Quản lý tập trung kinh tế. Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong tiến
trình hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế Sự thâm nhập của
các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước ngày càng sâu rộng Nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong đó có các tập đoàn đa quốc gia, đầu tư vào Việt Nam bằng cách mua lại các doanh nghiệp trong nước Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cũng có xu hướng cấu trúc lại bằng cách mua lại, sáp nhập với các doanh nghiệp khác để mở rộng quy mô hoạt động; tìm kiếm, mở rộng thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh
Đặc biệt chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát đã làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh Vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp được đặt ra như một phương án giúp các doanh nghiệp tìm kiếm những cơ hội phát triển mới, tăng quy mô hoạt động nhằm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhìn chung, tập trung kinh tế ở Việt Nam đang được đặt ra như một giải pháp chiến lược của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, xu hướng này gia tăng sẽ hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnh chi phối thị trường, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh mà chính phủ Việt Nam đang nỗ lực cải thiện Quản lý tập trung kinh tế đang được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy,
nghiên cứu đề tài “Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam” là rất cần
thiết
Với mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để tăng cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới, đề tài được
Trang 2kết cấu gồm bốn chương như
sau:
Chương I Cơ sở lý luận về tập trung kinh tế Nội dung của chương
xây dựng khung lý thuyết chung về tập trung kinh tế và công tác quản lý tập trung kinh tế
Chương II Kinh nghiệm quản lý tập trung kinh tế trên thế giới
Nội dung của chương tập trung nghiên cứu quá trình tập trung kinh tế và công tác quản lý tập trung kinh tế ở một số quốc gia trên thế giới đã có nhiều thành công trong quản lý tập trung kinh tế nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương III Thực trạng tập trung kinh tế và công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam thời gian qua Nội dung của chương là nghiên
cứu thực trạng tập trung kinh tế, công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam; phân tích những thành tựu cũng như những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại đó trong quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam
Chương IV Kiến nghị tăng cường công tác quản lý TTKT ở Việt Nam Nội dung của chương là phân tích xu hướng TTKT ở Việt Nam trong
thời gian tới đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế đã tìm ra ở chương III và những giải pháp cho yêu cầu đặt ra trong quản lý TTKT thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hướng tới nội dung nghiên cứu trong các chương như trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 3Thứ nhất, các hình thức,
mức độ tập trung kinh tế ở Việt
Nam và một số quốc gia trên thế
giới
Thứ hai, khung pháp lý
điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Thứ ba, các cơ quan có chức năng quản lý tập trung kinh tế ở Việt
Nam và một số quốc gia trên thế giới
Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phân tích, kết hợp với phương pháp phân tích – tổng hợp thông tin trong các tài liệu thống kê, các báo cáo, nghiên cứu, phân tích hiện có của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương Việt Nam và các cơ quan khác có liên quan, thu thập tài liệu trên các sách, báo, tạp chí, website chính thức của cơ quan quản lý cạnh tranh một số quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Nguyễn Thị Hoa cùng các cán
bộ của Cục Quản lý cạnh tranh đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt giúp em hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu nhưng do hạn chế về kiến thức cũng như thời gian nghiên cứu nên đề tài không không tránh khỏi những thiếu sót
Em kính mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để kết quả nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thiết thực trong thực tiễn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ
I. Một số vấn đề cơ bản về tập trung kinh tế
1. Khái niệm và hình thức tập trung kinh tế
1.1 Khái niệm tập trung kinh tế
Khái niệm tập trung kinh tế được xem xét trên cơ sở nền kinh tế thị trường- nơi các chủ thể kinh tế tồn tại độc lập và có quyền tự chủ trong các quyết định sản xuất- kinh doanh của mình Khái niệm tập trung kinh tế được xem xét theo hai cách tiếp cận cơ bản như sau:
1.1.1 Dưới góc độ cấu trúc thị trường
Với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của
cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất Cách nhìn nhận này đã
làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị
Trang 5trường cạnh tranh Tuy nhiên,
dường như quan điểm trên đã
coi hiện tượng tích tụ tư bản là
một phần của khái niệm tập
trung kinh tế
1.1.2 Dưới góc độ là hành vi của các doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Khái niệm này không
đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế nhưng lại cho thấy bản chất
và phương thức của hiện tượng
Như vậy, dù nhìn ở góc độ nào thì các nhà khoa học kinh tế cũng có sự thống nhất về bản chất của tập trung kinh tế gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, TTKT có thể hiểu là quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, tái
cấu trúc thị trường nhờ vào: sự tăng trưởng nội sinh, sự rút khỏi thị trường của một số doanh nghiệp, hiện tượng gia nhập thị trường của một số doanh nghiệp; sự sáp nhập của một số doanh nghiệp (tăng trưởng ngoại sinh)
Thứ hai, chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động
trên thị trường Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan
Thứ ba, tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế,
từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường
Tuy nhiên, mức độ tác động của TTKT tới tương quan cạnh tranh trên thị trường là khác nhau tuỳ thuộc vào các hình thức TTKT khác nhau
1.2 Các hình thức tập trung kinh tế
Trang 6Có nhiều cách phân chia
các hình thức TTKT Nhưng để
phân biệt được tác động của
TTKT đối với mức độ cạnh
tranh và tương quan cạnh tranh
trên thị trường, chúng ta có thể phân chia các hình thức tập trung kinh tế theo
ba tiêu chí dưới đây
1.2.1 Căn cứ vào cách thức tập trung kinh tế trên thị trường
TTKT được chia thành bốn hình thức sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc
một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại
Liên doanh giữa các doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp
cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới
1.2.2 Căn cứ vào mức độ liên kết trong hoạt động tập trung kinh tế
TTKT được chia thành 2 hình thức sau:
Tập trung kinh tế chặt chẽ (tổ hợp) bao gồm các hành vi tập trung kinh
tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khá chặt chẽ về quyền sở hữu, về tài sản Theo đó, các hành vi tập trung kinh tế
Trang 7như: sáp nhập, hợp nhất, mua lại
doanh nghiệp có thể nói là
những hình thức tập trung kinh
tế khá chặt chẽ
Tập trung kinh tế không
chặt chẽ bao gồm các hành vi tập trung kinh tế trong đó sự liên kết giữa các
doanh nghiệp tham gia tập trung không chặt chẽ về quyền sở hữu hay tài sản
Một hành vi tập trung kinh tế có thể coi là chặt chẽ hay không chặt chẽ còn phụ thuộc vào quy mô tài sản hay phạm vi quyền, lợi ích hợp pháp được chuyển nhượng trong khi thực hiện tập trung kinh tế
Như vậy, tập trung kinh tế chặt chẽ là hình thức tập trung phức tạp và
có thể gây hạn chế cạnh tranh hơn so với hành vi tập trung kinh tế không chặt chẽ
1.2.3 Căn cứ vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp độ kinh doanh của các ngành kinh tế
TTKT thường được phân chia thành 3 hình thức sau:
Tập trung kinh tế theo chiều ngang là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong cùng một giai đoạn sản xuất trong một chuỗi giá trị và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tương tự nhau hay có thể hiểu là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng một thị trường liên quan (bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan)
Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
Và thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương
Trang 8tự nhau và có sự khác biệt đáng
kể với các khu vực lân cận
Tập trung kinh tế theo
chiều dọc là sự sáp nhập, hợp
nhất, mua lại hoặc liên doanh
giữa các doanh nghiệp nằm trong các giai đoạn sản xuất khác nhau của cùng một chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nào đó hay còn gọi là các doanh nghiệp có quan hệ người mua- người bán (gồm quan hệ cung cấp- sản xuất hoặc sản xuất- bán lẻ)
Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp (dạng tập đoàn-conglomerate) là sự
hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là nhằm phân tán rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
Như vậy, TTKT có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Với mỗi góc độ tiếp cận, chúng ta có thể nhận dạng TTKT qua các hình thức TTKT khác nhau Tuy nhiên, để đánh giá một thị trường là tập trung cao hay thấp hoặc đánh giá một hành vi TTKT gây ra những tác động như thế nào tới tương quan cạnh tranh trên thị trường và cấu trúc thị trường đó, chúng ta cần
có hệ thống các tiêu chí đánh giá
2 Các phương pháp đo lường mức độ tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế là một hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp đồng thời
tự nó làm thay đổi cấu trúc thị trường Cấu trúc thị trường quyết định tương quan cạnh tranh trên thị trường, ảnh hưởng tới các quyết định sản xuất- kinh doanh của các chủ thể kinh tế trên thị trường và đến một mức độ nào đó, các
Trang 9hành vi của các doanh nghiệp
trên thị trường có thể không
tuân theo các quy luật của nền
kinh tế thi trường như: quy luật
giá trị, quy luật cung- cầu, quy
luật cạnh tranh Vì vậy, có thể coi mức độ tập trung kinh tế là một thước đo khá chính xác trong việc đánh giá mức độ cạnh tranh trên thị trường
Mức độ tập trung kinh tế phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp và quy mô tương đối của các doanh nghiệp trên thị trường
Quy mô tương đối của một doanh nghiệp có thể được đo bằng thị phần của doanh nghiệp theo doanh thu, theo tài sản hoặc theo số lượng lao động
Có một số phương pháp đo mức độ tập trung kinh tế dựa vào thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan (gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan) như sau
2.1 Đường cong Lorenz và hệ số Gini
Khái niệm đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của tổng thị phần trên thị trường (100%) được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của các nhóm doanh nghiệp trên thị trường
Cách sử dụng phương pháp đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông với hai cạnh
là hai trục của một hệ trục toạ độ Oxy Trục tung Oy biểu diễn phần trăm thị phần cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị trường (từ 0 – 100%), trục hoành Ox biểu diễn phần trăm số doanh nghiệp cộng dồn của các nhóm doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự thị phần tăng dần (từ 0 – 100%)
Trang 10
Hình 1.1- Đường cong Lorenz
Tất cả các đường cong Lorenz đều xuất phát từ gốc O của hình vuông
và kết thúc ở điểm H đối diện (Hình 1.1) Tại điểm O: 0% số doanh doanh nghiệp chiếm 0% thị phần trên thị trường Tại điểm H: 100% số doanh nghiêp chiếm 100% thị phần trên thị trường Đường phân giác OH là đường bình đẳng tuyệt đối Nghĩa là bao nhiêu phần trăm số doanh nghiệp chiếm bấy nhiêu phần trăm thị phần trên thị trường Khi đó, có thể nói mức độ tập trung thị trường là thấp nhất Còn nếu một doanh nghiệp nào đó chiếm 100% thị
Trang 11phần còn các doanh nghiệp
khác không có một chút thị
phần nào thì đường cong
Lorenz biểu diễn sự phân phối
thị phần này sẽ có dạng hình
chữ L với hai cạnh là cạnh đáy và một cạnh bên phải của hình vuông Đây chính là đường phân phối thị phần bất bình đẳng tuyệt đối Và có thể đánh giá mức độ tập trung thị trường là cao nhất Nhìn chung, đường cong Lorenz thường nằm giữa đường bất bình đẳng tuyệt đối và đường bình đẳng tuyệt đối Đường Lorenz nào càng nằm xa đường bình đẳng tuyệt đối thì sự phân phối thị phần trong trường hợp đó càng bất bình đẳng, thị trường có mức độ tập trung càng cao
Ý nghĩa của phương pháp
Đường cong Lorenz cho phép đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị phần giữa các doanh nghiệp trên một thị trường
Khái niệm hệ số Gini
Hệ số Gini là hệ số được xác định dựa vào đường cong Lorenz
Trang 12 Cách sử dụng hệ số Gini
Hệ số Gini (G) được tính
bằng cách chia phần diện tích
đường cong Lorenz lệch khỏi
đường bình đẳng tuyệt đối (A) cho diện tích của nửa hình vuông có chứa đường cong Lorenz (A + B)
Công thức tính:
G= A/ (A + B)Nếu coi mỗi cạnh của hình vuông là 1 đơn vị thì diện tích (A + B) luôn bằng 1/2, khi đó:
G= 2*A
Hệ số Gini luôn có giá trị nằm trong đoạn [0 , 1]
G= 0: Phân phối thị phần trên thị trường là tuyệt đối bình đẳng, mức độ
tập trung thị trường thấp nhất
G= 1: Phân phối thị phần trên thị trường là bất bình đẳng tuyệt đối,
mức độ tập trung thị trường cao nhất
G càng gần 1 thì phân phối thị phần giữa các doanh nghiệp càng bất bình đẳng, mức độ tập trung kinh tế trên thị trường càng cao
Ý nghĩa của phương pháp
Hệ số Gini dùng để đo mức độ bất bình đẳng về thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường, từ đó cho phép đánh giá được mức độ TTKT
trên một thị trường nhất định Hệ số Gini còn cho phép so sánh chéo về mức
độ bất bình đẳng trong phân phối thị phần giữa các doanh nghiệp giữa các thị
Trang 13trường với nhau Đó cũng chính
là những điểm mạnh của
phương pháp đo này
Hạn chế của phương pháp
Cả đường cong Lorenz và hệ số Gini đều có xu hướng tập trung đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường chứ không chú trọng tới số lượng doanh nghiệp trên thị trường đó mặc dù nếu mức độ bất bình đẳng như nhau nhưng số lượng doanh nghiệp khác nhau thì cấu trúc thị trường hoàn toàn khác nhau Việc điều tra số lượng doanh nghiệp cộng dồn và doanh thu cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị trường để tính chỉ số này là khá phức tạp
Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng một số phương pháp khác đánh giá mức độ tập trung kinh tế đơn giản hơn thông qua sự phân phối thị phần của một nhóm doanh nghiệp lớn trên thị trường
2.2.Tỷ lệ tập trung kinh tế (CR n ) có thể là CR 3 , CR 4 hoặc CR 8
Khái niệm
Tỷ lệ tập trung kinh tế CRn- Concentration Ratio, là tổng thị phần của
n doanh nghiệp hàng đầu (có thị phần lớn nhất) trên một thị trường nhất
định Trong đó n thường được sử dụng là 3, 4 hoặc 8 doanh nghiệp
Cách sử dụng phương pháp
Trang 14tế của n doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường.
Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường(%)
n là số doanh nghiệp đang xét: thường n=3, n=4 hoặc n=8.Chỉ số này được sử dụng để đánh giá quy mô tương đối của một số doanh nghiệp hàng đầu trong ngành so với quy mô toàn ngành
Nếu tỷ lệ tập trung này là rất nhỏ, có thể nói mức độ tập trung thị trường là rất nhỏ, không đáng kể và có thể coi cấu trúc thị trường là cạnh tranh hoàn hảo
Giả sử xét tỷ lệ tập trung kinh tế của 4 doanh nghiệp hàng đầu trên một thị trường nhất định (CR4)
Nếu CR4 < 40%: có thể kết luận mức độ tập trung thị trường là trung bình và cấu trúc thị trường là cạnh tranh độc quyền
Nếu CR4 > 40%: mức độ tập trung thị trường tương đối cao và cấu trúc thị trường là độc quyền nhóm
Nếu CR4 ~ 100%: mức độ tập trung thị trường rất cao và có thể kết luận cấu trúc thị trường là độc quyền
Ý nghĩa của phương pháp
Tương tự đối với các chỉ số tập trung kinh tế của 3 hoặc 8 doanh nghiệp, chúng ta có thể dùng để đánh giá một cách tương đối chính xác về cấu trúc thị trường của một thị trường ngành hoặc một thị trường địa lý nhất định
Trang 15Để tính được chỉ số tỷ lệ
tập trung, chúng ta cần có số
liệu về thị phần của một nhóm
các doanh nghiệp hàng đầu trên
thị trường và số lượng doanh
nghiệp hàng đầu trong thị trường ngành hay trong thị trường địa lý nhất định
là một con số không lớn nên việc tính toán chỉ số này có thể nói là không quá phức tạp
Hạn chế của phương pháp
Sử dụng tỷ lệ tập trung kinh tế (CRn) cũng có những hạn chế nhất định trong việc đo lường và đánh giá mức độ tập trung kinh tế do: Chỉ số này chỉ hướng vào các doanh nghiệp hàng đầu mà không xét đến sự phân bố thị phần của các doanh nghiệp còn lại Vì vậy không cho phép đánh giá một cách tổng thể nhất về thực trạng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường Hơn nữa, việc tính tổng thị phần của các doanh nghiệp hàng đầu chưa có sự phân biệt về mức độ ảnh hưởng khác nhau của các doanh nghiệp khác nhau đến mức độ tập trung thị trường do chưa tính đến trọng số của các doanh nghiệp có quy
mô, thị phần khác nhau Để khắc phục hạn chế này, chúng ta có thể sử dụng chỉ số Hirschman – Herfindahl Index (HHI)
2.3.Chỉ số Hirschman – Herfindahl (HHI)
Khái niệm
Chỉ số Hirschman – Herfindahl (HHI) được định nghĩa là tổng bình phương của thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong một thị trường nhất định HHI có giá trị từ 0 đến 10.000
Cách sử dụng phương pháp
Trang 16n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Có một số mốc đánh giá mức độ TTKT tương đối chính xác như sau:
HHI= 0: thị trường không có một doanh nghiệp nào hoạt động.
HHI < 1.000: thị trường không mang tính tập trung.
1.000 <= HHI <= 1.800: mức độ tập trung thị trường là vừa phải.
HHI > 1.800: mức độ tập trung thị trường cao.
HHI= 10.000: thị trường chỉ có một doanh nghiệp duy nhất Lúc này
mức độ tập trung thị trường là cao nhất
Chỉ số HHI có giá trị càng gần 0 thì có thể đánh giá thị trường có rất nhiều doanh nghiệp và cùng có quy mô nhỏ Khi HHI có giá trị càng gần tới 10.000 thì càng có ít doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trên thị trường, mức độ tập trung thi trường càng cao
Ý nghĩa của phương pháp
HHI là một chỉ số khá mạnh và khá thông dụng trong việc đánh giá mức độ TTKT trong một thị trường, từ đó xác định khá chính xác cấu trúc thị trường
Phương pháp sử dụng chỉ số HHI đã khắc phục được nhược điểm của
phương pháp tính tỷ lệ TTKT đó là đã tính tỷ trọng lớn hơn cho các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn trong khi thực hiện bình phương thị phần của các
doanh nghiệp
Trang 17Hạn chế của phương pháp
Đó là những hạn chế về
kỹ thuật tính toán Việc điều tra
số liệu về thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong một thị trường ngành hay một thị trường địa lý và việc tính chỉ số này khá phức tạp, đòi hỏi có sự đầu tư thời gian, kinh phí khá lớn và phải có một hệ thống thông tin đảm bảo tính chính xác của các số liệu về thị phần của các doanh nghiệp Bởi việc tính toán chỉ số này có thể có những sai số rất lớn khi bình phương thị phần của tất
Cách sử dụng phương pháp
Công thức tính:
E=∑Si* 1/ lnSi
Với i= 1 > N
Trong đó: Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i(%)
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Chỉ số này được sử dụng để đo độ bất định trong một thị trường ngành Qua
đó đánh giá độ bất định trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp xét trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với khách hàng
Trang 18E= 0: độ bất định của thị
trường thấp nhất, độ chắc chắn
trong mối quan hệ trong tương
lai giữa doanh nghiệp hiện tại
đó, mức độ tập trung thị trường càng cao và cấu trúc thị trường càng mang tính chất độc quyền
Ngược lại, khi E càng lớn nghĩa là độ bất định của thị trường càng cao,
độ chắc chắn trong mối quan hệ tương lai giữa các doanh nghiệp hiện tại với khách hàng càng thấp, mức độ tập trung thị trường càng thấp và cấu trúc thị trường càng cạnh tranh hơn
Khi muốn so sánh mức độ bất định thị trường của hai ngành có số
lượng doanh nghiệp khác nhau, chúng ta có thể tính hệ số Entropy tương đối RE.
RE= E/nVới n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường ngành
Ý nghĩa của phương pháp
Như vậy, hệ số Entropy cho phép xác định mức độ chặt chẽ trong mối quan hệ tương lai giữa doanh nghiệp hiện đang hoạt động với khách hàng Từ
đó đánh giá mức độ TTKT trên thị trường và xác định cấu trúc thị trường
Trang 19ngành Chỉ số RE còn cho phép
so sánh chéo mức độ tập trung
kinh tế trên các thị trường
ngành khác nhau
Đặc biệt, một ưu điểm
nữa của chỉ số này là việc nhân thị phần của mỗi doanh nghiệp Si với 1/ln Si
đã ngầm gán trọng số thấp hơn cho các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đánh giá cao hơn tác động của các doanh
nghiệp lớn hơn tới mức độ TTKT Vì E càng thấp thì mức độ tập trung kinh
Khái niệm và cách sử dụng phương pháp
Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI – Comprehensive Concentration Index, được định nghĩa bởi công thức sau:
Trong đó: S1 là thị phần của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
CCI được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị trường
CCI có giá trị từ 0 đến 1
Trang 20CCI= 0: thị trường
không có doanh nghiệp nào
hoạt động
CCI= 1: thị trường có
một doanh nghiệp hoạt động,
mức độ tập trung thị trường là cao nhất (cấu trúc thị trường độc quyền)
CCI càng cao thì mức độ tập trung thị trường càng lớn.
Ý nghĩa của phương pháp
Sử dụng chỉ số CCI giúp đánh giá mức độ tập trung thị trường Ưu điểm của phương pháp đo này là đã xét đến số lượng các doanh nghiệp trên thị trường và kết hợp đánh giá thị phần của tất cả các doanh nghiệp này trong
đó có tính trọng số riêng đối với doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường và tính trọng số lớn hơn đối với các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn nhờ việc bình phương thị phần của các doanh nghiệp lớn thứ 2 trở đi Đây là một phương pháp đánh giá khá chính xác mức độ tập trung thị trường
Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể đánh giá chung về khả năng chi phối thị trường của một nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trong một thị trường theo chỉ số Linda như dưới đây
2.6 Chỉ số Linda( L)
Khái niệm
Trang 21Chỉ số Linda (L) là chỉ số
đo lường sự chênh lệch trong
nội bộ một nhóm doanh nghiệp
nào đó trên một thị trường nhất
định
Cách sử dụng phương pháp
Công thức:
Trong đó: N là số doanh nghiệp trên thị trường
Qi là tỷ lệ giữa thị phần trung bình của i doanh nghiệp hàng
đầu và (N – i) doanh nghiệp còn lại
Ý nghĩa của phương pháp
Thông qua chỉ số này, cho phép xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và nhóm doanh nghiệp chỉ có mức độ ảnh hưởng nhỏ tới thị trường đồng thời đánh giá được mức độ mà các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường khống chế các doanh nghiệp còn lại trên thị trường đó Từ đó đánh giá mức độ TTKT trên thị trường
Chỉ số L càng lớn chứng tỏ sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường và các doanh nghiệp còn lại càng lớn Khi đó mức độ tập trung thị trường cao và ngược lại
Chỉ số Linda cũng là một trong những chỉ số cho phép đánh giá về mức
độ tập trung thị trường Phương pháp đo lường mức độ TTKT này có ưu điểm
là đã khắc phục được nhược điểm của chỉ số CCI ở trên bằng cách phân ra các nhóm doanh nghiệp dẫn đầu thị trường và nhóm doanh nghiệp còn lại Như vậy thì tác động của các doanh nghiệp có thị phần tương đương nhau đối với thị trường sẽ được đánh giá tương đương
Trang 22 Hạn chế của phương pháp
Việc cho i thay đổi từ 1
đến N để ghép các doanh
nghiệp thành từng nhóm khác
nhau và tính bình quân thị phần của từng nhóm doanh nghiệp đó là khá phức tạp nếu số lượng doanh nghiệp trên một thị trường là lớn
Như vậy, có rất nhiều phương pháp khác nhau cho phép đo lường và
đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị trường, có thể là thị trường ngành hay thị trường địa lý Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm nhất định Nhưng bên cạnh đó chúng cũng có những nhược điểm, những hạn chế không thể phủ nhận Vì vậy, để có sự định lượng một cách tổng thể và tương đối chính xác về mức độ tập trung kinh tế cũng như định lượng cấu trúc thị trường nói chung, chúng ta cần sử dụng kết hợp các phương pháp đo trên và
có sự linh hoạt khi áp dụng trong những ngành, thị trường cụ thể và trong những điều kiện phát triển kinh tế cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ
Có thể nói TTKT là một vấn đề xuất phát từ nền kinh tế thị trường Vậy TTKT có tác động như thế nào tới sự phát triển kinh tế? Tại sao chúng ta phải quản lý tập trung kinh tế? Và quản lý tập trung kinh tế phải tuân theo những nguyên tắc nào?
II.Cơ sở lý luận về quản lý tập trung kinh tế
1 Tác động của tập trung kinh tế đối với sự phát triển kinh tế và sự cần thiết phải quản lý các hoạt động tập trung kinh tế
Dưới góc độ quản lý vĩ mô nền kinh tế, TTKT vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế
Trang 23Thứ hai, TTKT góp phần đưa nền kinh tế vượt qua những giai đoạn kinh
tế khó khăn hay khủng hoảng kinh tế Vì TTKT là một hình thức tái cấu trúc
doanh nghiệp, tái cơ cấu việc tổ chức sản xuất – kinh doanh Trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn, thì TTKT là một biện pháp hiệu quả giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn từ
đó góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi sự khủng hoảng và tiếp tục phát triển
Thứ ba, TTKT chính là một giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Thật vậy, bản chất của TTKT là sự chuyển giao quyền sở
Trang 24hữu giữa các chủ thể kinh tế, có
thể là các doanh nghiệp hay các
tập đoàn kinh tế với nhau
Quyền sở hữu đó bao gồm các
quyền sở hữu về: vốn, tài sản,
các phát minh sáng chế, các dây chuyền công nghệ Tập trung kinh tế sẽ thúc đẩy chuyển giao khoa học – công nghệ, cách thức tổ chức quản lý, kỹ năng lao động Theo mô hình hàm sản xuất Cobb – Douglass thì công nghệ chính
là một nhân tố quan trọng tạo ra sản lượng trong nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế:
Y= T.Ka .Lb.Rc (1)Trong đó: T là khoa học công – nghệ
K, L, R lần lượt là vốn, lao động, đất đai
Mô hình Cobb- Douglass sau khi biến đổi sẽ thiết lập được mối quan
hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số như sau :
g= t+ a.k + b.l+ c.rTrong đó : g là tốc độ tăng trưởng
k, l, r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t là tốc độ tăng tiền bộ khoa học – công nghệ
Các công nghệ tiên tiến, hiện đại được áp dụng rộng rãi sẽ thúc đẩy việc tăng năng suất lao động, nâng cao sản lượng trong nền kinh tế Và tiến
bộ công nghệ là yếu tố vô hạn có thể mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực khác đều là hữu hạn, công nghệ là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững
Thứ tư, TTKT có yếu tố nước ngoài còn là một hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài khá hiệu quả Nó không chỉ làm tăng thêm nguồn vốn đầu
tư nước ngoài mà còn thúc đẩy chuyển giao khoa học – công nghệ hiện đại từ
Trang 25các nước phát triển trên thế
giới Sau các vụ TTKT thường
kéo theo những nhu cầu đầu tư
mới và tạo ra việc làm mới
trong dài hạn
Thứ năm, TTKT trong các “ngành then chốt” giúp nền kinh tế hạn chế
và tránh được sự chi phối của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, đảm bảo việc thực hiện định hướng phát triển kinh tế của đất nước Ngành then chốt chính
là ngành quan trọng, quyết định đến sự phát triển kinh tế Sự thâm nhập thị trường của các tập đoàn đa quốc gia trong những ngành này đến một mức độ sâu, rộng sẽ dẫn đến sự phụ thuộc về kinh tế - chính trị vào các tập đoàn đa quốc gia cũng như các cường quốc trên thế giới TTKT sẽ thúc đẩy hình thành các “tập đoàn quốc gia” có tiềm lực kinh tế lớn sẽ góp phần hạn chế sự phụ thuộc đó, đồng thời thúc đẩy phát triển các ngành khác theo đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Thứ sáu, TTKT còn làm tăng doanh thu thuế bổ sung vào ngân sách Nhà nước, tăng khả năng chi tiêu của chính phủ, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế Như chúng ta đã biết, TTKT là sự chuyển giao quyền sở hữu giữa các
chủ thể kinh tế là các doanh nghiệp trên thị trường Quá trình chuyển quyền
sở hữu này dẫn đến những thay đổi về đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Chẳng hạn như khi các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh với nhau để hình thành các doanh nghiệp mới Khi đó, các doanh nghiệp thay đổi đăng ký kinh doanh sẽ phải nộp những khoản thuế nhất định vào ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước tăng đồng nghĩa với tăng
khả năng chi tiêu của chính phủ, từ đó tạo điều kiện để chính phủ tăng chi tiêu
cho nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế
Trang 26Thứ bảy, TTKT cũng tạo
điều kiện thuận lợi cho quá
trình cổ phần hóa hoặc tư nhân
hóa các doanh nghiệp nhà nước
theo định hướng phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần TTKT là một hình thức đầu tư khá hiệu
quả vì có thể rút ngắn thời gian gia nhập thị trường của doanh nghiệp Các doanh nghiệp đang hoạt động có thể mở rộng quy mô sản xuất kinhh doanh, tìm kiếm thị trường mới có thể thực hiện mua lại các doanh nghiệp khác trong
đó có các doanh nghiệp nhà nước Đồng thời, TTKT cũng tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, phát triển thành phần kinh tế
tư nhân
Như vậy, có thể kết luận rằng TTKT có rất nhiều tác động tích cực đối
với sự phát triển kinh tế thông qua những tác động trực tiếp tới các nhân tố quan trọng của tăng trưởng và phát triển đã được nghiên cứu trong khoa học kinh tế phát triển
Bên cạnh những tác động tích cực, TTKT cũng có thể gây ra những tác động hạn chế đối với sự phát triển kinh tế
1.2 Tập trung kinh tế - những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế
Những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế có thể kể đến một số tác động sau:
Thứ nhất, TTKT làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường và
có thể dẫn đến những tổn thất phúc lợi xã hội Thật vậy, TTKT làm giảm số
lượng doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường, thay đổi sự phân bố thị phần giữa các doanh nghiệp và có thể làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường TTKT với quy mô lớn có thể dẫn đến hình thành một nhóm doanh nghiệp chiếm thị phần rất lớn có khả năng chi phối thị trường, làm
Trang 27giảm tính cạnh tranh và họ có
thể đưa ra những quyết định sản
xuất dưới mức hiệu quả của
toàn xã hội, gây ra những tổn
thất phúc lợi xã hội
Thứ hai, TTKT có thể tạo ra và làm nghiêm trọng thêm hiệu ứng “đẩy
ra ngoài” (crowding out) đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dẫn đến thất bại của thị trường về thông tin không đối xứng giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp lớn sẽ có nhiều cơ hội hơn
trong việc tiếp cận các thông tin về thị trường và nắm bắt các thông tin tốt hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Chẳng hạn như thông tin về hàng các nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, hay thông tin về các thị trường tiêu thụ Các doanh nghiệp nhỏ có thể là các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp lớn Trong trường hợp đó, sự bất đối xứng về thông tin giữa các doanh nghiệp này
sẽ gây ra những quyết định sản xuất – kinh doanh dưới mức hiệu quả xã hội
Thứ ba, TTKT làm giảm việc làm trong ngắn hạn TTKT với mục tiêu
cơ cấu lại doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nên trong ngắn hạn, các doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm lao động Trong số các doanh nghiệp tham gia TTKT có những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả tiến hành sáp nhập với nhau nhằm mục tiêu tăng quy mô hoạt động, tổ chức lại quy trình, phương pháp quản lý theo hướng tinh giảm nhân sự, cắt giảm chi phí Vì vậy họ sẽ cắt giảm lao động (giảm cầu lao động cũng đồng nghĩa với giảm cung về việc làm) Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp tức thời của doanh nghiệp Trong dài hạn, khi doanh nghiệp đã đạt được hiệu quả do tăng quy mô hoạt động, tiết kiệm chi phí, việc làm sẽ tăng lên do nhu cầu tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 28Thứ tư, TTKT giữa các
doanh nghiệp trong nước với
các doanh nghiệp nước ngoài
có thể dẫn đến việc các tập
đoàn đa quốc gia thôn tính các
doanh nghiệp, các thương hiệu nổi tiếng trong nước Các doanh nghiệp nước
ngoài trong đó có các tập đoàn đa quốc gia có thể thâm nhập thị trường nội địa dưới nhiều hình thức khác nhau như: đầu tư trực tiếp thành lập một doanh nghiệp mới, đầu tư gián tiếp thông qua thị trường tài chính, mua lại hoặc liên doanh với doanh nghiệp trong nước Trong đó TTKT là hình thức khá phổ biến Sự thâm nhập thị trường nhanh chóng bằng hình thức TTKT cùng với những lợi thế về quy mô hoạt động, về tổ chức quản lý, về công nghệ – kỹ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài hình thành sức mạnh thị trường có khả năng chi phối hoạt động của các doanh nghiệp trong nước Nhất là khi các thương hiệu nổi tiếng trong nước luôn là đối cạnh tranh và là mục tiêu thâu tóm của các công ty đa quốc gia
Thứ năm, TTKT có yếu tố nước ngoài còn có thể làm gia tăng sự kiểm soát của nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước Đặc biệt đáng lo ngại đối với những ngành chủ chốt, ngành mũi nhọn chiến lược của nền kinh tế quốc gia TTKT có yếu tố nước ngoài là một trong các “kênh dẫn nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài” Ở các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có tác động rất tích cực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ Tuy nhiên, một lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn sẽ dẫn đến sự phụ thuộc về kinh tế Khi đầu tư dưới hình thức TTKT, các doanh nghiệp nước ngoài còn tham gia vào các quyết định sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước Sự tham gia này sâu, rộng có thể dẫn các doanh nghiệp nước ngoài kiểm soát doanh nghiệp trong
Trang 29nước Nhất là trong những
ngành mũi nhọn, ngành then
chốt, sự kiểm soát đó còn có thể
sẽ dẫn đến nền kinh tế phát
triển không đúng định hướng
chiến lược quốc gia
Thứ sáu, trong quá trình TTKT có thể xảy ra tình trạng định giá tài sản không đảm bảo tiêu chuẩn hoặc những vấn đề tiêu cực trong quá trình định giá tài sản, gây thất thoát, và những tổn thất lợi ích của các doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, TTKT là sự chuyển giao quyền sở hữu về tài sản, quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các doanh nghiệp Việc chuyển giao quyền
sở hữu về tài sản đòi hỏi việc định giá phải theo đúng các chuẩn mực kế toán Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có thể xảy ra những tiêu cực, định giá tài sản không đúng với giá trị thực của tài sản gây ra thất thoát cho doanh nghiệp
Như vậy, TTKT có nhiều tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Đây chính là những cơ sở quan trọng để luận chứng cho sự cần thiết phải quản lý TTKT
1.3 Sự cần thiết phải quản lý các hoạt động tập trung kinh tế
Trên cơ sở những tác động tích cực và tiêu cực của TTKT đã phân tích
ở trên, có thể đưa ra bốn luận chứng cơ bản cho sự cần thiết phải quản lý các hoạt động TTKT như sau:
Thứ nhất, TTKT làm giảm số lượng doanh nghiệp, thay đổi tương quan
cạnh tranh trên thị trường dẫn đến hình thành các thế lực độc quyền Và các quyết định sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp độc quyền sẽ gây ra những tổn thất phúc lợi xã hội Điều này được phân tích trong lý thuyết “độc
Trang 30quyền thường gây tổn thất phúc
lợi xã hội” như dưới đây
Cũng giống như mục tiêu
của bất kỳ doanh nghiệp nào
khi tham gia hoạt động sản
xuất- kinh doanh, doanh nghiệp độc quyền có mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận Tuy nhiên, khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận là sản xuất tại mức sản lượng sao cho giá bán bằng chi phí biên (P=MC), còn đối với doanh nghiệp độc quyền, họ sẽ sản xuất tại mức sản lượng tại đó doanh thu biên đúng bằng chi phí biên (MR=MC)
Hình 1.2- Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền thường
Khi đó, doanh nghiệp độc quyền bán được sản phẩm với mức giá P1 cao hơn P0 và mức sản lượng Q1 thấp hơn Q0 khi thị trường là cạnh tranh hoàn
D = MR P
E
Trang 31hảo và thu lợi nhuận siêu ngạch
là phần diện tích P1P0EB (Hình
1.2)
Nhưng đứng trên góc độ
lợi ích xã hội thì quyết định sản
xuất như vậy là chưa hiệu quả Vì hiệu quả xã hội đạt được khi MB=MC Nhưng tại sản lượng Q1 thì MB>MC Đồng thời quyết định sản xuất đó khiến
xã hội bị tổn thất một mức lợi ích ròng là diện tích tam giác ABC (Hình 1.2) Đây chính là phần tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền gây ra
Thứ hai, hiệu ứng “đẩy ra ngoài” đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
hình thành qua quá trình TTKT sẽ dẫn đến tình trạng thông tin không đối xứng và gây ra tổn thất phúc lợi xã hội Điều này được phân tích theo lý thuyết “tính phi hiệu quả của thị trường do thông tin không đối xứng” như sau
Xét một thị trường ngành có tình trạng thông tin không đối xứng giữa giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua – người bán do quá trình TTKT Ban đầu thông tin trên thị trường hoàn toàn đối xứng, cơ hội tiếp cận, nắm bắt các thông tin về thị trường là như nhau giữa các doanh nghiệp trên thị trường Sau đó, do nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động hoặc tái cấu trúc doanh nghiệp
để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh, các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh với các doanh nghiệp khác trên cùng thị trường liên quan hình thành một số doanh nghiệp lớn có khả năng chi phối thị trường Giả sử các doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng (sau đây gọi là doanh nghiệp sản xuất) Còn các doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp cung ứng nguyên vật liệu (sau đây gọi là nhà cung ứng) Nếu thông tin trên thị trường là đối xứng – nhà cung ứng và doanh nghiệp sản xuất đều nắm
rõ thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng nguyên vật liệu trên thị trường
Trang 32thì thị trường sẽ cân bằng tại
mức sản lượng là Q0 và mức giá
là P0 (Hình 1.3) Đó chính là
mức sản lượng tối ưu xã hội
Nhưng do không nắm được đầy
đủ thông tin về nhu cầu thị trường nên nhà cung ứng chỉ cung ứng ở mức sản lượng Q1>Q0 và mức giá sẽ giảm xuống là P1<P0 (Hình 1.3) Khi đó một phần phúc lợi xã hội đã bị mất đi bằng phần diện tích tam giác ABC (Hình 1.3) được gọi là phần tổn thất phúc lợi xã hội do thông tin không đối xứng về phía nhà cung ứng
Hình 1.3- Thông tin không đối xứng gây tổn thất phúc lợi xã hội
Thứ ba, TTKT có rất nhiều tác động tích cực như đã phân tích ở trên
Song, không phải hoạt động TTKT nào cũng sẽ đem lại những tác động tích cực như vậy nếu chúng ta không có những khung pháp lý, những chính sách định hướng, kiểm soát, điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp tham gia TTKT Chẳng hạn như: TTKT tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng đầu tư cho công nghệ – kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh, tăng lợi nhuận Tuy nhiên, doanh nghiệp được hình thành sau hoạt động TTKT có thể
Trang 33lạm dụng sức mạnh thị trường,
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường của mình để tăng lợi
nhuận chứ không đầu tư nhiều
cho công nghệ – kỹ thuật Sự
lạm dụng vị trí thống lĩnh cũng dẫn đến những quyết định sản xuất kinh doanh dưới mức hiệu quả xã hội, gây ra tổn thất phúc lợi xã hội tương tự như hành vi độc quyền đã phân tích ở trên
Thứ tư, quản lý TTKT hiệu quả sẽ phát huy được tác động tích cực, hạn
chế tác động tiêu cực của TTKT đối với sự phát triển kinh tế
Qua những phân tích trên cho thấy vai trò của chính phủ trong quản lý TTKT là hết sức cần thiết Tuy nhiên, cũng như sự can thiệp của chính phủ vào bất kỳ một vấn đề nào của nền kinh tế thị trường, những tác động của chính phủ trong quản lý TTKT cần tuân theo những nguyên tắc nhất định
2 Các nguyên tắc chi phối sự tác động của chính phủ trong quản lý tập trung kinh tế
Có hai nguyên tắc cơ bản chi phối sự tác động của chính phủ trong quản lý TTKT Đó chính là hai nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thị trường: nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc tương hợp Bởi lẽ, TTKT cũng là một trong những vấn đề xuất phát trong nền kinh tế thị trường
2.1 Nguyên tắc hỗ trợ
Nội dung của nguyên tắc hỗ trợ trong quản lý tập trung kinh tế: Sự tác động của chính phủ vào tập trung kinh tế phải nhằm mục đích cuối cùng và dài hạn là hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn Theo
đó sự tác động của chính phủ phải đảm bảo những nội dung sau:
Trang 34+ Tôn trọng và bảo vệ
quyền sở hữu tư nhân, quyền tự
do kinh doanh, tự do giá cả
+ Thúc đẩy môi trường
cạnh tranh lành mạnh trong
khuôn khổ các quy định pháp luật
+ Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cho các doanh nghiệp phát triển
Nguyên tắc hỗ trợ chủ yếu nhằm xác định xem khi nào chính phủ cần tác động vào tập trung kinh tế
Nguyên tắc tương hợp nhằm lựa chọn các cách thức tác động tối ưu của chính phủ vào tập trung kinh tế
Trên cơ sở tôn trọng 2 nguyên tắc trên trong quản lý tập trung kinh tế, chính phủ cần:
+ Tôn trọng và bảo vệ tập trung kinh tế, không loại bỏ các hành vi tập trung kinh tế ra khỏi sinh hoạt của thị trường Tập trung kinh tế bao gồm các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh xuất phát và phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Nên tập trung kinh tế thuộc quyền tự
do kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 35Nói tóm lại, quản lý TTKT là rất cần thiết Và một trong các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả, sự thành công của công tác quản lý TTKT là mức độ
hỗ trợ, tương hợp với thị trường của các tác động của chính phủ trong quản lý
TTKT
Như vậy, TTKT có những góc độ tiếp cận, những hình thức khác nhau
Nhưng dù nhìn ở góc độ nào thì TTKT cũng là một vấn đề của nền kinh tế thị trường cần có sự tác động của chính phủ theo hai nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc tương hợp) Vậy các quốc gia trên thế giới đã quản lý TTKT như thế nào? Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm gì trong công tác quản lý TTKT ở các quốc gia đó?
Trang 36CHƯƠNG II KINH NGHIỆM QUẢN LÝ TẬP TRUNG KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI
Với mục tiêu học hỏi kinh nghiệm quản lý TTKT phù hợp với điều kiện kinh tế – chính trị và các xu hướng TTKT ở Việt Nam, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của ba quốc gia đã có nhiều thành công trong công tác quản lý TTKT Đó là: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan Ở các quốc gia này đều đã có những giai đoạn TTKT rất cao và công tác quản lý của họ đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc làm giảm mức độ TTKT để duy trì, thúc đẩy cấu trúc thị trường cạnh tranh Vậy họ đã quản lý TTKT bằng cách nào? Công tác quản lý TTKT được tổ chức thực hiện như thế nào? Những phân tích dưới đây sẽ giúp chúng ta trả lời những câu hỏi này và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về các quy định quản lý và công tác tổ chức quản lý TTKT mà Việt Nam có thể học hỏi để vận dụng trong những điều kiện, những giai đoạn phát triển nhất định
Để nghiên cứu một cách hệ thống về kinh nghiệm quản lý TTKT của
các nước này, đề tài sẽ tiếp cận các vấn đề về TTKT dưới góc độ quản lý
Trang 37Theo đó, các cơ quan quản lý
nhà nước về TTKT chính là chủ
thể quản lý thực hiện các hoạt
động quản lý để hướng đối
tượng quản lý là TTKT theo
những cơ sở pháp lý để đạt được mục tiêu là thúc đẩy môi trường kinh tế cạnh tranh lành mạnh và phát triển kinh tế
I Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
1 Tổng quan về tập trung kinh tế ở Hoa Kỳ
Lịch sử tập trung kinh tế ở Hoa Kỳ đã diễn ra năm làn sóng TTKT qua năm giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, TTKT có những đặc điểm đặc trưng khác nhau và Hoa Kỳ đã có những cách thức quản lý TTKT tương ứng với từng giai đoạn đó
1.1 Giai đoạn 1 (1897 – 1904) – làn sóng độc quyền hóa với hình thức tập trung kinh tế theo chiều ngang để tiến tới vị trí độc quyền
Sự xuất hiện làn sóng TTKT này là do chính phủ nới lỏng việc thực thi các quy định về chống độc quyền, các quy định của pháp luật công ty cũng được nới lỏng, tạo điều kiện cho các vụ TTKT trong cùng một thị trường liên quan (TTKT theo chiều ngang) Đặc biệt, có nhiều quy tắc trong mua bán, sáp nhập thuộc về quy tắc ứng xử đạo đức, chỉ mang tính tự nguyện và không bị ràng buộc về mặt pháp lý Chính vì vậy, càng khuyến khích các vụ mua bán, sáp nhập, hợp nhất diễn ra mạnh mẽ theo chiều ngang để tiến tới vị trí độc quyền
TTKT ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này có hai đặc điểm sau:
Thứ nhất, các vụ TTKT chủ yếu diễn ra theo chiều ngang giữa các
Trang 38doanh nghiệp trong cùng một
thị trường liên quan
Làn sóng độc quyền hoá này đã có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở Hoa Kỳ Quy mô nền kinh tế được mở rộng nhanh chóng Khoa học - kỹ thuật ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này rất phát triển, đặc biệt là trong ngành đường sắt, điện năng Các quy trình sản xuất cũng được cải tiến đáng kể theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Tuy nhiên, đến đầu những năm 1990, phần lớn các vụ mua bán sáp
nhập không làm tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp Đồng thời các vụ TTKT theo chiều ngang đã hình thành nên một số tập đoàn lớn giữ vị trí độc quyền, làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường, nhất là trên thị trường ngành công nghiệp nặng Vì vậy, chính phủ Hoa Kỳ đã bắt đầu siết chặt hơn việc kiểm soát các vụ TTKT Năm 1904, Toà án tối cao đã đưa ra quy định rằng Đạo Luật Sherman sẽ được sử dụng để chống lại các vụ sáp nhập mang tính phản cạnh tranh Đạo Luật Sherman được ban hành từ năm
1890 Nhưng việc đưa ra quy định này của Toà án tối cao lúc này chính là một động thái chứng tỏ rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ nghiêm khắc hơn trong việc thực thi Luật chống độc quyền và kiểm soát chặt chẽ hơn quá trình TTKT để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả
Cùng với sự thắt chặt kiểm soát TTKT, sự suy thoái của kinh tế Hoa
Trang 39Kỳ năm 1903 và ảnh hưởng của
sự suy thoái này trong một vài
năm tiếp theo cũng như sự sụp
đổ của thị trường chứng khoán
Hoa Kỳ vào năm 1904 đã dập
tắt làn sóng độc quyền hoá ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này
1.2 Giai đoạn 2 (1916 - 1929) - làn sóng sắp xếp lại để đạt hiệu quả theo quy mô với hình thức tập trung kinh tế theo chiều dọc hướng tới độc quyền nhóm
Làn sóng TTKT thứ hai này xuất hiện do sự bùng nổ nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất Bên cạnh đó, không thể không đề cập tới nguyên nhân về công tác quản lý TTKT ở Hoa Kỳ Chính phủ đã có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp cùng hợp tác trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và trong thập niên 1920 chính sách này vẫn được duy trì Chính sách này đã khuyến khích, thúc đẩy các vụ TTKT theo chiều dọc và hình thành các nhóm độc quyền
TTKT ở Hoa Kỳ giai đoạn này có ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, số lượng các doanh nghiệp độc quyền giảm nhưng độc quyền
nhóm lại tăng
Thứ hai, TTKT chủ yếu là các vụ sáp nhập theo chiều dọc và hình
thành các tập đoàn lớn
Thứ ba, các vụ sáp nhập chủ yếu diễn ra trong các ngành kim loại cơ
bản, hoá dầu, thực phẩm, hoá chất và thiết bị giao thông
Xu hướng TTKT này đã tạo những sự phát triển mới về khoa học công nghệ Hệ thống giao thông được cải thiện và xây dựng mới đặc biệt là trong ngành đường sắt Mạng lưới truyền thanh cũng ngày càng phát triển đa dạng
và chất lượng tốt hơn
Trang 40Tuy nhiên, việc hình
vi hạn chế cạnh tranh của các nhóm độc quyền, các tập đoàn tư bản
Cùng với các quy định quản lý đó, sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ ngày 29/10/1929 đã kết thúc làn sóng TTKT theo hướng hình thành các nhóm độc quyền
1.3 Giai đoạn 3 (1965 – 1969) - xu hướng thành lập tập đoàn với hình thức tập trung kinh tế theo đường chéo (dạng tập đoàn)
Sự xuất hiện xu hướng TTKT mới trong giai đoạn này là do thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn này đang có nhu cầu phát triển khá sôi động, giá chứng khoán tăng cao, làm tăng nhu cầu đầu tư Nhưng do lãi suất trong những năm đầu của thập niên 1960 cao, làm cho các doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định về vốn đầu tư và giai đoạn này có những sự thay đổi của phương pháp hạch toán tài chính: phương pháp kế toán phân chia lợi ích làm xuất hiện “hiệu ứng tự vận động” - các doanh nghiệp muốn tối thiểu hoá sự phụ thuộc vào các nguồn tài chính bên ngoài, vì vậy các doanh nghiệp phải tính đến các phương án mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, giai đoạn này, chính phủ Hoa Kỳ đang khá cứng rắn trong việc thực thi Luật