
từ 300 -500ha Xây dựng cơ sở hạ tầng KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư.Những vùng, địa phương ở xa các đô thị lớn, cảng biển thì phát triển KCN theo các mục tiêu sau: với mục tiêu phát huy nội lực nhằm khai thác các thế mạnh của địa phương và giải quyết lao động cho địa phương thì hình thành KCN có quy mô từ 50 – 100ha, chủ đầu tư hạ tầng KCN là doanh nghiệp trong nước Với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các KCN có quy mô từ 100 -200ha, chủ đầu tư phát triển hạ tầng là doanh nghiệp trong nước
- Về nguồn vốn:
+Tổng vốn đầu tư: chỉ tiêu này dùng để xác định tổng số vốn đã được các nhà đầu tư đầu tư vào KCN, đồng thời là tiêu chí đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn giữa các KCN với nhau
+Tỷ lệ vốn trên đơn vị diện tích đất KCN (vốn/ha)
Chỉ tiêu này được dùng để so sánh, đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư trên 1 đơn vị diện tích đất giữa các KCN với nhau để từ đó chúng ta có thể so sánh đánh giá tính hấp dẫn thu hút vốn của các KCN một cách chính xác hơn
- Về lao động:
+Số lao động trên 1 đơn vị diện tích đất KCN (lao động /ha)
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm giữa các KCN với nhau Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được lợi ích của việc xây dựng các KCN trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp
và lao động dư thừa ở các địa phương và KCN
+Tỷ lệ lao động có chuyên môn, tay nghề: phản ánh trình độ chuyên môn và tay nghề của những người lao động trong KCN Từ đó, đánh giá được trình độ khoa học công nghệ của dự án đi vào hoạt động trong KCN Chỉ tiêu
Trang 16này được xác định bằng công thức:
Quy hoạch sử dụng đất trong khu công nghiệp:
Tiêu chí này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả đất trong khu công nghiệp, mặt khác đảm bảo sự phát triển bền vững của khu công nghiệp Thường tiêu chí này do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ra quyết định nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của khu công nghiệp Theo Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ cấu sử dụng đất trong khu công nghiệp gồm có các bộ phận sau: khu vực các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thường chiếm 55-62% diện tích khu công nghiệp Khu vực các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thường chiếm 5-7% Khu vực các doanh nghiệp dịch vụ sản xuất công nghiệp thường chiếm 3-5% Khu vực trung tâm điều hành, công trình công cộng, dịch vụ thường chiếm 3-5% Khu vực các công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thường chiếm 21-24% diện tích khu công nghiệp
Hệ số phủ đầy diện tích khu công nghiệp:
Đây là tiêu chí rất quan trọng thể hiện sự thành công hay thất bại của khu công nghiệp Hệ số phủ đầy khu công nghiệp được xác định bằng diện tích đất công nghiệp đã cho các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công nghiệp thuê trên tổng diện tích đất công nghiệp của khu công nghiệp Hệ số này thường tăng dần theo năm hoạt động của khu công nghiệp và có quan hệ mật thiết với tỷ suất sinh lợi nội bộ của dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp
Thường mỗi KCN phải trải qua 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: là thời kỳ hoàn thành xây dựng kết cấu hạ tầng (mất khoảng 4-5 năm), từng bước hoàn thiện chính sách và thủ tục với mục tiêu trước mắt là thu hút các nhà đầu tư vào lấp đầy KCN, nhằm nhanh chóng làm
Trang 17sống động KCN, thu hồi chi phí triển khai xây dựng, tạo lập càng nhiều càng tốt công ăn việc làm Kinh nghiệm thế giới cho thấy, việc khấu hao các chi phí triển khai xây dựng KCN có thể kéo dài 15 – 20 năm, nhanh cũng phải mất 10 năm, còn nếu sau 10 – 15 năm mà vẫn còn trống đa phần diện tích KCN thì có thể kết luận KCN đó gặp thất bại.
- Giai đoạn 2: giai đoạn trưởng thành, được đặc trưng bởi sự phát triển các mối liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả giữa doanh nghiệp trong và ngoài KCN, bởi định hướng này càng rõ nét việc nâng cao hàm lượng khoa học của các công nghệ và sản phẩm của KCN
- Giai đoạn 3: giai đoạn hoà nhập, tức KCN mất dần tính khép kín và vượt trội cả về các ưu đãi lẫn chất lượng cạnh tranh so với các vùng khác trong nước Khi đó KCN mất đi ý nghĩa ban đầu
Hệ số thoả mãn các nhu cầu về đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:Tiêu chí này đánh giá chất lượng hạ tầng kỹ thuật xã hội của khu công nghiệp Tiêu chí này được thể hiện qua việc đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng
kỹ thuật xã hội của các nhà đầu tư đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất các loại sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao có yêu cầu ngặt nghèo về chất lượng điện, nước, lao động
Năng lực sản xuất của khu công nghiệp:
Qua việc đánh giá giá trị sản lượng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, nghĩa vụ nộp thuế, năng suất, trình độ công nghệ, số lao động, thu nhập bình quân lao động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệ, tiêu chí này đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của khu công nghiệp Tiêu chí này phụ thuộc rất nhiều vào tiêu chí quy mô và loại hình khu công nghiệp Tiêu chí này là cơ sở
để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của khu công nghiệp đối với nền kinh tế của địa phương
Chất lượng xử lý nước thải và bảo vệ môi trường:
Trang 18Khu công nghiệp là nơi tập trung số lượng lớn các nhà máy công nghiệp Tại đây, nếu chất thải công nghiệp không được xử lý tốt sẽ làm cho môi trường bị ô nhiễm trên diện rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống, sức khoẻ con người Bảo vệ môi trường sinh thái là tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của khu công nghiệp.
1.2.3.Sự cần thiết phải phát triển khu công nghiệp
1.2.3.1.Vai trò của khu công nghiệp
Phát triển các KCN, KCX đang là mục tiêu hướng tới của nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước Mỗi KCN ra đời sẽ là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo động lực cho quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập, tạo đà tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch tổng thể, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, tạo việc làm và hạn chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra
Phát triển các KCN cũng thúc đẩy hình thành và phát triển các đô thị mới, các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, tăng thu nhập và tạo việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật tạo đà cho sự phát triển đất nước.Mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp đã luôn được nhấn mạnh trong các kỳ Đại hội Đảng gần đây Cùng với các vấn
đề khác, mục tiêu này cũng luôn đựơc quán triệt đi đầu trong phương hướng hành động của Chính phủ Thực hiện đựơc mục tiêu nêu trên khi và chỉ khi hàm lượng kinh tế mang lại do sản xuất công nghiệp của quốc gia đã đạt tỷ trọng nhất định, cơ cấu tăng trưởng của nền kinh tế không còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp Để đạt được điều này, không thể cứ tuỳ tiện đâu có
Trang 19đất đủ điều kiện là ở đấy xây dựng nhà máy, xí nghiệp, KCN.
Muốn thực hiện được các mục tiêu, phương hướng đã đề ra, việc quy hoạch phát triển KCN đáp ứng các hoạt động sản xuất công nghiệp để phát triển khả năng tương hỗ, giảm chi phí cho lưu thông, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường là tất yếu Căn cứ vào bài học kinh nghiệm trong nước và các nước trên thế giới và khu vực đã trải qua cho thấy, tổ chức các hoạt động sản xuất công nghiệp vào các KCN tập trung là hướng đi duy nhất
KCN, KCX chính là một cửa mở, một nhịp cầu thông thương giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, một vùng tạo nên phản xạ 2 chiều, cung cấp nhiều thông tin về thị trường cho các doanh nghiệp trong nước Nếu xây dựng thành công, KCN và KCX sẽ trở thành một mô hình kinh
tế năng động, có hiệu quả cao Đây sẽ là nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và cán bộ quản lý có trình độ cao, đủ sức vươn xa hơn ra thị trường thế giới Với mật độ công nghiệp cao, cơ cấu kinh tế năng động, kỹ thuật cao, công nghệ mới, các khu này sẽ có tác dụng rút ngắn khoảng cách giữa thị trường trong nước với thị trường thế giới và làm thay đổi bức tranh kinh tế của đất nước
1.2.3.2.Mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và thành phố
Công nghiệp ngày nay đã trở thành nhân tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển các điểm dân cư Trong các nước công nghiệp phát triển, các xí nghiệp có thể chiếm từ 30- 60% đất xây dựng và ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành bố cục quy hoạch kiến trúc của thành phố Do vậy việc bố trí và tổ chức quy hoạch tổng thể các xí nghiệp công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đối với vấn đề tổ chức không gian kiến trúc đô thị
Từ khi công nghiệp hình thành và phát triển, đời sống tinh thần của xã hội đổi mới Công nghiệp tạo ra một nguồn lực dồi dào cho dân cư đô thị, đời
Trang 20Công nghiệp phát triển một bộ mặt của thành phố thay đổi, bên cạnh khu dân cư đầy chất trữ tình và ấm cúng là các nhà máy với những không gian sản xuất hoành tráng, những KCN với những tổ hợp kiến trúc hiện đại làm cho thành phố trở nên hiện đại, đồ sộ và bề thế.
Công nghịêp phát triển kéo theo hàng loạt các vấn đề mà đô thị phải giải quyết, đó là nạn ách tắc giao thông, phương tiện đi lại của công nhân từ nơi ở đến nơi làm việc, giao thông công nghiệp như việc vận chuyển hàng hoá, nguyên liệu và thành phẩm cũng đòi hỏi đáp ứng và gây khó khăn cho thành phố
Sản xuất công nghiệp có những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của thành phố, tiếng ồn, khói bụi, mùi, hóa chất, nước thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nan giải cho thành phố Sự ô nhiễm này tác động xấu đến sức khoẻ của con người, uy hiếp sự tồn tại của di tích văn hoá nghệ thuật, làm xấu đến môi trường cảnh quan Vì vậy cần nghiên cứu các giải pháp quy hoạch các xí nghiệp công nghiệp nhằm hạn chế ô nhiễm công nghiệp và bảo vệ môi trường KCN và đô thị, trên cơ sở thúc đẩy phát triển sản xuất đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường
1.3.Bố trí khu công nghiệp
1.3.1.Nguyên tắc phân bố khu công nghiệp
1.3.1.1.Bố trí các khu công nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội nhằm phát triển nhanh hiệu quả
- Có khả năng tạo ra cơ sở kỹ thuật hạ tầng thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện nước, xử lý môi trường đảm bảo, phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ của khoa học công nghệ, của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp thế giới
- Có khả năng cung cấp hoặc là gần với nguồn nguyên liệu
Trang 21- Có khả năng về thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu.
- Có nguồn lao động đầy đủ về khối lượng, chất lượng đáp ứng cho sản xuất và chi phí tiền lương thích hợp
- Tiết kiệm đất sản xuất nông nghiệp cho năng suất cao, nên sử dụng các khu đất hoang hoá để dùng cho phát triển công nghiệp
- Kết hợp yêu cầu phát triển an ninh quốc phòng trong từng trường hợp
cụ thể của từng khu vực
- Phát triển khu công nghiệp là sự kết hợp chặt chẽ với quy hoạch và quy trình đô thị hoá, phân bố dân cư, hình thành mạng lưới đô thị hài hoà trên các vùng, tránh tập trung xây dựng các đô thị, khu công nghiệp quá lớn
1.3.1.2.Kết hợp cải tạo các khu công nghiệp cũ và phát triển các khu công nghiệp mới theo một kế hoạch mà phù hợp cho phát triển kinh tế theo vùng
- Đối với các khu công nghiệp và cơ sở công nghiệp cũ hiện có, cần đầu
tư chiều sâu, tận dụng năng lực cải tạo, đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm Về kết cấu hạ tầng cần nâng cấp cải tạo để khắc phục ô nhiễm môi trường, phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng các nhà máy mới, cải tạo các nhà máy cũ trong khu công nghiệp
- Đối với khu công nghiệp mới quy hoạch xây dựng cần đầu tư đồng bộ
từ đầu các điều kiện kết cấu hạ tầng cả trong và ngoài khu công nghiệp để phát huy nhanh hiệu quả đầu tư
- Phát triển các hình thức khu công nghiệp đa dạng phong phú, có những
cơ chế mềm cho từng khu công nghiệp để nhằm thu hút mạnh vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Xây dựng một số khu công nghiệp kỹ thuật cao làm hạt nhân cho sự phát triển công nghiệp gắn với công nghệ mới hiện đại
- Phát triển hệ thống khu công nghiệp – cụm - điểm công nghiệp tại các thị xã, thị trấn, thị tứ phục vụ cho công nghiệp chế biến các sản phẩm nông,
Trang 22lâm, ngư nghiệp, đây là mô hình quan trọng trong việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn Việt Nam.
1.3.1.3.Khai thác thế mạnh của các vùng, miền để phát triển khu công nghiệp đều khắp cả nước
Tạo cho mỗi vung miền, mỗi địa phương đều có khu công nghiệp, điểm công nghiệp để thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá, tăng trưởng nhanh, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, đồng thời ưu tiên phát triển các cùng trọng điểm để làm cơ sở thúc đẩy các vùng lân cận phát triển theo
1.3.2.Bố trí khu công nghiệp trong đô thị
Trong điều kiện mức độ đô thị hoá ở Việt Nam còn thấp, phần đông các
đô thị mới hình thành và phát triển, các ranh giới của đô thị được đề cập dưới đây được hiểu là ranh giới của đô thị trong các bản vẽ quy hoạch tổng thể được phê duyệt
Khu công nghiệp bố trí ven thành phố:
Đây là giải pháp dành cho KCN có quy mô chiếm đất lớn cũng như có các xí nghiệp công nghiệp với mức độ gây độc hại thuộc nhóm I, II Chúng có thể phân tán, hoặc nằm về một phía của đô thị
ở dạng bố trí phân tán, KCN có thể tiếp cận thuận lợi với tất cả các bộ phận chức năng khác của đô thị, nhưng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển mở rộng của đô thị sau này Khi đó KCN có thể nằm sâu vào trong đô thị
KCN bố trí về một phía (cuối hướng gió chủ đạo) thường sử dụng trong các thành phố phát triển theo hình thức dải, thuận lợi cho việc phát triển đô thị sau này
Khu công nghiệp nằm cạnh các khu dân cư:
Đây là giải pháp thường sử dụng cho KCN có quy mô chiếm đất nhỏ và trung bình và có mức độ độc hại cấp III, IV Chúng thường nằm dọc theo các
Trang 23trục đường chính của đô thị hoặc đường nối từ đường cao tốc vào đô thị Giải pháp này làm giảm thời gian đi lại của công nhân, cũng như góp phần hạn chế quy mô chiếm đất của đô thị.
Khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp nằm xen kẽ trong các khu dân cư:
Đây là giải pháp sử dụng cho KCN, cụm công nghiệp có quy mô chiếm đất nhỏ với mức độ độc hại cấp IV, V Chúng có thể là các xí nghiệp công nghiệp xây dựng mới, nhưng phần lớn tồn tại trong trường hợp trước kia khu đất công nghiệp nằm ven đô thị, hiện đô thị đựơc mở rộng nên các xí nghiệp công nghiệp này nằm xen vào các khu dân cư Một số xí nghiệp công nghiệp phải di chuyển, số còn lại phải cải tạo lại, chuyển sang sản xuất loại sản phẩm khác để phù hợp với quy định về mức độ độc hại
KCN, cụm công nghiệp nằm tách biệt ngoài đô thị:
Đây là các KCN, cụm công nghiệp bố trí nằm ngoài đô thị không phải
do mức độ độc hại mà do yêu cầu về tổ chức hoạt động hay nhu cầu về vận chuyển Do nằm cách biệt với đô thị nên các KCN và cụm công nghiệp này đòi hỏi phải tổ chức hệ thống hạ tầng xã hội kèm theo Chúng có thể phụ thuộc vào đô thị hiện có hoặc phát triển thành một khu vực độc lập và trong nhiều trường hợp là tiền đề để hình thành một đô thị mới KCN và cụm công nghiệp nằm ngoài đô thị gồm:
- KCN hoặc cụm công nghiệp khai thác khoáng sản, nhiên liệu như các cụm công nghiệp khai thác than, dầu khí
- KCN hoặc cụm công nghiệp các xí nghiệp bảo quản, chế biến tại khu vực nông thôn, miền núi, duyên hải để khai thác nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tại chỗ, hạn chế khối lượng vận chuyển nguyên liệu
- KCN hoặc cụm công nghiệp nằm trên các tuyến đường ra sân bay, cảng
để thuận tiện cho việc nhập nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm
Trang 24- KCN hoặc cụm công nghiệp với hệ thống giao thông quốc gia và cảnh quan tự nhiên tại các vùng ngoại ô Đây là các KCN, cụm công nghiệp thuộc loại hình công nghệ kỹ thuật cao, phát triển đồng bộ cùng với các loại hình chức năng khác như nghiên cứu, thương mại, ở, tạo thành các đơn vị phát triển “công viên khoa học”, “làng khoa học”.
Hình 1.1.Sơ đồ vị trí KCN trong và ngoài đô thị
Trang 25CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1.Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội của Hà Nội
2.1.1.Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên khoáng sản Hà Nội có diện tích là 3346 km2 Năm 2008, dân số của Hà Nội khoảng 6, 3 triệu người
Phần lớn diện tích của Hà Nội và vùng phụ cận là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Khí hậu mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, khoảng 0,5km/km2 Nước sông Hồng và sông Đuống chất lượng tương đối tốt, nhưng các sông khác bị ảnh hưởng nhiều của nước thải sinh hoạt và công nghiệp Khoáng sản khá phong phú và đa dạng với 40 loại như than đá, quặng kim loại, phi kim loại, vật liệu xây dựng
2.1.2.Hạ tầng cơ sở
Hà Nội có hệ thống hạ tầng cơ sở khá hoàn chỉnh bao gồm hệ thống giao thông, điện, nước Hà Nội vừa là cửa ngõ và cũng là đầu mối của tất cả các loại hình giao thông như đường bộ, đường sông, đường sắt và đường hàng không Hà Nội có đường Quốc lộ 1 Bắc Nam đi qua, Quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Bắc Cạn Hà Nội có 2 cảng sông chính là cảng Khuyến Lương và cảng Phà Đen cho phép tàu có trọng tải 2000-3000 tấn cập cảng Sân bay quốc tế Nội Bài với 44 chuyến bay quốc tế và nội địa / ngày, mỗi năm phục
vụ 1, 5 triệu lượt khách
Trang 26Ngoài ra Hà Nội có mạng lưới điện đã được nâng cấp bảo đảm nguồn cung cấp ổn định liên tục Hơn nữa, mạng lưới viễn thông được trang bị hiện đại, tổng đài kỹ thuật số, cáp quang và đã hoà mạng với hệ thống viễn thông toàn cầu Hà Nội có nguồn cung cấp nước dồi dào và ổn định từ sông Cầu và sông Đuống Nguồn nước mặt và nước ngầm cũng tương đối dồi dào và chất lượng tương đối tốt, đảm bảo nhu cầu về nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất.
2.1.3.Nhân lực
Hà Nội là một trong những thành phố có các cơ sở giáo dục và đào tạo phát triển nhất Việt Nam Hiện tại, Hà Nội là nơi có 41 trường dạy nghề, 43 trường đại học cao đẳng với trên 30000 sinh viên, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 3 trường quốc tế và 112 viện nghiên cứu Điều này cho thấy, Hà Nội đang có một lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật đứng đầu cả nước, chiếm trên 62% số cán bộ khoa học và quản lý có trình độ trên đại học của cả nước, với hơn 6050 người có trình độ trên đại học, 20000 người tốt nghiệp đại học,
110000 trung cấp kỹ thuật và lượng công nhân kỹ thuật chiếm 43% lực lượng lao động xã hội Hơn nữa, người dân Hà Nội có trình độ dân trí và tay nghề hiện đại cũng như trình độ quản lý tiên tiến Những điều trên chỉ ra rằng các nhà đầu tư vào Hà Nội sẽ được hưởng những thuận lợi về nguồn nhân lực có
kỹ năng cao, giá thuê lao động rẻ
2.1.4.Kinh tế xã hội
Hà Nội là đầu não chính trị hành chính quốc gia, là trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế Bởi vậy Hà Nội là nơi hội tụ của rất nhiều các công ty lớn, các tập đoàn kinh tế với các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra rất sôi động Với số dân cư đông và có thu nhập khá cao, Hà Nội là một thị trường đầy tiềm năng Ngoài ra, Hà Nội là trung tâm bán buôn hàng hoá rất lớn cho các tỉnh phía Bắc cũng như thị trường Nam Trung Quốc và nước Lào Hà Nội đã và đang có được những thành tựu
Trang 27nổi bật như có sự tăng trưởng tương đối cao và ổn định trong nhiều năm So với cả nước, Hà Nội chiếm 1% lãnh thổ, 7,5% dân số nhưng chiếm 12,6% GDP và hàng năm đóng góp 12% tổng thu ngân sách nhà nước.
Bảng 2.1.Tổng sản phẩm nội địa theo giá thực tế
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm GDP Nông - Lâm -
Thuỷ sản
Công nghiệp – Xây dựng
Dịch vụ
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội
Sự tăng trưởng kinh tế cao của Hà Nội đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của cả đất nước Sự phát triển kinh tế xã hội thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thích hợp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế đến lượt nó thúc đẩy kinh tế Thủ đô phát triển ở tất
cả các ngành và lĩnh vực
Riêng lĩnh vực công nghiệp đã có bước tiến vượt bậc Tính đến 31/12/2007 Hà Nội có 209 doanh nghiệp công nghiệp nhà nước, 3734 doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước, 250 doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng trên 326 nghìn lao động Tốc độ tăng bình quân hàng năm giá trị sản xuất công nghiệp liên tục ở mức rất cao
Việc xem xét các điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế xã hội của Hà Nội với tư cách là thủ đô của cả nước, cho phép rút ra một số nét đặc thù của thành phố Đó là: Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, kết cấu hạ tầng và giao dịch quốc tế, là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước và của đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ Hà Nội có nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào nhất trong cả nước, có lợi thế về kết cấu hạ tầng, về giao thông, về thị
Trang 28trường Đặc biệt Hà Nội có một nền công nghiệp đa ngành được hình thành
và phát triển rất sớm
2.2.Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
2.2.1.Bối cảnh ra đời KCN và cụm công nghiệp ở Hà Nội
Trong những năm đầu hoà bình lập lại, Hà Nội đã hình thành và xây dựng một số khu, cụm công nghiệp như: KCN Thượng Đình (bao gồm nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá), khu – cụm công nghiệp Gia Lâm - Đức Giang – Cầu Đuống, khu- cụm công nghiệp Trương Định - Đuôi Cá…Tuy nhiên, sự ra đời của các khu, cụm công nghiệp này được thực hiện trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nhằm phục vụ cho yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ kinh tế – xã hội lúc bấy giờ Do đó, việc quy hoạch, xác định chức năng, mục đích và nhiệm vụ cho các cụm công nghiệp này còn thiếu tính tổng thể, thiếu tính liên kết kỹ thuật giữa các ngành, đặc biệt là chưa mang tầm nhìn dài hạn Nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước với sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời các KCN và cụm công nghiệp với những nội dung mới phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và phương thức sản xuất hiện đại
Xác định rõ xu hướng tất yếu của sự hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá, từng bước vượt qua những khó khăn thách thức, từng bước mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Một trong những thành công nổi bật trong lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Với xu hướng này, năm 1991, KCX đầu tiên của Việt Nam ra đời nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho công tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Tại Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 1 năm 1991 đã xác
Trang 29định: “Quy hoạch các vùng, trứơc hết là các địa bàn trọng điểm, các KCX, khu kinh tế đặc biệt, KCN tập trung.” Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công nghiệp, nhà nước Việt Nam quyết định chủ trương phát triển các KCN tập trung theo quy hoạch Phát triển KCN nhằm đáp ứng các mục tiêu tạo đà tăng trưởng về công nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạo thêm việc làm và từng bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh
sự tự phát, phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư để phát triển hạ tầng, hạn chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Đồng thời phát triển KCN cũng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ phát triển, tạo đà cho việc phát triển các vùng công nghiệp, phân bố lại lực lượng sản xuất.Hơn nữa, một số khu, cụm công nghiệp xây dựng trong quá khứ nằm khu vực nội đô Sự phát triển các làng nghề truyền thống, và đặc biệt phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân đã đòi hỏi Hà Nội phải nhanh chóng tạo ra những khu công nghiệp theo mô hình và nội dung mới nhằm giải quyết những bất cập và đáp ứng những nhu cầu phát triển mới của ngành công nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô nói chung
Như vậy, để giải quyết những bất cập của những quy hoạch cũ trong việc phát triển sản xuất công nghiệp, đáp ứng những yêu cầu mới của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà các khu công nghiệp và cụm công nghiệp
đã đựơc hình thành trên địa bàn Hà Nội
2.2.2.Sự phát triển KCN và cụm công nghiệp thời kỳ trước năm 1993
Các dạng mô hình KCN và cụm công nghiệp được hình thành vào những năm 60 và 70 của thập kỷ trước, có tiếp thu các cơ sở sản xuất công tư hợp danh, một số nhà máy, xí nghiệp do Pháp để lại và bước đầu tạo lập một số ngành công nghiệp mới trong thời kỳ khôi phục kinh tế Theo báo cáo của Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội thì có 9 KCN, cụm công nghiệp cũ đã được
Trang 30hình thành trên địa bàn Hà Nội những năm cuối thập kỷ 50 cho đến thập kỷ
80 với tổng diện tích đất đai lên tới 320ha, chiếm 44,3% tổng số các doanh nghiệp quốc doanh (cả trung ương và địa phương), thu hút 39% lao động công nghiệp của toàn thành phố, sử dụng 43,1% tổng tài sản cố định của công nghiệp quốc doanh trên địa bàn Hà Nội Đó là:
Khu công nghiệp Minh Khai – Vĩnh Tuy – Mai Động:
- Diện tích: 81ha
- Địa điểm xây dựng: Nằm ở Đông Nam thành phố, gần với cảng Hà Nội
và cảng Khuyến Lương, Quốc lộ 1A, gần đường sắt Quốc gia thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá, tổ chức hệ thống kho tàng bến bãi cho khu công nghiệp Tuy vậy, các xí nghiệp công nghiệp phân bố trên trục đường Minh Khai nên việc vận chuyển hành khách cho khu công nghiệp sẽ dẫn đến việc ách tắc giao thông
- KCN nằm xen kẽ trong dân cư, bố trí xí nghiệp tuỳ tiện với các ngành
cơ khí, dệt sợi, da giầy, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm.Trong đó ngành chủ đạo là sợi, dệt, may mặc chiếm 80% giá trị sản lượng và 61% lao động [2]
Khu công nghiệp Trương Định - Đuôi Cá:
- Diện tích: 32ha
- Nhóm ngành gồm: cơ khí, chế biến lương thực, thực phẩm, sành sứ thuỷ tinh và chế biến gỗ Ngành chủ đạo: chế biến lương thực 73% giá trị sản lượng và 32% lao động Cơ khí 26% giá trị sản lượng công nghiệp và 32% lao động [3]
- Xây dựng từ lâu nằm xen với khu dân cư, giao thông ở khu vực này hẹp, ách tắc Cơ sở hạ tầng kém, mức độ ô nhiễm cao
Khu công nghiệp Văn Điển – Pháp Vân:
- Diện tích: 39ha
Trang 31- Nhóm ngành gồm: cơ khí, hoá chất, phân bón, vật liệu xây dựng, sành
sứ thuỷ tinh, chế biến gỗ Ngành chủ đạo: Hoá chất phân bón 53% giá trị sản lượng và 33% lao động Cơ khí 38% giá trị sản lượng và 15% lao động [4]
- Các xí nghiệp công nghiệp xây dựng từ lâu, thiết kế xây dựng theo công nghệ lạc hậu cũ kỹ, công suất chỉ đạt 50% Tuy không xen kẽ trong dân
cư nhưng bố trí phân tán, gây ô nhiễm môi trường cao
Khu công nghiệp Thượng Đình – Nguyễn Trãi:
- Diện tích: 76ha
- Nhóm ngành: Cơ khí, hoá chất, cao su, chế biến thực phẩm, dệt, may, sành sứ thuỷ tinh, da giầy Ngành chủ đao: Cơ khí 15% giá trị sản lượng và 13% lao động Hoá chất 18% giá trị sản lượng và 14% lao động Thực phẩm 46% giá trị sản lượng và 10% lao động
- Một số xí nghiệp nằm xen kẽ với khu ở gây ách tắc giao thông trên trục đường 6 Ô nhiễm môi trường cao và thiết bị quá lạc hậu
Khu công nghiệp Cầu Diễn – Mai Dịch:
- Diện tích: 27ha
- Nhóm ngành gồm: cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ Ngành chủ đạo: Chế biến thực phẩm 55% giá trị sản lượng
và 55% lao động Hoá chất 18,7% giá trị sản lượng và 15% lao động [5]
- Các xí nghiệp công nghiệp bố trí phân tán, xen kẽ dân cư, tuy mới xây dựng nhưng chất lượng sản phẩm chưa cao, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường cao
Khu công nghiệp Gia Lâm – Yên Viên:
- Diện tích: 38ha
- Nhóm ngành gồm: Cơ khí, vật liệu xây dựng, hoá chất, sành sứ thuỷ tinh, chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến gỗ, lâm sản, da giầy, công nghiệp may Ngành chủ đạo: Cơ khí 38% giá trị sản lượng công nghiệp và
Trang 3234% lao động Chế biến gỗ 22% giá trị sản lượng và 16% lao động [6]
- Các xí nghiệp công nghiệp xây dựng từ lâu, bố trí phân tán và gây ô nhiễm môi trường cao
Khu công nghiệp Đông Anh:
- Bố trí rải rác phân tán, hệ thống hạ tầng chưa hoàn chỉnh
Khu công nghiệp Chèm:
- Diện tích: 14ha
- Nhóm ngành gồm: Vật liệu xây dựng, sản xuất bao bì, dệt Ngành chủ đạo: Vật liệu xây dựng 72% giá trị sản lượng và 57% lao động Bao bì 15% giá trị sản lượng và 27% lao động [8]
- Các xí nghiệp xây dựng phân tán Thiết bị công nghệ lạc hậu
Khu công nghiệp Cầu Bươu:
- Diện tích: 4ha
- Nhóm ngành gồm: Hoá chất, cơ khí, vật liệu xây dựng Ngành chủ đạo: Hoá chất 57% giá trị sản lượng và 21% lao động Cơ khí 36% giá trị sản lượng và 50% lao động [9]
- Công nghiệp lạc hậu, bố trí phân tán, thiết bị cũ kỹ
Các khu công nghiệp nêu trên được xây dựng cách đây từ 20 đến trên 45 năm nên vẫn theo mô hình cũ Cách gọi đối với chúng có thể là khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cũng có thể là sự đan xen giữa khu – cụm công nghiệp, bởi vì thực chất chúng nằm xen kẽ, rải rác, phân tán cả với dân cư và các cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội khác, không chú trọng hệ thống cơ sở hạ
Trang 33tầng, không có tổ chức quản lý theo từng khu một cách chặt chẽ, không có sự
hỗ trợ lẫn nhau và trước đây hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước
Như vây, các khu, cụm công nghiệp này đã hình thành với những xí nghiệp công nghiệp phân bố trong đô thị cũ, số lượng khá lớn và được xây dựng trên một hạ tầng kỹ thuật yếu kém và không đồng bộ Các xí nghiệp do nhiều đơn vị riêng rẽ tập hợp trong một khu vực mà không có sự hợp tác chuyên môn hoá sản xuất Hầu hết các xí nghiệp có quy mô nhỏ, thiết bị hầu hết đã lạc hậu, cơ sở hạ tầng xuống cấp và sử dụng nhiều lao động có tay nghề thấp Hiện tại, những khu, cụm công nghiệp này có mức độ độc hại, ô nhiễm cao và hiệu quả kinh tế thấp Từ thực tế trên, thành phố Hà Nội đã có phương án xử lý là di chuyển các xí nghiệp, trong những khu, cụm công nghiệp này, trước hết là những xí nghiệp có mức độ gây ô nhiễm cao và điều kiện sản xuất không thích hợp đưa ra ngoại thành hoặc vùng phụ cận Các xí nghiệp cùng ngành nghề sẽ được xử lý theo hướng giải thể, di chuyển hoặc sáp nhập Những xí nghiệp công nghiệp còn lại có điều kiện phát triển thì sẽ tiến hành đổi mới thiết bị, xây dựng bổ sung hoàn chỉnh dây chuyền công nghệ hiện đại Việc cải tạo, bổ sung nâng cấp công trình kỹ thuật hạ tầng diễn
ra đồng thời với việc hoạch định lại ranh giới cụ thể và tách với phần dân cư
Đi đôi với việc giảm dần các khu công nghiệp nằm trong nội đô, những năm gần đây thành phố đã xây dựng mới nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp với hệ thống hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh, đạt tiêu chuẩn quy định và có hình thức quản lý chặt chẽ Các khu công nghiệp và cụm công nghiệp này được xây dựng trên những địa điểm thuận lợi cho phát triển như: gần sân bay, bến cảng, đường sắt và đường quốc lộ Đến nay, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các khu này đang hoạt động có hiệu quả cao và các khu công nghiệp này thực sự trở thành những ngôi nhà mới,
mở rộng cửa đón các doanh nghiệp Trong quá trình di dời, các doanh nghiệp
Trang 34đựơc hưởng những chính sách hỗ trợ ưu đãi của thành phố như là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục phát triển bền vững theo quy hoạch phát triển Thủ đô.
Như vây, các khu công nghiệp được xây dựng trước năm 1993 thường thiếu tính quy hoạch tổng thể, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu tính hợp tác trong sản xúât giữa các doanh nghiệp Những vấn đề trên đòi hỏi phải có cách nhìn mới, phải tiến hành quy hoạch lại và phát triển các khu công nghiệp cho phù hợp với tình hình hiện nay
2.2.3.Sự phát triển khu công nghiệp và cụm công nghiệp thời kỳ sau năm 1993
Việc hình thành xây dựng và phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất là một trong những nội dung cơ bản của quyết sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong tiến trình này, từ năm 1995, Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Ban quản lý Khu công nghiệp và chế xuất nhằm thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất tại Thủ đô
Qua hơn 15 năm đi vào hoạt động đến nay, Hà Nội đã hình thành 11 khu công nghiệp tập trung theo mô hình mới và quy hoạch được 16 khu cụm công nghiệp vừa và nhỏ
2.2.3.1.Đối với các khu công nghiệp tập trung
Khu công nghiệp Sài Đồng B:
Là khu công nghiệp tập trung đầu tiên theo mô hình hiện đại tại Hà Nội, nằm ở thị trấn Sài Đồng, huyện Gia Lâm, đựơc Chính phủ cấp phép năm 1997 (Theo quyết định 151/TTg ngày 11-3-1996 và quyết định 583/TTg ngày 26-7-1997) Đây là khu công nghiệp có chủ đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn trong nước do Công ty Điện tử Hà Nội (Hanel) làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là 163 tỷ động Diện tích theo quy hoạch là
Trang 3597ha, trong đó, diện tích xây dựng công nghiệp là 78ha Để tổ chức quản lý
dự án, Công ty Hanel đã thành lập Ban Quản lý KCN Sài Đồng B thực hiện giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng KCN
Năm 2003, theo công ty Điện tử Hà Nội (Hanel)- chủ đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng KCN Sài Đồng B, có 62% diện tích KCN Sài Đồng đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng với diện tích 48,5 ha (theo qui hoạch diện tích của KCN này là 78,38 ha), trong đó 38, 5 ha đất dành để xây dựng nhà máy và 10 ha là đường giao thông Công ty cho biết, hiện nay đã có 24 doanh nghiệp vào hoạt động trong đó có 18 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm 7 liên doanh, 11 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, diện tích cho thuê là 48,5ha, chiếm 61% diện tích cho thuê của khu công nghiệp, 6 doanh nghiệp trong nước đầu tư vào khu công nghiệp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất điện, điện tử, các ngành công nghệ kỹ thuật cao
Khu công nghiệp Bắc Thăng Long:
Đây là khu công nghiệp tập trung hiện đại nằm tại huyện Đông Anh Chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN là liên doanh giữa Sumitomo Corporation của Nhật Bản và Công ty cơ khí Đông Anh thuộc Tổng Công ty xây dựng cơ sở hạ tầng Licogi (Bộ Xây dựng) với thời hạn hoạt động 50 năm, tổng vốn đầu tư là 76, 8 triệu USD Khu công nghiệp Bắc Thăng Long được
Bộ Kế hoạch & Đầu tư cấp giấy phép đầu tư số 1845/GĐ ngày 22/2/1997 Theo thiết kế được phê duyệt, diện tích giai đoạn 1 KCN Bắc Thăng Long là 121ha, tổng diện tích cho thuê 87ha là khu công nghiệp có hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh bao gồm các dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư như bưu điện, ngân hàng, hải quan, trung tâm phân phối hàng hoá…được triển khai đồng bộ, thông thoáng nên đến nay đã lấp đầy được trên 70% diện tích Các ngành sản xuất chủ yếu đầu tư vào khu công nghiệp Bắc Thăng Long gồm sản phẩm điện tử viễn thông và các sản phẩm công nghiệp
Trang 36tiêu dùng Sau hơn 2 năm thực hiện thu hút đầu tư, kết thúc giai đoạn 1, KCN Bắc Thăng Long đã thu hút được 12 dự án với tổng vốn đầu tư 172 triệu USD
và sử dụng hơn 45ha đất công nghiệp (chiếm 60% diện tích đất cho thuê) Năm
2003, Ban quản lý KCN Bắc Thăng Long đã trình các bộ, ngành liên quan xin
mở rộng giai đoạn 2 Theo dự kiến, giai đoạn 2 của KCN rộng hơn 77ha, trong
đó diện tích đất dành cho công nghiệp là hơn 58ha với vốn đầu tư khoảng 23, 4 đến 25 triệu USD Được biết, theo quy hoạch chi tiết đã được Thành phố phê duyệt, tổng diện tích KCN Bắc Thăng Long là 295ha
Khu công nghiệp Nội Bài (Sóc Sơn):
Theo giấy phép đầu tư số 839/GP ngày 12/4/1994 của Uỷ ban Nhà nước
về Hợp tác và Đầu tư và giấy phép điều chỉnh số 839/GPĐC ngày 7/6/1996 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Công ty TNHH phát triển Nội Bài đựơc thành lập trên cơ sở liên doanh giữa Công ty Renong Malaysia và Công ty Xây dựng Công nghiệp Hà Nội (Sở Xây dựng Hà Nội) với số vốn đầu tư là 29, 95 triệu USD KCN Nội Bài nằm sát sân bay quốc tế Nội Bài, dự kiến có quy mô 240ha, trong đó giai đoạn 1 dự kiến là 100ha Đến nay dự án đã hoàn thành việc xây dựng hạ tầng với diện tích 50ha Đến năm 2007, thu hút đựơc 7 dự
án đầu tư với diện tích cho thuê 9, 1ha tập trung vào ngành sản xuất sản phẩm
cơ khí máy móc
Khu công nghiệp Hà Nội - Đài Tư:
Được xây dựng ở Gia Lâm, chủ đầu tư là Công ty TNHH phát triển Hà Nội - Đài Loan với 100% vốn cảu phía Đài Loan được hoạt động theo giấy phép đầu tư số 1358/GP của Bộ Kế hoạch & Đầu tư Dự kiến vốn đầu tư là 14.000.000 USD Diện tích của KCN này là 40ha, ngành sản xuất chính: sản phẩm điện tử, chế biến nông sản thực phẩm, máy móc và đồ gia đình Hiện có
4 dự án được cấp phép hoạt động với diện tích đất thuê gần 5ha
Trang 37 Khu công nghiệp Sài Đồng A:
Chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là Công ty Dăewoo – Hanel thành lập trên cơ sở liên doanh giữa Dăewoo Corporation và Công ty Điện tử Hà Nội C (Hanel) với tổng số vốn đầu tư là 45.903.000 USD Diện tích được phê duyệt
là 420ha trong đó diện tích xây dựng đất công nghiệp là 197ha Ngành sản xuất chính: công nghiệp ô tô và lốp, công nghiệp điện tử, linh kiện cơ khí Hiện nay dự án chưa được triển khai do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới, tập đoàn Dăewoo phải thực hiện cải tổ lại làm thay đổi bên đối tác nước ngoài trong Công ty Dăewoo – Hanel Ngày 19/8/2002,
Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã chuẩn y việc thay đổi đối tác này bằng giấy phép đầu tư số 1595/GPĐC
Khu công nghiệp Nam Thăng Long:
KCN này nằm ở phía Nam cầu Thăng Long thuộc huyện Từ Liêm, dự kiến có diện tích 218ha Chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của KCN này được giao cho Công ty phát triển hạ tầng Hiệp hội công thương Hà Nội theo quyết định số 3711/QĐ - UB ngày 25/7/2000 của UBND Thành phố Hà Nội
Về công năng của KCN này có sự thay đổi, chủ yếu dùng để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước tham gia
Khu công nghệ cao Hoà Lạc:
Cách trung tâm Hà Nội 30km về phía Tây, nằm trên trục đường Láng – Hoà Lạc gồm 10 làn đường, rộng 140m và đường Quốc lộ số 21, liền kề với đường vành đai 3 đi sân bay Nội Bài và cảng Hải Phòng Khu công nghệ cao Hoà Lạc vừa được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh quy hoạch lên tới 1.568
ha, bao gồm cả Khu công nghiệp Bắc Phú Cát – Hà Tây Đây sẽ là trung tâm nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ cao tầm cỡ quốc gia, nơi ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển sản xuất,
Trang 38đã có 2 đơn vị đăng ký xây trường là ĐH KHCN Hà Nội và ĐH FPT Khu nghiên cứu rộng 549, 5ha hiện đã thu hút 413 triệu USD đầu tư Đến nay đã giải phóng mặt bằng được gần 700ha tính cả KCN Bắc Phú Cát Đã có gần 30
dự án đầu tư vào đây với tổng vốn đầu tư trên 570 triệu USD và quan trọng là suất đầu tư vào đây đạt khoảng 9, 3 triệu/ha đất, cao nhất cả nước Theo quy hoạch khu công nghệ cao Hoà Lạc sẽ có dân số là khoảng 14 vạn người vào năm 2015 Đây sẽ là một thành phố khoa học trong tương lai
Khu công nghiệp Quang Minh:
Gồm Quang Minh 1, Quang Minh 2 và Quang Minh mở rộng Khu công nghiệp nằm trên đường cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài, cách sân bay Nội Bài 4km, cách cảng Hải Phòng 110km, cách cảng Quảng Ninh – Cái Lân 160km Tổng diện tích 850ha Hiện đã có 138 dự án DDI và 22 dự án FDI Trong đó 100% diện tích KCN Quang Minh 1 (345ha) đã được thuê KCN Quang Minh 2 là 402ha, đã được thuê 87, 2ha KCN Quang Minh mở rộng gồm 100ha Nhóm dự án kêu gọi đầu t ư: Sản xuất phụ tùng cơ khí, điện tử, điện lạnh, trang thiết bị nội thất, sản xuất chế biến lương thực thực phẩm
Khu công nghiệp Thạch Thất Quốc Oai:
Nằm trên đường cao tốc Láng – Hoà Lạc, cách sân bay Nội Bài 18km, cách cảng Hải Phòng 110km, cách cảng Quảng Ninh – Cái Lân 120km Khu công nghiệp có quy mô 154ha (40% diện tích đã được lấp đầy với hơn 30 nhà đầu tư)
Khu công nghiệp Kim Hoa:
Thuộc huyện Mê Linh, cạnh quốc lộ số 2, cách ga đường sắt tuyến Hà Nội – Lào Cai gần 1km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 12km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 35km, cách cảng Hải Phòng, Cái Lân khoảng 160km Có tổng diện tích 56ha Nhóm dự án kêu gọi đầu tư: Dụng cụ y tế, cơ khí nông nghiệp, khuôn kim loại, hoá chất cơ bản, sản xuất thiết bị điện tử công nghiệp và điện
Trang 39dân dụng, chế tạo linh kiện điện tử, chế biến nông sản, thực phẩm.
Các khu công nghiệp tập trung hiện nay hoạt động theo nhiều hình thức như chủ đầu tư là liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và một bên là doanh nghiệp nước ngoài hoặc hình thức chủ đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, 100% vốn Việt Nam Các khu công nghiệp đều có địa điểm phù hợp như: gần sân bay, cảng sông, đường sắt và đường bộ quốc gia Các hạng mục hạ tầng cùng với những chính sách ưu đãi trong đầu tư tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình đầu tư vào các KCN tính đến 31.12.2007 STT Tên KCN Số
dự án
Vốn đăng ký (nghìn USD)
Vốn pháp định (Tỷ VND)
Vốn pháp định (nghìn USD)
Diện tích thuê đất (m 2 )
Tỉ lệ lấp đầy
(Nguồn: Ban quản lý các KCN và CX Hà Nội)
2.2.3.2.Đối với các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ
Sự hình thành các khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp sản xuất tập trung xuất phát từ nhu cầu bức xúc của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đến hết năm 2002, Thành phố đã cấp giấy phép thành lập hơn 11.000 công ty, doanh nghiệp hầu hết là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (có vốn đầu tư dưới 10 tỷ đồng) Với một đội ngũ đông đảo các công
Trang 40ty vừa và nhỏ này, nhu cầu về việc phát triển KCN vừa và nhỏ là rất lớn.
Để phát huy nội lực của các thành phần kinh tế, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 17/CP – KCN ngày 15/10/1998, Thành phố
đã tiến hành xây dựng thí điểm 2 KCN vừa và nhỏ Phú Thị (Gia Lâm) và Vĩnh Tuy (Thanh TrìT) Tại các khu công nghiệp này, thành phố đầu tư cung cấp điên, nước sạch, bưu chính viễn thông cung ứng tới hàng rào các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào và một phần trong hàng rào Là một trong hai KCN vừa và nhỏ đầu tiên của Thành phố, KCN vừa và nhỏ Vĩnh Tuy có diện tích 12,12ha, trong đó đất xây dựng nhà xưởng 8,03ha, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khoảng 31, 639 tỷ đồng Từ năm 1999 đến nay, Thành phố hỗ trợ cho công tác lập báo cáo khả thi, thiết
kế xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào, đền bù giải phóng mặt bằng phần hạ tầng chung trong KCN với kinh phí 8, 310 tỷ đồng, nếu cả dự án điện
do Công ty Điện lực Hà Nội thực hiện thì tổng kinh phí hỗ trợ là 14, 41 tỷ đồng Từ những chủ trương tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, diện tích KCN Vĩnh Tuy đã được 18 doanh nghiệp thuê hết diện tích Vốn đầu tư của các doanh nghiệp cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật khoảng
23 tỷ đồng và nhà xưởng khoảng 50-60 tỷ đồng, thu hút khoảng 1000 lao động Tại KCN vừa và nhỏ Vĩnh Tuy khi thực hiện chính sách, nhất là đối với chính sách giải phóng mặt bằng, được sự giúp đỡ của thành phố, việc đền bù được áp dụng thống nhất với tất cả các nhà đầu tư, mô hình này hơn hẳn việc
tự các nhà đầu tư thực hiện đơn lẻ dự án dẫn đến sự chênh lệch giữa mức bồi thường và mức thoả thuận khác Những quan tâm và ưu đãi của thành phố đã thu hút được các doanh nghiệp tham gia vào các KCN vừa và nhỏ này Trong khi công suất của các KCN tập trung của thành phố mới đạt tỷ lệ trung bình là 48,75% thì các KCN vừa và nhỏ đã thu hút sự quan tâm của nhiều doanh