Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật bơi trườn sấp cho sinh viên khoa TDTT Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trang 1Bộ văn hoá, thể thao và du lịch Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học thể dục thể thao bắc ninh
trần minh khơng
lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn
trong giảng dạy kỹ thuật bơi trờn sấp
cho sinh viên khoa thể dục thể thao
trờng đại học s phạm thái nguyên
Chuyên ngành: giáo dục thể chất
LỜI CAM ĐOAN
Tụi xin cam đoan ngoài những nội dung được trớch dẫn trong cỏc tài liệutham khảo được liệt kờ ở phần danh mục tài liệu tham khảo, cụng trỡnh nghiờncứu này là của riờng tụi Cỏc số liệu nghiờn cứu là trung thực và chưa cú ai cụng
bố và xuất bản trong bất kỳ hỡnh thức nào
Tỏc giả
Trần Minh Khương
Trang 3M C L CỤC LỤC ỤC LỤCĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài
1.2 Nhiệm vụ, vai trò của BTBT trong dạy học TDTT
1.3 Đặc điểm kỹ thuật kiểu bơi trườn sấp
1.4 Đặc điểm quá trình hình thành kỹ thuật trong môn Bơi lội1.5 Các quy luật biến đổi hoạt động chức năng sinh lý cơ thể1.6 Các yếu tố chi phối hiệu quả ứng dụng các bài tập bổ trợtrong dạy bơi
1.7 Các xu thế cơ bản trong phát triển và sử dụng hệ thống bàitập chuyên môn khi dạy Bơi
Chương 2 Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3 Tổ chức nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng các bài tập bổtrợ trong dạy bơi cho sinh viên khoa GDTC Đại học Thái Nguyên3.1 Thực trạng các điều kiện phục vụ dạy bơi của khoa GDTCĐại học Thái Nguyên
3.2 Thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ trong dạy bơi trườn sấpcủa các giáo viên khoa GDTC trường Đại học Thái Nguyên
3.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng các bài tập bổ trợ dạy bơi trườnsấp truyền thống của khoa GDTC Đại học Thái Nguyên
Chương 4 Xây dựng và đánh giá hiệu quả ứng dụng hệ thống bàitập bổ trợ trong dạy bơi trườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đạihọc Thái Nguyên
4.1 Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ trong dạy bơitrườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đại học Thái Nguyên
4.2 Đánh giá hiệu quả ứng dụng hệ thống bài tập bổ trợ đã xâydựng trong dạy bơi trườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đại họcThái Nguyên
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội Thế giới
Nó được hình thành và phát triển trong quá trình thực tiễn cuộc sống lao độngsản xuất và chiến đấu lâu dài của loài người Sau khi đã trở thành một hiệntượng văn hóa, thể dục thể thao lại có tác dụng ngược trở lại thúc đẩy sự pháttriển thể chất, bảo vệ và nâng cao sức sản xuất và góp phần làm phong phú cuộcsống văn hóa tinh thần của loài người
Bơi lội là một trong những môn thể thao cơ bản của loài người, từ lịch sửphát sinh phát triển của môn Bơi lội ta có thể nhận thấy: Từ xa xưa cách đâykhoảng 5000năm, loài người khi còn đang sống trong chế độ nguyên thủy, nô lệ
đã biết sáng tạo ra các vận động ở dưới nước để làm thành một phương tiện rènluyện sức khỏe, vui chơi giải trí, săn bắt động vật dưới nước kiếm sống và gópphần chống lại hiểm họa sông nước, bảo vệ cuộc sống và các thành quả laođộng
Do tính thực dụng rất cao của các hoạt động bơi lặn dưới nước, do nhucầu thực tiễn sinh tồn phát triển của loài người và do tính thông minh sáng tạocủa loài người; Loài người đã bắt chước các họat động trên không và dưới nướccủa các loài sinh vật như bươm bướm, cá heo, ếch… để sáng tạo ra các kiểu bơilặn khác nhau, làm phong phú đa dạng các phương tiện giải trí và rèn luyện sứckhỏe dưới nước
Đặc biệt từ khi Olympic hiện đại ra đời (năm 1896) đến nay đã trải quahơn 110 năm; Thời gian quá ngắn ngủi so với lịch sử, song do tính đua tranhmạnh mẽ và sức hấp dẫn to lớn của môn thể thao này mà đến nay đã phát triểnthành một môn thi đấu chính thức của Olympic Với số bộ huy chương 34 bộ,đứng vị trí thứ ba trong các môn thể thao có nhiều bộ huy chương của đại hộiOlympic Chính do tổng số bộ huy chương lớn đó mà nhiều nhà chiến lược pháttriển thể thao thành tích cao của thế giới nhận định rằng: “Nếu nước nào chiếm
ưu thế về số huy chương ở một trong ba môn Thể dục, Điền kinh, Bơi lội thìnước đó cũng dễ dàng giành được vị trí hàng đầu của Đại hội Olympic” (Tạp
Trang 6chí Bơi lội thế giới 6/94) Thực tế này đã được các nước Mỹ, Trung Quốc, Nga,Đức chứng minh Với thành tích thi đấu xuất sắc ở môn Bơi đã giúp các nướcnày giành thứ hạng nhất, nhì, ba của nhiều kỳ đại hội Olympic.
Việt Nam là một quốc gia ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lợi thế cóchiều dài hơn 3000km bờ biển, trên 3100 con song, rạch lớn nhỏ và hàng ngàn
ao hồ; Thời tiết ở một số vùng miền Trung và miền Nam ấm áp có thể bơi đượcquanh năm Tất cả các lợi thế này giúp cho Bơi lội nước ta có tiềm năng pháttriển tốt Thực tế cũng đã chứng minh Bơi lội cũng đã phát triển rất sớm ở ViệtNam đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệđất nước ta chống lại hàng chục các cuộc xâm lược của ngoại bang Về mặt thểthao thành tích cao, môn bơi lội thể thao mặc dù du nhập vào Việt Nam tươngđối muộn (1928) song cũng có những thời kỳ VĐV bơi lội nước ta đã từng giànhđược những tấm huy chương vàng, bạc, đồng ở các đấu trường quốc tế: như năm
1966 ở tiểu Ganefo châu Á, VĐV bơi đã giành được 7 tấm huy chương
Trong những năm gần đây, bơi lội của nước ta cũng đã bước đầu có sựkhởi sắc VĐV Nguyễn Hữu Việt lần đầu tiên giành được tấm huy chương vàng
ở Seagames 23 tại Philippin Tuy vậy để có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữamôn bơi lội thể thao thành tích cao, nhất thiết phải phát triển mạnh mẽ hơn nữaphong trào bơi lội quần chúng nhất là bơi lội thể thao ở các trường trung - tiểuhọc nhằm làm nền tảng cho việc tuyển chọn đào tạo VĐV bơi lội xuất sắc.Chính vì vậy việc đào tạo giáo viên bơi để phát triển môn bơi lội ở trường trung
- tiểu học có ý nghĩa chiến lược quan trọng của thể thao nước nhà
Khoa TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên là một chiếc nôi đào tạocác giáo viên trong đó có các giáo viên dạy bơi cho các trường trung, tiểu họckhu vực miền núi và Trung du các tỉnh miền Bắc Trong nhiều năm qua, trường
đã đào tạo được hàng ngàn giáo viên, trong đó có hàng trăm giáo viên có thểgiảng dạy huấn luyện bơi Hiện nay nhà trường có 1 bể bơi hiện đại và các cơ sởvật chất đáp ứng tốt việc đào tạo giáo viên bơi Tuy vậy, chất lượng dạy bơi củakhoa TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên vẫn còn ở mức độ khiêm tốn
Trang 7Quan sát quá trình dạy bơi, đặc biệt là trong dạy bơi kiểu bơi trườn sấp cho sinhviên, chúng tôi phát hiện thấy hầu hết giáo viên sử dụng hệ thống bài tập bổ trợtrong dạy bơi còn quá đơn điệu, nặng về sử dụng các bài tập dẫn dắt Mặt khácđối với đối tượng sinh viên miền núi có tới 80 % sinh viên nam và khoảng 95%sinh viên nữ trước khi nhập trường còn chưa biết bơi mà nếu các giáo viên triểnkhai các bài tập làm quen với thở quá muộn, ít sử dụng các bài tập tạo tư thếđúng trong nước, chưa chú trọng kết hợp tập các bài tập bổ trợ với dụng cụ chânvịt bàn quạt Vì vậy, hầu như chỉ có khoảng 50-60% sinh viên thi qua lần đầu.Kết thúc môn bơi vẫn có trên 10% nợ bơi.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc về chất lượng dạy bơi cho sinh viên khoaTDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên, tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật bơi trườn sấp cho sinh viên khoa TDTT Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên”
Về mảng đề tài này đã có một số tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Thị Minh
Hà - Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập dẫn dắt dạy bơi trườn cho VĐV nhiđồng 7 - 8 tuổi Hà Nội hoặc một số sinh viên như: Nguyễn Văn Như, NguyễnThị Hải nghiên cứu về ứng dụng một số bài tập để hoàn thiện kỹ thuật bơitrườn, bơi bướm cho VĐV nhi đồng Hải Phòng, Ninh Bình
Song hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập bổtrợ chuyên môn trong dạy bơi cho sinh viên, nhất là sinh viên trình độ ban đầuhầu như chưa biết bơi ở khu vực miền núi
Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứulà:
Mục đích nghiên cứu: Thông qua tổng hợp phân tích cơ sở lý luận và
khảo sát đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn của cácgiáo viên trong và ngoài trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên trong giảng dạy
kỹ thuật bơi trườn sấp cho sinh viên sẽ nghiên cứu lựa chọn xây dựng hệ thống
Trang 8các bài tập bổ trợ chuyên môn có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy bơicho sinh viên khoa TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên.
Mục tiêu nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên Đề tài
xác định 2 mục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ
chuyên môn trong giảng dạy bơi trườn sấp của khoa TDTT Trường ĐH Sưphạm Thái Nguyên
Mục tiêu 2: Lựa chọn xây dựng và đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập bổ
trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật bơi trườn sấp cho sinh viên khoaTDTT Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên
Đ
ối t ư ợng nghiên cứu: là các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy
kiểu bơi trường sấp cho nam nữ sinh viên Khoa TDTT
Khách thể của đối tượng nghiên cứu là 36 sinh viên nam và 24 sinh viên
nữ của khoá 40 trường Đại học Sư phạm Thái nguyên
Giả thiết khoa học: Kết quả học tập thực hành của học sinh phụ thuộc rất
lớn vào nội dung và phương pháp giảng dạy của người thầy Vì vậy nếu ta lựachọn được hệ thống bài tập bổ trợ khoa học hợp lý sẽ nâng cao được hiệu suấtphương pháp bài tập của giáo viên Từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả học tậpmôn bơi trườn sấp của sinh viên Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trang 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Khái niệm kỹ thuật thể thao
Theo các nhà khoa học TDTT trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép(Nga), Lý Văn Tĩnh (Trung Quốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (Việt Nam) thì khái niệm về kỹ thuật thể thao có thể được hiểu là: “Cách thức giải quyếtnhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả cao nhất, trong đó những cách thứcgiải quyết nhiệm vụ vận động chính là cách thức xếp sắp tổ chức và thực hiện hệthống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động” [16], [25], [46]
Cũng theo các nhà khoa học trên thì trong TDTT bất kỳ hoạt động vậnđộng nào cũng được xác định nhiệm vụ vận động tức là một mục đích nào đó
mà hoạt động phải đạt được Ví dụ, quạt tay trong bơi lội phải tạo ra được sứckéo sức đẩy lớn giúp cho cơ thể lao nhanh ra trước Trong hoạt động TDTT bất
cứ 1 hành vi vận động nào đó thông thường gồm hàng loạt các vận động nhỏ(gọi là cử động) được xếp sắp theo trật tự và hệ thống nhất định Cách thức thựchiện hành vi vận động chính là việc tổ chức các hoạt động động tác theo 1 trật tựkiểu cách nhất định được dựa trên nhiệm vụ vận động, các quy luật, các điềukiện khách quan và chủ quan khi thực hiện vận động Trong thực tế vận động,rất nhiều trường hợp mặc dù có cùng nhiệm vụ vận động, song lại có nhữngcách thức thực hiện khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm cá nhân của VĐV [16],[25]
Trong thực tiễn thể thao, kỹ thuật thể thao luôn được đổi mới và hoànthiện Sự tìm tòi khám phá khoa học về các quy luật vận động của cơ thể, cácđịnh luật vật lý và sự ảnh hưởng của môi trường vận động, sự tiến bộ về khoahọc công nghệ trong việc thiết kế khí tài tập luyện thi đấuTDTT, sự đổi mới vềluật thi đấu, sự hoàn thiện về phương pháp giảng dạy huấn luyện đều là nhữngnhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật cũng như sự ra đời của các kỹthuật thể thoa mới trong hầu hết các môn thể thao thi đấu [16], [25]
Trang 10Trong hàng trăm môn thể thao khác nhau, mỗi môn thể thao lại có những
kỹ thuật riêng biệt khác nhau được gọi là kỹ thuật chuyên môn hoặc kỹ thuậtmôn chuyên sâu của từng môn
1.1.2 Khái niệm về kỹ thuật bơi.
Theo các chuyên gia bơi lội trong và ngoài nước như: BuTuVic (Nga), LýVăn Tĩnh, Giả Ngọc Thuỵ (Trung Quốc), Nguyễn Văn Trạch, Bùi Thị Xuân(Việt Nam) thì kỹ thuật bơi có thể được khái niệm như sau: “Kỹ thuật bơi là 1hình thức vận động của cơ thể ở dưới nước trong đó cơ thể con người có thể ởcác tư thế khác nhau dùng các động tác của cơ thể tạo ra lúc tiến và lúc nổi đẩy
cơ thể tiến về phía trước”.[3], [27], [44], [46]
Bơi lội được chia thành 3 loại cơ bản là bơi thực dụng (gồm bơi vũ trang,bơi cứu đuối) bơi thể thao và bơi nghệ thuật Bơi thể thao hiện nay có 4 kiểu bơichính là bơi bướm, bơi ngửa, bơi ếch, bơi trườn Gồm trên 34 cự ly thi đấu khácnhau (Olympic Bắc Kinh sử dụng 37 cự ly thi đấu)
Do bơi thể thao là 1 loại hình bơi lội đua tốc độ Muốn tạo ra tốc độ nhanh
ra phía trước cần có kỹ thuật bơi đúng hoặc còn gọi là kỹ thuật bơi hợp lý
Về kỹ thuật bơi hợp lý được các nhà khoa học bơi lội Trung Quốc như ÔnTrọng Hoa, Giả Ngọc Thuỵ, Dương Ngọc Cường, Lý Văn Tình, khái niệm nhưsau: “Kỹ thuật bơi hợp lý là kỹ thuật phải phù hợp với các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, kỹ thuật phải phát huy được năng lực chức năng lớn nhất của
cơ thể, phù hợp với đặc điểm về cấu trúc và chức năng của cơ thể, đồng thời lợidụng đầy đủ các đặc điểm này để đạt được hiệu lực thực tế lớn nhất
Thứ hai là phải phù hợp với một số nguyên lý có liên quan về thủy độnghọc và môi trường vận động, lợi dụng triệt để đặc tính của nước để tạo động lực
Thứ ba, là cần xoay quanh hiệu lực thực tế để lợi dụng triệt để hìnhdạng, tốc độ của các bộ phận vận động nhằm phát huy hiệu ứng lực trong phạm
vi cho phép
Trang 11Thứ tư là kỹ thuật hợp lý phải lấy hiệu lực thực tế toàn phần làm tiền đề
để xem xét tới việc được và mất của kỹ thuật từng phần, kết hợp với điều kiệnthực tế của từng người mà phát huy đặc điểm riêng về kỹ thuật
Thứ năm là kỹ thuật hợp lý cần phải phù hợp với luật thi đấu, đồng thờicòn có thể dựa vào những mặt có lợi của điều luật để cải tiến kỹ thuật”.[46],[47], [50]
1.1.3 Khái niệm Bài tập thể chất.
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao, bài tập thể chất là mộtphương tiện quan trọng để giáo dục kỹ năng nâng cao thể chất và thành tích thểthao
Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Nguyễn Toán,Phạm Danh Tốn (Việt Nam) thì “Bài tập thể chất là những hoạt động vận độngchuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích phù hợpvới các quy luật giáo dục thể chất” [16], [25]
Các bài tập thể chất trong quá trình huấn luyện thể thao được phân loạitheo các quan điểm khác nhau Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp,Mátvêép và các nhà khoa học huấn luyện học như PhiLim, Điền Mạnh Cửu thìBài tập thể chất có thể được chia thành 3 loại chính là bài tập thi đấu, bài tậpchuyên môn, và bài tập phát triển chung Sự phân chia này phải dựa trên đặcđiểm môn chuyên sâu và nhiệm vụ của loại bài tập đó trong giải quyết cácnhiệm vụ chung hoặc từng phần riêng lẻ”.[16], [18], [49]
Cũng theo các nhà khoa học trên thì bài tập thi đấu là loại hình bài tập màcác động tác của nó có quá trình vận động và có đặc điểm riêng về lượng vậnđộng phù hợp với yêu cầu thi đấu của môn thể thao chuyên sâu
Các bài tập chuyên môn lại được chia thành 2 nhóm là:
Các bài tập chuyên môn nhóm 1 và các bài tập chuyên môn nhóm 2 Trong
đó các bài tập nhóm 1 gồm những bài tập có quá trình chuyển động gần giốngvới bài tập thi đấu nhưng có cường độ vận động thấp hơn song khối lượng vậnđộng có thể lớn hơn
Trang 12Các bài tập nhóm 2 gồm các bài tập có hình thức vận động giống vận độngtrong thi đấu, trong đó yêu cầu những nhóm cơ chủ yếu có hoạt động giống nhưhoạt động khi thi đấu.
“Các bài tập phát triển chung” là các bài tập được chon ra từ các bài tập ởcác môn thể thao khác có tác dụng phát triển các năng lực nhanh mạnh bền khéodẻo linh hoạt của cơ thể người tập Các bài tập này không hàm chứa yếu tố củacác động tác trong thi đấu môn chuyên sâu
1.1.4 Khái niệm về hệ thống (bài tập).
Theo các nhà khoa học về lý luận GDTC và huấn luyện thể thao trong vàngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Điền Mạch Cửu (TrungQuốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (Việt Nam) thì hệ thống bài tập đượckhái niệm như sau: “Những bài tập có cùng mục đích được xếp sắp theo trình tự
từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ nhẹ đến nặng được gọi là hệ thốngbài tập” [16], [19], [25]
Hệ thống bài tập thể chất bao gồm hệ thống bài tập bổ trợ giảng dạy kỹthuật, hệ thống bài tập hoàn thiện nâng cao kỹ thuật, hệ thống bài tập phát triểnthể chất chung, hệ thống bài tập phát triển chuyên môn
Trong đó, mỗi loại bài tập thực hiện một phần nhiệm vụ chung Ví dụ: hệthống bài tập phát triển thể lực chung là hệ thống gồm những bài tập phát triểncác tố chất thể lực chung như bài tập phát triển sức nhanh, sức mạnh, sức bền,khéo léo, mềm dẻo cho VĐV, tạo nền tảng để phát triển thể lực chuyên môn chovận động viên
Còn hệ thống các bài tập phát triển thể lực chuyên môn là hệ thống baogồm các bài tập thể lực gắn kết chặt chẽ với kỹ thuật của môn chuyên sâu Vídụ: trong bơi lội các tố chất sức nhanh chuyên môn phải gắn với các bài tập pháttriển tốc độ bơi các kiểu bơi ở đoạn 25 - 50 m Song sức bền tốc độ lại phát triểnthống qua các bài tập lặp lại hoặc bơi nghỉ giữa quãng các đoạn bơn từ 25 -400m Trên cơ sở sức bền chung (tức năng lực bơi dài) của VĐV sẽ tiến hànhtập phát triển sức bền tốc độ sẽ có hiệu quả tương đối tốt
Trang 131.1.5 Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn (BTBT chuyên môn).
Hiện nay thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau ở trong và ngoài nướcchúng ta có thể thu thập các khái niệm đối với các BTBT chuyên môn như sau:Các tác giả nước ngoài như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), ĐiềnMạch Cửu (Trung Quốc), Lê Văn Lẫm, Nguyễn Văn Trạch (Việt Nam) chorằng: “Bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy huấnluyện TDTT Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bàitập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tốchất thể lực Còn bài tập bổ trợ chuyên môn lại là những bài tập mang tínhchuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt của môn thể thao”.[10], [16], [28], [49]
Cũng có cùng quan điểm với các học giả nước ngoài, PGS Nguyễn Toán
và TS Phạm Danh Tốn cho rằng: “BTBT chuyên môn là các bài tập phối hợpcác yếu tố của động tác thi đấu và các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫndắt tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sựphát triển các tố chất thể lực của VĐV ngay ở chính những môn thể thao đó”.[25]
Các khái niệm của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách trình bày cũng
như ngôn ngữ sử dụng nhưng đều có sự nhất trí cao về nội hàm Như vậy BTBT
chuyên môn có thể được hiểu là những bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt nhằm giúp VĐV nắm vững và hoàn thiện, nâng cao kỹ chiến thuật cho từng môn thể thao cụ thể.
Chúng ta có thể đơn cử trong dạy bơi ếch, người ta có thể phân ra thànhcác phần kỹ thuật tay, chân, phối hợp Và từng kỹ thuật lại phân ra các phầnkhác nhau như kỹ thuật phối hợp tay với thở, tay với chân, và phối hợp toànbộ
Trên cơ sở phân thành các động tác riêng rẽ và các phần của động tác sẽlàm cho người học nắm vững từng phần sau đó liên kết lại thành kỹ thuật hoànchỉnh
Trang 14Ở mỗi giai đoàn kỹ thuật, để giúp người học hình thành và nẵm vững được
kỹ thuật, người ta thường sử dụng các loại bài tập sau:
- Bài tập mang tính chuẩn bị (chủ yếu là bài tập khởi động chung và khởiđộng chuyên môn) để giúp người học đưa trạng thái sinh lý, tâm lý thích ứngvới việc tiếp thu kỹ thuật
- Bài tập mang tính dẫn dắt nhằm giúp cho người học xây dựng được biểutượng từng phần, dần dần hình thành được biểu vận động toàn vẹn nắm vữngđược yếu hình động tác từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đếnhoàn chỉnh
- Bài tập mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác Các bài tậptạo ra các cảm giác không gian, thời gian và cảm giác dùng lực khác nhau để từ
đó tận dụng các kỹ năng đã hình thành giúp tạo ra các kỹ thuật mới [25]
- Bài tập bổ trợ thể lực: Như chúng ta đã biết muốn hoàn thành một kỹthuật nào đó (ví dụ: đẩy tay có hiệu lực) đòi hỏi VĐV cần có những tố chất thểlực nhất định (như sức mạnh, mềm dẻo khớp vai ) Vì vậy đi đôi với việc sửdụng BTBT chuyên môn người ta cũng rất chú trọng bố trí xen kẽ các bài tập bổtrợ thể lực vào trong giảng dạy kỹ thuật
Có thể nói BTBT chuyên môn vừa là một phương tiện giúp cho người tậpluyện nắm bắt kỹ thuật phức tạp và có độ khó lớn, vừa là một phương tiện đểthúc đẩy quá trình hoàn thiện nâng cao trình độ kỹ năng vận động cho người tập.1.2 NHIỆM VỤ VÀ VAI TRÒ CỦA BÀI TẬP BỔ TRỢ CHUYÊN MÔNTRONG DẠY HỌC ĐỘNG TÁC KỸ THUẬT THỂ THAO
Trong giáo dục thể chất nói chung và trong dạy học vận động (TDTT) nóiriêng thì nhiệm vụ chính của BTBT được coi là một phương tiện “giúp chongười học tạo ra vốn vận động ban đầu làm cơ sở cho việc học tập các kỹ thuậttiếp sau” Đồng thời trong quá trình dạy học, người thầy có thể sử dụng cácBTBT làm thành phương tiện tác động có chủ đích đến sự nâng cao kỹ thuật vàphát triển thể chất [9], [18], [20], [25]
Trang 15Trong dạy bơi, do đặc điểm môn bơi hoạt động trong môi trường xa lạ sovới các hoạt động trên cạn, đồng thời kỹ thuật bơi gồm các động tác phối hợpcủa toàn thân theo một yếu lĩnh kỹ thuật và một nhịp điệu riêng biệt Bởi vậyviệc dạy bơi sẽ rất khó hoàn thành tốt nếu như không biết vận dụng các BTBT
kỹ thuật cũng như các loại BTBT thể lực một cách hợp lý Do vậy có thể nói,BTBT có vai trò rất quan trọng trong dạy học các động tác kỹ thuật trong bơilội Trong dạy bơi, nếu sử dụng được các BTBT một cách hợp lý sẽ giúp chongười học nhanh chóng nắm bắt được các kỹ thuật riêng lẻ và sẽ không bị mắccác sai sót nghiêm trọng trong học bơi Đồng thời có thể bổ sung kịp thời nhữngmặt yếu về kỹ thuật, thể lực để thông qua đó giải quyết những nhiệm vụ chuyểndịch trình đọ của người tập lên một trình độ cao hơn
Hiệu quả dạy học TDTT nói chung và dạy bơi nói riêng chỉ được nâng caokhi việc lựa chọn sử dụng các bài tập có nội dung và lượng vận động hợp lý.Tóm lại, có thể nói trong dạy học bơi lội các BTBT có vai trò hết sức quantrọng giúp cho người học nắm được kỹ thuật chính xác, rút ngắn được thời gianhọc biết bơi và phát triển các năng lực còn thiếu để đạt được thành tích bơi tốthơn
1.3 ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT KIỂU BƠI TRƯỜN SẤP
Bơi trườn sấp là một trong 4 kỹ thuật bơi thể thao, song nó lại là kiểu bơithể thao quan trọng hàng đầu bởi lẽ: Trong thi đấu bơi, các nội dung thi đấu có
sự hiện diện của bơi trườn là nhiều nhất Ví dụ trong 34 cự ly thi đấu bơi củaOlympic thì có tới trên dưới 20 cự ly bơi có kỹ thuật bơi trườn sấp, như nam nữđều có các cự ly thi đấu 25m, 50m, 100m, 200m,400m, 800m, 1500m; tiếp sức 4
x 100m, 4 x 200m; tiếp sức hỗn hợp 4 x 100m; hỗn hợp cá nhân 200m, 400m
Do có vai trò quan trọng hàng đầu đó mà người ta thường lấy trình độ bơitrườn sấp làm thành một trong những tiêu chí đấnh giá trình độ bơi của mộtquốc gia
Trong bơi trườn có một số đặc điểm kỹ thuật sau:
Trang 161.3.1 Vị trí thân người (thân người nằm sấp ngang trên mặt nước và tạo với mặt nước) 1 góc bơi khoảng 3 - 5 o
Tư thế trong bơi có vai trò quan trọng nhằm giảm thiểu diện tích cản khibơi ra trước, đồng thời giữ cho cơ thể cần bằng và nhịp nhàng với động tác taychân, giúp cho các động tác chân phát huy hiệu quả tối ưu Mặt khác, tư thế thânngười có góc bơi hợp lý sẽ tạo ra lực thắng giúp cơ thể nổi cao trên mặt nước, từ
đó vừa giảm thiểu lực cản vừa tạo thuận lợi cho động tác thở tốt hơn sâu hơn [27], [46]
Trong bơi trườn hiện đại người ta rất coi trọng tạo dựng tư thế thân ngườiđúng cho người học ngay từ những buổi học đầu [47]
1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật động tác chân.
Trong bơi trườn sấp động tác đạp chân của 2 chân luân phiên liên tục, độngtác nâng chân lên nhẹ nhàng, đập chân xuống tăng gia tốc Lợi dụng sự mềmdẻo của khớp cổ chân và hình thức “vút roi” của cả chi dưới sẽ tạo ra áp lực lên
má ngoài mu bàn chân ấn, đẩy nước ra sau để tạo ra lực tiến và lực nâng cơ thể.Hai chân đập luân phiên liên tục vừa là “chân vịt” đẩy sau vừa là bánh láigiữ thăng bằng cho cơ thể để có thể thẳng tiến theo đường thẳng ra trước
Do động tác chân cũng có mối liên hệ chặt chẽ với thở, do vậy, đập châncàng nhanh thì thở cũng càng nhanh Mặt khác, kỹ thuật thở lại là khâu khó nênthường phối hợp thở với đập chân ở những giáo án đầu (bám ván hoặc duỗi taytrên đỉnh đầu đạp chân kết hợp quay đầu sang phía bên thuận thở) [28]
1.3.3 Đặc điểm kỹ thuật quạt tay trườn sấp.
Khi bơi trườn sấp, 2 tay luân phiên quạt nước Nếu quạt tay chỉ dừng ởmức độ quạt tay vòng tròn như chiếc “chong chóng” thì không khó Song quạttay trườn sấp đúng lại là kỹ thuật khó Độ khó của quạt tay trườn sấp được thểhiện ở đặc điểm quạt tay trườn sấp dưới đây:
- Thứ nhất là quạt nước cong tay Kỹ thuật tay bơi trườn sấp hiện đại thểhiện ở đặc điểm này là toàn bộ chu trình quạt tay, tay luôn ở tư thế co khuỷunhiều hay ít Mục đích co khuỷu khi rút tay vung tay và vào nước là để cơ bắp
Trang 17được thả lỏng, tiết kiệm sức và phù hợp với vung tay đường ngắn hơn, tay rútkhỏi nước và vào nước ít cản hơn Còn cong tay khi tỳ nước kéo nước đẩy nước
là để tăng diện tích lớn hơn và lợi dụng hình dáng lướt nước của bàn tay cẳngtay và cánh tay tốt hơn, giúp tạo ra lực kéo và đẩy nước cao hơn
- Thứ hai là quạt nước theo đường cong (hình chữ S ngược với tay phải và
S xuôi với tay trái) Theo các nhà sinh cơ học thì quạt nước đường cong sẽ làmcho bàn tay, cẳng tay tránh được tình trạng luôn ở vào “tầng chảy” của cơ thể và
“tầng chảy” của các bộ phận quạt nước, từ đó tạo ra điểm tỳ vững chắc hơn gópphần tăng hiệu quả quạt nước.[28], [44], [47]
- Thứ ba là sự phối hợp của 2 tay phần lớn là phối hợp giữa và phối hợptrước Nghĩa là điểm giao nhau của tay quạt và tay vung gặp nhau trên 1 mặtphẳng nằm ở phía giữa hoặc phía trước trục vai
Hiện nay những VĐV bơi trườn xuất sắc của thế giới, hiệu lực quạt taythường chiếm khoảng 80 - 85% tổng hiệu lực đẩy cơ thể tiến về phía trước [46]
- Thứ 4 là kỹ thuật thở trong bơi trườn sấp khác với thở của các kiểu bơikhác ở chỗ: Khi thở ra cần thở 90% lượng khí ở dưới nước với tốc độ ra từ từthở ra bằng mồm và mũi Sau đó, khi tay bên thở bắt đầu kéo nước thì quay đầusang hõm sóng há miệng ra thở nốt 10% khí cần thở ra rồi nhanh chóng hít vàobằng mồm đúng vào lúc tay đẩy nước từ vai ra sau Cuối cùng, quay đầu về vị trí
cũ rồi nín thở chờ thực hiện chu kỳ sau
Rõ ràng ở đây ta thấy giữa tay và thở cần phối hợp nhịp nhàng, quạt tayphải tạo ra hõm sóng trước mặt, phía bên thở để giúp cho VĐV không cần quaythân người và đầu nhiều đã có thể đưa mồm vào khoảng không của hõm sóng đểthở một cách thoải mái mà không bị sặc nước Hay nói cách khác quạt tay đã tạotiền đề để người bơi có thể thở ở hõm sóng thấp hơn mặt nước mà không cầnđưa mồm lên quá cao Vì vậy, những người bơi có hiệu lực quạt tay kém, khôngtạo ra được hõm sóng phải quay đầu nhiều mới có thể thở được Như vậy sẽ tốnsức và thân người bị chìm sâu hơn, bất lợi cho việc phát huy tốc độ
Trang 18- Thứ 5 là phối hợp tay chân và phối hợp toàn bộ được thực hiện theo 1nhịp điệu cố định theo thói quen định hình Ví dụ 1 lần thở, 2 lần quạt tay, 6 lầnđập chân (tức phối hợp 1: 2: 6) Song quan trọng của sự phối hợp là sự gắn kếtnhịp nhàng và hợp lý tạo tiền đề cho nhau thực hiện tốt hiệu lực tổng thể.
Trong bơi trườn sấp thì khâu khó nhất là khâu thở, bởi vậy các chuyên giabơi cho rằng: “Biết thở trong khi bơi mới được gọi là biết bơi” và cũng chính dothở có liên quan chặt với kỹ thuật đập chân và quạt tay, cộng với độ khó của bảnthân kỹ thuật bơi nên trong dạy bơi trong những năm gần đây người ta đã xếpsắp trình tự dạy thở lên rất sớm và đem kỹ thuật thở gắn với giai đoạn làm quenvới nước và các bài tập đập chân, quạt tay
1.4 QUY LUẬT HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TRONG BƠI TRƯỜN SẤP
Theo các nhà sinh lý thể thao như: Lưu Quang Hiệp (1995) và các nhàhuấn luyện học như: Harre (1996), Diên Phong (1999) thì người học tập kỹ thuậtthể thao nói chung và người học bơi quá trình nắm vững thành thạo kỹ năng bơitrườn sấp cũng phải trải qua 3 giai đoạn sau: Giai đoạn nắm sơ bộ động tác, giaiđoạn cải tiến và nâng cao kỹ thuật, giai đoạn củng cố và tự động hoá [10], [12],[20]
1.4.1 Giai đoạn nắm động tác sơ bộ.
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chính của người học bơi là làm quen vớimôi trường nước, khắc phục các trở ngại tâm lý như sợ chết đuối, sợ sặc nước,
sợ lạnh, sợ độ sâu ; Sơ bộ nắm được tính năng của nước như lực đẩy, lực cản ;Nhận thức cảm tính một số vận động cơ bản ở dưới nước như đi lại, lặn ngụp,nổi người, thở ra trong nước, mở mắt nhìn trong nước Sau đó là học các kỹthuật cơ bản riêng lẻ và phối hợp
Thông thường ở giai đoạn này, người dạy bơi thông qua việc giảng giải,phân tích, làm mẫu động tác giúp cho học sinh sơ bộ nắm được yếu lĩnh kỹ thuật
và hình thành dần biểu tượng động tác Tiếp đó, qua quá trình tập luyện lặp lại
và sự nhắc nhở uốn nắn của người dạy, học sinh sẽ bước đầu hình thành mối liên
hệ tạm thời các phản xã có điều kiện trên vỏ đại não Tuy vậy ở giai đoạn này sự
Trang 19hưng phấn còn đang lan toả nên động tác thường có biểu hiện căng thẳng, khôngnhịp điệu, còn nhiều động tác thừa, đặc biệt là trong động tác thở thường thựchiện vội vàng, không sâu.
Trong giai đoạn lan toả này, giáo viên cần nắm vững các khâu trọng điểm,then chốt của kỹ thuật để nhắc nhở và cường hoá, đồng thời không nên có yêucầu quá cao đối với các chi tiết động tác
Trong giai đoạn này làm mẫu động tác cần phải chuẩn mực (hoặc cho xemtranh ảnh, băng hình kỹ thuật) để làm cho người học sơ bộ hiểu và hình thànhđược biểu tượng động tác đúng
Do bơi lội là môn thể thao hoạt động trong môi trường nước, một môitrường tương đối xa lạ với con người Do vậy, thời gian nắm động tác sơ bộthường kéo dài hơn so với các môn thể thao ở trên cạn; Sau khi người dạy giảnggiải phân tích làm mẫu và tiến hành tập luyện sơ bộ ở trên cạn, cần phải nhanhchóng cho học sinh xuống tập luyện ở dưới nước Mặt khác, giai đoạn nàythường là giai đoạn học sinh dễ xảy ra sự cố đuối nước; Do đó trong dạy họcphải hết sức coi trọng khâu an toàn giảng dạy
1.4.2 Giai đoạn cải tiến và nâng cao kỹ thuật động tác.
Ở giai đoạn này, người học tiến hành sửa chữa những sai sót và nắm vữngđộng tác chính xác, nâng cao tính nhịp điệu và chất lượng động tác Thông quatập luyện lặp lại nhiều lần, làm cho động tác nhịp nhàng và bơi được nhanh hơn,
xa hơn Cũng qua tập luyện ở giai đoạn này làm cho mối liên hệ tạm thời củacác phản xạ có điều kiện trên vỏ đại não sẽ được chuyển dần từ giai đoạn lan toảsang giai đoạn ức chế phân biệt Nắm vững đặc điểm của giai đoạn này ngườigiáo viên cần phát hiện và xác định nguyên nhân của sai sót và tiến hành sửachữa sai sót Để thực hiện được việc nhanh chóng nâng cao trình độ kỹ thuậtđộng tác cho người học, giáo viên cần dùng phương pháp so sánh đối chiếu vàphân tích tổng hợp để giúp cho người học nhận rõ được động tác đúng sai và cácchi tiết của động tác, làm cho ức chế phân biệt phát triển thêm một bước giúpđộng tác ngày càng có độ chính xác cao hơn
Trang 20Trong học tập bơi lội, do người học rất khó quan sát được động tác củamình (nhất là ở những nơi tập bơi có nguồn nước không được trong suốt); Đồngthời lại bị các nhân tố gây nhiễu bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ ồn vàtrạng thái tâm lý chi phối nên dễ làm cho giai đoạn ức chế phân biệt bị kéo dàihơn, người học sẽ nâng cao kỹ thuật chậm hơn.
1.4.3 Giai đoạn củng cố và tự động hoá động tác.
Sau khi người học đã hình thành sơ bộ kỹ thuật (vẫn còn sai sót nhỏ) thìchuyển sang giai đoạn củng cố và tự động hoá động tác
Đặc điểm của giai đoạn này là nhờ kết quả tập lặp đi lặp lại nhiều lần cácđộng tác kỹ thuật ở giai đoạn trước đó nên động tác đã đạt được trình độ tự độnghoá ngày càng cao hơn Người tập có thể bơi nhẹ nhàng trên cự ly nhất định,đồng thời có thể đảm bảo duy trì kỹ thuật tốt trong các tình huống và điều kiệnkhác nhau Trong bơi lội giai đoạn này nên tăng cường tập các bài tập hoànthiện và nâng cao kỹ thuật như các bài tập kéo dài cự ly bơi, bài tập nâng caocường độ bơi, bài tập tăng thêm độ khó để giúp cho việc củng cố hoàn thiện và
tự động hoá kỹ thuật bơi nhanh hơn
Trong dạy bơi, những người mới tập một kiểu bơi nào đó hoặc nhữngngười bắt đầu học bơi kiểu bơi đầu tiên đều phải trải qua ba giai đoạn đó Songnhững người đã biết bơi một kiểu mà học kiểu bơi thứ 2 thì có thể rút ngắn thờigian học ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2 một cách thích đáng
Ba giai đoạn trong dạy bơi nói trên có mối quan hệ khăng khít với nhau
Nó vừa phản ánh quá trình nhận thức kỹ thuật, nắm vững kỹ năng động tác bơimỗi giai đoạn càng sâu sắc hơn, đồng thời cũng phản ánh quá trình biến đổi vànâng cao chức năng cơ thể của học sinh
Do sự khác biệt về nhiều mặt giữa các đối tượng học tập như thể chất,động cơ ý thức học tập, trình độ bơi ban đầu cũng như các điều kiện kháchquan khác nên đối với từng đối tượng cụ thể thời gian ở 3 giai đoạn này cũngkéo dài ở mức độ khác nhau Mặt khác thời gian của ba giai đoạn này còn quan
hệ chặt chẽ với năng lực và kinh nghiệm dạy học của người thầy Nếu người
Trang 21thầy giỏi có kinh nghiệm giảng dạy biết sử dụng hợp lý các phương pháp giảngdạy, tìm ra những điểm mấu chốt trong kỹ thuật, phát hiện kịp thời và chẩn đoánđúng nguyên nhân của các sai sót kỹ thuật, sử dụng đúng các biện pháp sửachữa thì thời gian cần dùng để hoàn thành mỗi giai đoạn sẽ rút ngắn lại Từ đómang lại hiệu suất cao trong dạy bơi.
1.5 CÁC QUY LUẬT BIẾN ĐỔI HOẠT ĐỘNG CHỨC NĂNG SINH LÝCỦA CƠ THỂ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY BƠI NÓI CHUNG VÀ BƠITRƯỜN SẤP NÓI RIÊNG
1.5.1 Quy luật biến đổi năng lực hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể.
Theo các nhà sinh lý và lý luận dạy học TDTT trong và ngoài nước nhưLưu Quang Hiệp (1995), Harre (1996), Diên Phong (1999) thì trong các môn thểthao nói chung và môn bơi lội nói riêng sẽ tạo ra sự biến đổi các năng lực hoạtđộng chức năng của cơ thể, những biến đổi đó theo những quy luật sau
- Khi bắt đầu vận động, cơ thể chịu ảnh hưởng của tính ỳ sinh lý làm chocác hoạt động chức năng của các hệ thống cơ quan trong cơ thể từ trình độtương đối thấp tăng dần lên trình độ cao hơn Quá trình này được gọi là quá trìnhtăng dần Một thời gian sau đó, năng lực hoạt động của chức năng cơ thể được
ổn định và duy trì ở mức cao, đồng thời duy trì trong sự dao động không lớn.Giai đoạn này được gọi là giai đoạn ổn định Hoạt động chức năng cơ thể đạtđược mức độ nhất định sẽ tạo ra mệt mỏi, năng lực hoạt động chức năng cơ thểsuy giảm và phục hồi được gọi là giai đoạn giảm thấp và phục hồi Quá trìnhnăng lực hoạt động chức năng của cơ thể từ giai đoạn tăng lên đến giai đoạn ổnđịnh rồi chuyển sang giai đoạn giảm thấp và hồi phục được gọi là quy luật biếnđổi năng lực hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể
Cường độ, thời gian kéo dài các giai đoạn của quá trình dài hay ngắn, lớnhay nhỏ phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, trình độ tập luyện, điều kiện môitrường Sự biến đổi này ảnh hưởng tương đối lớn đến chất lượng học thựchành các môn thể thao nói chung và bơi lội nói riêng Trong quá trình lựa chọnxây dựng hệ thống bài tập bổ trợ giảng dạy bơi trườn sấp cho sinh viên cần phải
Trang 22tuân thủ các quy luật biến đổi năng lực hoạt động chức năng sinh lý cơ thể xemxét tình hình cụ thể của học sinh để xếp sắp bài tập có tính chất và lượng vậnđộng phù hợp mới có thể đạt được hiệu quả giảng dạy tốt.
1.5.2 Quy luật thích ứng của chức năng cơ thể.
Quá trình dạy học, người học thông qua tập luyện, lặp lại các loại bài tậptrong đó có các bài tập thể lực sẽ thúc đẩy quá trình tiêu hao năng lượng của cơthể để giải phóng năng lượng cung cấp cho hoạt động của cơ thể Sự tiêu haonăng lượng mạnh mẽ của cơ thể tất sẽ dẫn tới mệt mỏi đồng thời cũng là mộtkích thích đối với quá trình hoạt động thúc đẩy tăng cường dự trữ năng lượng
Từ đó xuất hiện hồi phục vượt mức, nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể.Hồi phục vượt mức là chỉ vào chất năng lượng tiêu hao do vận động, cơ thểkhông chỉ hồi phục về mức độ ban đầu (trước vận động) mà trong một giai đoạnnhất định còn vượt cao hơn mức độ ban đầu Sự hồi phục cao hơn mức độ banđầu này được gọi là hồi phục vượt mức (xem hình 1 biểu thị)
Biểu đồ 1: Quá trình hồi phục của người tập TDTT
Lượng vận Hiệu quả tập luyện
Trang 23hồi phục vượt mức và cuối cùng là phục hồi về mức độ ban đầu Đây chính làquy luật thích ứng của cơ thể.
Trong quá trình dạy bơi nói chung và dạy bơi trườn sấp nói riêng ngườidạy phải tích cực sử dụng các bài tập nhằm nâng cao năng lực vận động củangười học Muốn vậy phải xếp sắp lượng vận động và nghỉ ngơi để có thể tạo rahồi phục vượt mức Từ đó tạo ra sự biến đổi cơ thể mang tính thích ứng [10];[12]; [20]
1.5.3 Các quy luật mang tính phát triển cơ thể và chuyển đổi kỹ năng của người học.
Quy luật phát triển cơ thể là chỉ các ảnh hưởng của việc truyền thụ kiếnthức kỹ năng các môn TDTT làm cho cơ thể cũng tạo ra sự phát triển về thểchất Ngược trở lại sự phát triển thể chất trong học tập lại giúp cho người họcnắm bắt tốt hơn đối với các kỹ thuật Nói cách khác, trong dạy học thì giữa họctập kỹ thuật với phát triển thể chất là một quá trình thống nhất có mối quan hệràng buộc lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau và là một trong những quy luật khôngchịu sự chi phối của ý chí con người
Trong quá trình giảng dạy TDTT nói chung và bơi lội nói riêng, tồn tại mộtquy luật khác nữa đó là quy luật chuyển đổi kỹ năng Theo các nhà khoa học vềsinh lý thể thao, sự phát triển cơ thể của nguời học, một mặt có đặc điểm và quyluật phát triển phát dục tự nhiên về mặt sinh lý và tâm lý Vì vậy dạy học TDTTcần phải thích ứng với quá trình phát triển này Một mặt khác lại có tính tái tạo
sự phát triển Dạy học TDTT cần phải xem xét một cách khoa học tiềm lực pháttriển của nó để thúc đẩy sự phát triển đối với cơ thể và không ngừng cải tiếnphát triển phương pháp dạy học Nhà lý luận dạy học Ngô Chí Triêu (TrungQuốc) đã mô tả quá trình phát triển của cơ thể người học trong quá trình dạy họcnhư biểu đồ dưới đây [51]
Trang 24Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu thị tính phát triển cơ thể của người học (thanh,
thiếu niên - nhi đồng) trong quá trình dạy học TDTT.
Trong quá trình dạy học TDTT nói chung và dạy bơi nói riêng, người họcthường dùng sức của toàn bộ cơ thể để tham gia vận động, hoạt động thể lực vàhoạt động tâm lý phải kết hợp với nhau thì dạy học mới thu được hiệu quả tốt.1.6 CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI HIỆU QUẢ BÀI TẬP BỔ TRỢ TRONG DẠYBƠI
1.6.1 Tính khoa học, hợp lý của nội dung các bài tập.
Tính khoa học, hợp lý của các bài tập bổ trợ trong dạy bơi biểu hiện trướchết ở chỗ các bài tập có đảm bảo được các nguyên tác trong dạy bơi hay không.Như mọi người đã biết, nguyên tắc giảng dạy là những điều nhận thức được
Trang 25tổng kết, đúc rút ra từ mục đích giáo dục, quá trình dạy học và các quy luật pháttriển cơ thể của người học.Nó phản ánh các quy luật khách quan của quá trìnhdạy học và cũng là các yêu cầu chỉ đạo cơ bản trong các khâu chuẩn bị nội dung,bài tập, phương pháp phương tiện dạy học Các nguyên tắc dạy bơi chi phối,định hướng cho việc lựa chọn xây dựng và ứng dụng hệ thống bài tập bổ trợtrong dạy bơi Theo các tác giả trong và ngoài nước như Nguyễn Toán, NguyễnVăn Trạch (Việt Nam), Lý Văn Tĩnh, Dương Ngọc Cường (Trung Quốc) thì cácnguyên tắc trong dạy bơi được quan tâm gồm:
a Nguyên tắc tự giác tích cực.
Nguyên tắc tự giác tích cực là chỉ người thầy trong quá trình giảng dạy cầngiáo dục cho sinh viên xác định rõ mục đích học tập đồng thời sử dụng cácphương pháp dạy học có thể phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và tính tựgiác học tập của mỗi người học
Trong quá trình dạy học người thầy có tác dụng chủ đạo, gợi mở dẫn dắt vàdùng các phương pháp dạy học như nêu vấn đề, thảo luận, trò chơi, thi đấu đểphát huy tính tự giác tích cực của người trò Trong dạy học hiện đại lấy ngườihọc làm trung tâm thì nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn; Vì tự giác và tích cực cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Muốn có được tính tích cực cần có tính tự giác,muốn có tính tự giác lại phải làm cho người học ham thích hứng khởi khi họctập Do vậy nguyên tắc tự giác, tích cực đã chỉ hướng cho việc lựa chọn nộidung và hình thức bài tập sao cho các bài tập có tính mới mẻ, hấp dẫn, đa dạng,
có tính tranh đua và tính vui vẻ Đặc biệt là trong quá trình chuẩn bị bài tập cũngnhư quá trình điều hành thực hiện các bài tập người thầy cần xuất phát từ đặcđiểm tâm lý lứa tuổi để dùng hình thức tập luyện thích hợp nhằm khích lệ tính tựgiác tích cực của người học Ví dụ có thể dùng hình thức bình xét “nhà vô địch”từng loại động tác kỹ thuật qua các bài tập bổ trợ kỹ thuật từng phần
Trong dạy bơi giáo viên cần kịp thời nêu gương biểu dương các em đã thựchiện có chất lượng các bài tập Mặt khác các bài tập phải đan xen nhau một cáchhợp lý không nên kéo dài một bài tập nào đó với thời gian quá dài (10-15’)
Trang 26b Nguyên tắc trực quan.
Nguyên tắc trực quan là nguyên tắc giảng dạy bằng việc phân tích kỹ thuậtthông qua các phương tiện trực quan như tranh ảnh, băng hình hoặc động táclàm mẫu để người học tạo dựng được hình tượng và hình thành được biểu tượngvận động
Đối với mỗi bài tập lựa chọn, tính trực quan được thể hiện qua các yêu cầu
cụ thể, chi tiết về góc độ, phương hướng, cách dùng lực để tạo cho người tậpmột biểu tượng vận động nhất định Trong thực tế dạy bơi, nhiều người chỉ đưa
ra tên bài tập (ví dụ bài tập đập chân trườn) Sau đó nói đến cự ly, tần số, số lầnlặp lại hoặc có nêu yêu cầu thì cũng rất chung chung như đập thẳng chân, gótchân không đưa lên mặt nước Vậy còn yêu cầu về góc độ, nhịp độ cách dùngsức người tập vẫn chưa thật rõ mình phải làm thế nào? Một số câu lạc bộ dạybơi có điều kiện họ còn bố trí trong phòng tập trên cạn hàng loạt các tấm gươnglớn để người tập tập các bài tập bắt chước động tác quạt tay, đập chân, phối hợptrước gương để người tập có thể giám sát và tự đánh giá được đúng, sai củamình Đây cũng là một phương pháp trực quan tốt
c Nguyên tắc nâng dần.
Đây là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học TDTT nói chung và dạybơi lội nói riêng nhằm giúp người học có thể từng bước nắm vững kỹ thuật.Nguyên tắc nâng dần là chỉ sự nâng dần về độ khó kỹ thuật, nâng đânlượng vận động của bài tập và nâng dần các yêu cầu chung trong dạy học
Nguyên tắc này được quán triệt tốt trong quá trình lựa chòn xây dựng hệthống bài tập bổ trợ trong dạy bơi nói chung và bơi trườn sấp nói riêng, sẽ làmcho các bài tập phát huy được hiệu quả tổng thể của hệ thống bài tập với mức tối
ưu Ngược lại, sẽ làm giảm thấp hiệu quả của cả hệ thống bài tập
d Nguyên tắc xuất phát từ thực tế (còn được gọi là nguyên tắc tính thực
tiễn)
Nguyên tắc này là chỗ dựa thực tiễn cho việc xếp sắp nội dung, phươngpháp lượng vận động, cách tiến hành các bài tập trong dạy bơi Hay nói cách
Trang 27khác, việc lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập bổ trợ dạy bơi cần phải dựavào tuổi tác, giới tính, thể chất, tình hình sân bãi bể bơi, thời tiết khí hậu để cóđược các bài tập tạo ra hiệu quả cao cho người học.
e Nguyên tắc củng cố
Trong dạy học TDTT nói chung và dạy bơi nói riêng cần vận dụng nguyêntắc củng cố để giúp người học nắm chắc và củng cố các tri thức và kỹ năng đãhọc Trong thực tế dạy học TDTT, củng cố và nâng cao phải hết sức quan tâmtập luyện các bài tập hoàn thiện kỹ thuật và các bài tập phát triển thể lực Bởi lẽ,mỗi động tác kỹ thuật muốn đạt được trình độ cao hơn thì phải tiến dần tới sựhoàn thiện kỹ thuật và có được trình độ thể lực tương ứng để có thể đáp ứngthuận lợi cho việc thực hiện kỹ thuật Đồng thời trong quá trình quán triệtnguyên tắc này trong để lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ cần phải quantâm tới mối quan hệ giữa các nguyên tắc Theo các nhà sư phạm về bơi lội nhưGiả Ngọc Thuỵ, Lý Văn Tĩnh (Trung Quốc), ButuVich (Nga) thì trong dạy bơi,các nguyên tắc dạy bơi đó có mối quan hệ bổ sung cho nhau; Nội dung của cácnguyên tắc đó lại rất gần cận nhau và đều có một mục đích thống nhất Bởi vậy,cũng theo các nhà khoa học trên thì sự phân chia này cũng chỉ là tương đối Dovậy, trong giảng dạy bơi cũng như trong lựa chọn bài tập bổ trợ trong dạy bơicần phải quán triệt toàn diện các nguyên tắc trên Chỉ có như vậy mới có thể đạtđược hiệu quả tốt và không ngừng nâng cao được chất lượng dạy bơi
* Tính khoa học hợp lý của bài tập còn được thể hiện ở định tính và định lượng của bài tập.
Các tác giả nước ngoài như Harre (Đức), PhiLin (Nga), Điền Mạch Cửu,Diên Phong (Trung Quốc) thì mỗi bài tập mang trong bản thân nó 2 phần cơ bản
là định tính và định lượng
Định tính là chỉ về tính chất riêng của bài tập và thông thường biểu thị ởcác mặt: mục đích của bài tập, cách tiến hành tổ chức thực hiện bài tập và cácyêu cầu cơ bản đối với bài tập
Trang 28Định lượng là chỉ về lượng vận động mà bài tập phải hoàn thành, bao gồm
số lần lặp lại, cự ly, thời gian, cường độ và mật độ của việc thực hiện bài tập.[10], [18], [20], [49]
Cũng theo các nhà khoa học huấn luyện trên, sự khác biệt giữa các bài tập
về mặt định tính chủ yếu của các bài tập được thể hiện ở mục đích và cách tổchức tiến hành tập luyện và về mặt lượng vận động thì đó là sự khác biệt vềcường độ tập luyện Song trong các bài tập để giảng dạy cùng một loại kỹ thuậtthì sự khác biệt chủ yếu lại là tỉ lệ về tính chuyên môn của bài tập và phươngthức thực hiện bài tập Các bài tập phát triển chung thì tỷ lệ chuyên môn ít hơn,còn bài tập chuyên môn thì tỷ lệ chuyên môn cao hơn
Hai phần định tính và định lượng của bài tập theo từng giai đoạn tập luyện
kỹ thuật sẽ làm theo hiệu quả sử dụng bài tập đạt hiệu quả tốt hơn Thôngthường, định tính và định lượng ở giai đoạn dạy học sơ bộ sẽ phải thấp hơnlượng vận động; Tỷ lệ chuyên môn và lượng vận động được tăng dần ở các giaiđoạn sau
Theo các tác giả Nhiếp Lâm Hồ (2003) Ngô Chí Triệu(2004) tính hiệuquả của các bài tập giảng dạy TDTT phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phù hợp giữa mục đích bài tập với nhiệm vụ giảng dạy
- Phù hợp về cách thức tổ chức thực hiện bài tập với đặc điểm các giaiđoạn dạy học
- Phù hợp về hình thức phương pháp tiến hành tập luyện với đặc điểm tâmsinh lý đối tượng và điều kiện tập luyện
- Phù hợp về lượng vận động và độ khó của bài tập với trình độ thể chấtnăng lực chuyên môn của người tập …[48][51]
1.6.2 Năng lực tổ chức điều hành thực hiện các bìa tập bổ trợ của người thầy.
Một bài tập muốn phát huy được hiệu quả tốt đòi hỏi người hướng dẫnthực hiện trước hết phải nắm bắt được mục đích yêu cầu của bài tập Kế đó là
Trang 29nắm bắt được qui trình thực hiện bài tập để chuẩn bị tốt các phương tiện dụng cụthực hiện bài tập.
Trong quá trình tập luyện phải biết vận dụng các biện pháp tâm lý để điềukhiển họ tập trung sức chú ý và tập luyện trong trạng thái tâm lý thích hợp Mộtyêu cầu khác trong giảng dạy là đòi hỏi người thầy phải nắm vững lượng vậnđộng như số lần lặp lại, thời gian nghỉ giữa cường độ bài tập… để tạo ra nhữngkích thích vừa đủ cho người học có thể nắm bắt và củng cố kỹ thuật
Ngoài ra, trong quá trình tổ chức điều hành tập luyện người thầy cần quansát, phát hiện kịp thời các sai sót kỹ thuật, nhanh chóng tìm ra nguyên nhân đểsửa chữa đúng lúc cho học sinh, không để các sai sót đó trở thành “có tật”
Tóm lại, năng lực tổ chức điều hành là một trong những năng lực sư phạmquan trọng và chủ yếu nhất của người giáo viên thể dục thể thao Năng lực nàytốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực hiện các bài tập nói riêng và nâng cao chấtlượng dạy học nói chung
Trong quá trình dạy bơi, năng lực tổ chức, điều hành thực hiện các bài tậptốt còn có thể nâng cao độ an toàn trong tập luyện bơi cho học sinh Như chúng
ta đã biết, dạy bơi nhất là dạy bơi cho người chưa biết bơi ở lớp đông người chỉcần tổ chức các tổ, nhóm, đội không chăt chẽ, sự giám sát nhau lơi lỏng, nhất làtrong điều kiện bể bơi, hồ bơi sâu mà nước lại không trong thì rất dễ xảy ra sự
cố Một khi nếu dạy bơi để xảy ra sự cố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạyhọc nói chung và chất lượng thực hiện các bài tập bổ trợ nói riêng
1.6.3 Phương tiện dụng cụ dạy bơi sử dụng trong bài tập bổ trợ dạy bơi.
Ở các nước có nền thể thao phát triển, trong nhiều năm trở lại đây đã rấtcoi trọng sử dụng các phương tiện dạy bơi như thiết kế các bể bơi chuyên dùngtrong giảng dạy, các phao với đủ hình thức, kiểu dáng, kích cỡ, màu sắc phù hợpvới đặc điểm lứa tuổi, chân vịt và bàn quạt các kiểu Các xe đạp nước trong ghếtập bơi chuyên dụng…
Từ đó đã làm phong phú các loại hình bài tập bổ trợ bơi và góp phần nângcao hiệu quả dạy bơi Vậy vì sao phương tiện lại được coi trọng như vậy? Các
Trang 30nhà sư phạm về bơi lội như Lý Văn Tinh, Dương Ngọc Cường, Ôn Trọng Hoa(TQ) Cao Xin Men (Mỹ) Butuvic (nga) Lê Văn Xem (VN) cho rằng: “Trong dạybơi yếu tố tâm lý ở giai đoạn dạy bơi ban đầu cho người chưa biết bơi là hết sứcquan trọng, làm sao có những bài tập giúp cho người học giảm bớt được trở ngạitâm lý sẽ làm cho việc nắm bắt tính năng nước, làm quen nước và từng bướcthực hiện các kỹ thuật bơi mới đạt được hiệu quả Chính trong lúc này phươngtiện dạy bơi phát huy hiệu quả nhiều về mặt khắc phục trở ngại tâm lý cho ngườihọc( nhất là đối với thanh thiếu niên)’’ [3] [46][47][50].
Một vấn đề quan trọng khác là hỗ trợ điểm tỳ và lực nội để người mới học
có thể nổi ngang bằng trên mặt nước nhằm tạo điều kiện thực hiện được cácđộng tác kỹ thuật riêng lẻ như thở, kỹ thuật quạt tay, đập chân v.v… Trong thờiđại khoa học công nghệ phát triển đã tạo ra nhiều loại dụng cụ bổ trợ phong phú,
đa dạng như áo phao, phao tròn, phao ván, phao bóng, phao hình dạng các convật, bàn quạt, mắt kính, vời hơi chân vịt ghế dạy bơi ghế biôkêních và các dụng
cụ bổ trợ hể lực cho người học bơi khác; Người giảng dạy cần lựa chọn, sử dụngcác phương tiện tập luyện khác nhau từ đó sẽ hình thành được nhiều loại bài tập
bổ trợ có hiệu quả cao đối với người học
1.6.4 Sự sắp xếp trình tự các bài tập hợp lý.
Các tác giả trong và ngoài nước như Nôvicốp Mácviép (Nga), Nhiếp Lâm
Hổ, Ngô Chí triệu (TQ) Nguyến Toán (VN) đều cho rằng: “ Mỗi bài tập đều cómục đích để giải quyết một nhiệm vụ giảng dạy hoặc huấn luyện nào đó Bởivậy phải dựa vào nhiệm vụ giảng dạy và huấn luyện để xếp sắp và sử dụng bàitập hợp lý, sao cho bài tập trước có thể tạo tiền đề và bổ trợ cho bài tập sau, bàitập sau hỗ trợ củng cố và phát huy hiệu quả của bài tập trước để chúng tạo rahiệu ứng tổng thể là giúp người học nắm vững và nâng cao kỹ thuật, nâng caothành tích thể thao’’[16][24][48][51]
Trong quá trình xếp sắp các bài tập phải tuân thủ các nguyên tắc dạy học,đặc biệt cần coi trọng nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc nâng dần, nguyên tắc
Trang 31chiếu cố cá biệt… để tạo ra mối liên kết và sự nhất trí cao giữa các bài tập trongmột buổi tập.
Việc sắp xếp các bài tập trong học tập mỗi kỹ thuật thậm chí trong mỗigiáo án phải giống như việc kê đơn bốc thuốc của các thầy thuốc đông y
Nghĩa là phải căn cứ vào trình độ và đặc điểm đối tượng, nhiệm vụ họctập, thời gian, điều kiện sân bãi … để lựa chọn bài tập có tính năng có thể giảiquyết được nhiệm vụ giảng dạy Đồng thời, đưa ra các khối lượng và hình thứctập luyện hợp lý mới có thể tạo ra được hiệu quả tốt cho từng bài tâp đồng Từ
đó nần cao được hiệu ứng tổng thể các bài tập, giúp người dạy hoàn thanh đượcnhiệm vụ bài giảng và giúp học sinh nâng cao kỹ thuật và thành tích học tập 1.7 XU THẾ PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢTRONG DẠY BƠI
Hiệu quả kinh tế của dạy bơi là rút ngắn thời gian dạy bơi mà vẫn đảmbảo cho người học bơi tốt Hiệu quả xã hội của dạy bơi là làm cho nhiều ngườinhất là thanh niên nắm được kỹ năng bơi, giảm thiểu được các tai nạn sôngnước, đảm bảo sự an toàn của cộng đồng con người trong xã hội Song hiệu quảdạy bơi lại phụ thuộc rất nhiều vào tính năng tác dụng và tính khoa học trongviệc lựa chọn, sắp xếp, sử dụng các bài tập bổ trợ
Theo các nhà khoa học lý luận TDTT thì bài tập bổ trợ là một phương tiệndùng để giảng dạy huấn luyện thể thao trong đó bao gồm bài tập mang tínhchuẩn bị, bài tập mang tính dẫn dắt và các bài tập bổ trợ được sắp xếp theo trình
tự nội dung dạy học từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng thìđược gọi là hệ thống bài tập
Trong quá trình lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ dạy bơitrườn sấp cần phải dựa vào đặc điểm kỹ thuật của kiểu bơi này động thời cầnphải nắm chắc các quy luật dạy học như quy luật hình thành kỹ năng vận độngqua ba giai đoạn, các quy luật biến đổi chức năng sinh lý cơ thể trong dạy bơi.nắm chắc các nguyên lý, nguyên tắc dạy bơi, các yếu tố định tính và định lượng
Trang 32của bài tập và các xu thế sử dụng bài tập thì mới có thể lựa chọn xây dựng được
hệ thống bài tập bổ trợ dạy bơi trườn sấp đạt hiệu quả tối ưu
Hiện nay xu thế chung trong sử dụng bài tập bổ trợ dạy bơi là:
- Sử dụng đa dạng các bài tập trên cạn và dưới nước, lấy các bài tập bổ trợdưới nước là cơ bản
- Kết hợp chặt chẽ giữa các bài tập bổ trợ kỹ thuật với bài tập bổ trợ pháttriển thể lực
- Cần dựa vào tiến trình giảng dạy các kỹ thuật để sử dụng các bài tập phùhợp với trình độ và năng lực người tập
Trang 33
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỐ CHỨC NGHIÊN CỨU2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu là một phương pháp quantrọng hàng đầu trong mọi công trình nghiên cứu nhằm thu thập các tài liệu, tổnghợp các nguồn thông tin hiện có trong và ngoài nước đã được công bố trên cácsách báo tạp chí khoa học Từ đó giúp người nghiên cứu có được cái nhìn tổngthể, toàn diện vấn đề nghiên cứu đồng thời cũng là chỗ dựa để xây dựng cơ sở lýluận cho đề tài
Trong đề tài này các tài liệu được tổng hợp gồm 2 lĩnh vực lớn là:
- Các tài liệu về khoa học cơ bản như triết học, kinh tế chính trị học, giảiphẫu, sinh lý, sinh hoá, sinh cơ, toán tin…
- Các tài liệu về khoa học cơ sở như lý luận dạy học, giáo dục học, lý luận
và phương pháp giáo dục TDTT, học thuyết huấn luyện, sinh lý TDTT, tâm lýTDTT, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo về môn bơi lội…
Ngoài ra đề tài còn tìm hiểu các văn kiện nghị quyết chỉ thị của Đảng,Nhà nước, các thông tư của Ủy ban TDTT (nay là Tổng cục thuộc Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch)
Các tài liệu tham khảo được trình bày ở phần danh mục các tài liệu thamkhảo
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Phương pháp phỏng vấn hay còn được gọi là phương pháp chuyên gia.Người nghiên cứu thông qua phương pháp này nhằm thu thập các thông tin cầnthiết từ các chuyên gia Đây là phương pháp được sử dụng khá rộng rãi trongcác công trình nghiên cứu về giảng dạy và huấn luyện TDTT
Trang 34Phương pháp phỏng vấn có 2 loại: Phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn giántiếp Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cả 2 phương pháp phỏng vấn gián tiếpbằng phiếu hỏi và phương pháp toạ đàm.
Từ các phiếu phỏng vấn được chuẩn bị một cách chu đáo với các nội dung
có liên quan và cần thiết sẽ được gửi tới các chuyên gia
Đối tượng phỏng vấn và toạ đàm là các nhà khoa học, các huấn luyện viênbơi các giáo viên dạy bơi trong và ngoài trường Đại học TDTT Bắc ninh và Đạihọc Sư phạm Thái Nguyên
Nội dung phỏng vấn xoay quanh việc khảo sát thực trạng sử dụng bài tập
bổ trợ trong dạy bơi trườn sấp và cơ sở lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập bổtrợ dạy bơi trườn sấp cho sinh viên khoa TDTT đại học Sư phạm Thái Nguyên.Toạ đàm về nội dung đánh giá tính hợp lý của nội dung và trình tự xếp sắp theo
hệ thống của các bài tập
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp được sử dụng rất rộng rãitrong các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực giảng dạy và huấn luyệnTDTT Thông qua quan sát trực tiếp các giờ giảng dạy của các giáo viên trong
bộ môn cũng như các giờ giảng dạy ứng dụng hệ thống bài tập bổ trợ mà đề tài
đã lựa chọn vào thực tế giảng dạy cho sinh viên Đại học Sư phạm Thái Nguyên
để thu thập các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Quá trình quan sát chúng tôi theo dõi các diễn biến về kỹ thuật, kết quảhọc tập sau mỗi buổi học, xác định hiệu quả của các bài tập theo trình tự các bàitập tập luyện kỹ thuật bơi trườn sấp của sinh viên phổ tu và chuyên sâu bơi khoaTDTT Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Bên cạnh đó đề tài còn quan sát diễn biến việc tập luyện của sinh viên đểđiều chỉnh chính xác việc tập luyện của sinh viên để đánh giá kết quả thựcnghiệm
2.1.4 Phương pháp sử dụng test
Trang 35Phương pháp sử dụng test còn được gọi là phương pháp kiểm tra sưphạm Trong đó, người nghiên cứu sử dụng một số bài tạp kiểm tra (test) đểkiểm tra trước trong và sau thực nghiệm nhằm giúp cho việc đánh giá một cáchkhách quan, khoa học các tác động của bài tập đã được lựa chọn vào quá trìnhhọc tập của sinh viên khoa TDTT Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Các test mà chúng tôi sử dụng để kiểm tra trong đề tài này gồm:
A Thể chất:
1 Sải tay - chiều cao đứng
2 Công năng tim
3 chỉ tiêu chuyên môn làm điểm kỹ thuật cự ly bơi và tốc độ bơi
Các test trên được tiến hành thống nhất theo phương pháp sau:
1 Sải tay - chiều cao đứng (cm): Đây là chỉ số thể hình quan trọng
của VĐV bơi
Phương tiện kiểm tra: Dùng một bảng gỗ lớn (hoặc bức tường) trên đó đãvạch sẵn độ dài từ 0m đến 2m
Trang 36Cách đo: * Người đo đặt 1 tay vào vạch số không sau đó giang ngang 2 taysong song với mặt đất tay co lại với tới đâu sẽ là độ dài của sải tay Người kiểmtra căn cứ vào khoảng cách giữa hai đầu ngón tay của 2 tay khi giang sangngang của người bị kiểm tra để ghi lại thành tích độ dài cánh tay Sau đó đochiều cao cơ thể bằng thước đọ chiều cao.
* Người bị kiểm tra đứng quay lưng và thước đo đặt 3 điểm gótchân, mông và gáy áp sát vào thước, người kiểm tra xê dịch con trượt đặt đúngđỉnh đầu sau đó người kiểm tra sẽ đọc số đo chiều cao đo được hiện trên thước.cuối cùng đem độ dài sải tay trừ đi chiều cao để có kết quả của chỉ số này (chỉ
số này càng lớn sẽ càng tốt)
2 Chỉ số công năng tim
Đây là chỉ số đánh giá chức năng cơ thể, chỉ số này thể hiện sự phản ứngcủa hệ tim mạch và năng lực hoạt động của tim đối với lượng vận động
Thiết bị kiểm tra bao gồm máy đếm mạch Ph711 do Nhật sản xuất Thiết bịđếm nhịp, đồng hồ bấm giây
Cách kiểm tra: để đối tượng kiểm tra ngồi yên tĩnh 10 – 15 phút dùng máy
đo 1 lần thứ nhất 1 phút (F0) Sau đó cho đối tượng kiểm tra 2 tay chống hông, 2chân rộng bằng vai rồi ngồi xuống đứng lên 30 lần trong 30 giây theo nhịp gõcủa máy gõ nhịp (nếu sai nhịp phải làm lại) Tiếp theo cho người bị kiểm tra raghế ngồi nghỉ lập tức cho đo mạch lần 2 (F1) và sau 1 phút nghỉ hồi sức lại đomạch lần 3 (F2) cuối cùng dựa vào công thức tính công năng tim HW
Trang 37Phương tiện kiểm tra: Trên đường chạy thẳng 40m đến 50 m có thể thiết
kế 2 – 4 đường chạy Ở một đầu có vạch xuất phát, cách vạch xuất phát 30m cóvạch đích Dùng đồng hồ bấn giây có sai số < 1% giây
Cách tiến hành kiểm tra:
Cho người chạy đứng sau vạch xuất phát, khi người phát lệnh phất cờ(hoặc bắn súng) thì chạy lao về phía đích với tốc độ cao nhất Ở vạch đích cóngười bấm giây Làm sao bấm đồng hồ dừng đúng lúc người chạy cán đích Ghithành tích tới 2 số lẻ
4 Nằm sấp chống đẩy (lần)
Kiểm tra sức mạnh bột phát của tay
Thiết bị kiểm tra: 1 vùng đất phẳng (hoặc thảm cỏ) có diện tích khoảng18m2 trở lên
Cách tiến hành: Người kiểm tra vào vị trí kiểm tra (có thể 2 hoặc 3 người
1 đợt, tuỷ theo số lượng nhân viên kiểm tra) 2 tay chống đất thân người duỗithẳng, sau đó thực hiện co đẩy tay để hạ thấp và nâng cao cơ thể lên xuống Yêucầu khi chống đẩy thân người phải đồng thời lên xuống không được ưỡn bụngnâng mông Nếu không đúng yêu cầu phải làm lại Người kiểm đếm số lần màngười bị kiểm tra thực hiện được mức độ tối đa
5 Bật xa tại chỗ (cm)
Kiểm tra bật xa tại chỗ là chỉ tiêu kiểm tra sức mạnh bột phát của chân.Thiết bị kiểm tra: Gồm một hố cát dài khoảng 3,5~4m Một đầu hố cát bốtrí một bục giậm nhảy bằng một tấm gỗ rộng 30cm dài 80cm ~ 1m dày 6cm ~8cm rồi đặt chìm vào vùng đất dậm nhảy ( cao bằng với mặt đất) một thước dây5m
Cách tiến hành: Lần lượt từng người bị kiểm tra đứng vào trước bục dậmnhảy làm tư thế chuẩn bị và giậm nhảy Người kiểm tra dùng thước đo đokhoảng cách từ mép trước của bục giậm nhảy đến điểm chạm đất gần nhất củangười nhảy Người nhảy được nhảy 3 lần, lấy thành tích của lần nhảy xa nhất
6 Chạy con thoi 4x10m (s)
Trang 38Dùng test này để đánh giá năng lực khéo léo.
Phương tiện kiểm tra: Trên sân có nền đất hoặc thảm cỏ hình vuông hoặcchữ nhật có chiều đà rộng từ 10~12m Có 4 cạnh thiết kế thành 4 đường chạyrộng 1,2m dài 10,4m góc đặt 4 vạch chuẩn (có thể là cột cờ bằng tre) sau cột cókhoảng trống ít nhất 2m Người kiểm tra dùng đồng hồ bấm giây có sai số 1%
Kiểm tra sức bền chung của người bị kiểm tra
Phương tiện kiểm tra có thể sử dụng đượng chạy trên sân điền kinh hoặctrên đường quốc lộ; Song cần được đo đúng cự ly và thiết kế vạch xuất phát vàvạch đích, đồng hồ bấm giây sai số <1% giây
Cách tiến hành: Người bị kiểm tra đứng trước vạch xuất phát (có thể từ 2đến 4 người cùng chạy); Khi nghe hiệu lệnh của trọng tài xuất phát thì nhanhchóng bật chạy và dùng sức hợp lý để chạy hết cự ly một cách nhanh nhất.Người bấm giờ xác định thành tích cho từng người khi về đích (nếu số lượngđông thì người kiểm tra phải mặc áo có số để không bị lẫn)
Yêu cầu người chạy không được chạy vào trong sân hoặc đường tắt
8 Dẻo gập thân (cm)
Nhằm kiểm tra năng lực mềm dẻo của người tập
Phương pháp kiểm tra: Dùng một bục gỗ có chiều dài là 80cm rộng là 30cm
và chiều cao khoảng 35 đến 40m đặt trên mặt sàn phẳng Mặt bục phía trước đã kẻsẵn các khoảng cách từng 1cm từ trên mặt bục xuống dưới mặt sàn
Trang 39Cách tiến hành: Từng người bị kiểm tra lần lượt đứng lên mặt bục 2 ngónchân mím vào mép trước của bục, sau đó cúi người vươn 2 tay xuống phía dưới,lòng bàn tay xoay vào mặt trước của bục Người kiểm tra xác định độ với sâucủa tay xuống dưới sàn (lấy đầu ngón tay giữa của người bị kiểm tra để xácđịnh)
Yêu cầu: Khi cúi người 2 tay với xuống dưới, 2 đầu gối của người bị kiểmtra phải thẳng
C Cách đo các test chuyên môn.
Phương tiện: Bể bơi có chỗ bám tay, một thước dây 10m
Cách tiến hành: Cho người kiểm tra 1 tay bám thành bể, chân đặt thành
bể Khi có lệnh xuất phát thì cùng lúc vung tay, cúi đầu và co chân chống đáy bểlên thành bể đạp lướt cơ thể về trước
Người kiểm tra xác định cự ly mà người bị kiểm tra đạp lướt xa nhất trong
3 lần thực hiện
3 Điểm kỹ thuật: khi chấm có 2 giáo viên cho điểm mỗi sinh viên bơi cự
ly 10m đến 15m theo barem điểm của bộ môn thể thao dưới nước trường Đạihọc TDTT Đà Nẵng
Trang 40Điểm kiểm tra kỹ thuật cuối cùng là điểm trung bình cộng giữa 2 điểmcủa 2 giáo viên chấm.
4 Cự ly bơi dài nhất (m) nhằm đánh giá trình độ kỹ thuật bơi ban đầu củangười học
Phương tiện kiểm tra: Bể bơi có chiều dài 25 50m Có độ sâu từ 1m 1,50m
-Cách tiến hành: Cho người bị kiểm tra bám 1 tay vào thành bể sau đó rahiệu lệnh để người bị kiểm tra bơi trườn sấp với kỹ thuật và tốc độ thích hợp để
có thể bơi được quãng đường xa nhất Người kiểm tra ghi nhận số mét bơi được
Người kiểm tra bấm dừng đồng hồ cùng lúc với tay người bơi chạm đích.Ghi lại thành tích kiểm tra
Yêu cầu không được bơi sang đường bơi khác hoặc dùng kiểu bơi khác đểbơi Không được dừng lại đi bộ dưới nước
2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi đã xây dựng được hệ thống bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quảgiảng dạy kỹ thuật bơi trườn sấp, đề tài đã dùng phương pháp thực nghiệm sưphạm để kiểm định tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả của hệ thốngbài tập được đưa ra trên cơ sở lý luận nhằm làm sáng tỏ hiệu quả của bài tập đãđược lựa chọn và xây dựng Tiến hành so sánh 2 nhóm có cùng trình độ và điềukiện tương đồng để đưa vào thực nghiệm ở hai loại hệ thống bài tập khác nhau.Các kết quả ban đầu và sau thực nghiệm được xử lý bằng toán thống kê để xácđịnh tính đồng đều của trình độ ban đầu và hiệu quả tác động của hệ thống bàitập đối với 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng Từ đó khẳng định tính hiệu quả