1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của covid 19 đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân

12 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của covid 19 đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAU HÔN NHÂN 2 1 1 Lý luận về hôn nhân 2 1 1 1 Khái niệm hôn nhân 2 1 1 2 Đặc điểm hôn nhân 2 1 2 Lý luận v.MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAU HÔN NHÂN21.1. Lý luận về hôn nhân21.1.1. Khái niệm hôn nhân21.1.2. Đặc điểm hôn nhân21.2. Lý luận về cư trú sau hôn nhân3II. TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN VẤN ĐỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAO HÔN NHÂN42.1. Tác động của dịch bệnh Covid 19 đến sức khỏe gia đình42.2. Tác động của dịnh Covid đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân52.2.1. Đánh giá chung52.2.2. Vấn đề bạo lực gia đình62.3. Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Covid 19 đến hôn nhân và cư trú sau hôn nhân8KẾT LUẬN10TÀI LIỆU THAM KHẢO11  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUGia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc do vậy vào lúc này cần xây dựng gia đình trở thành pháo đài vững chắc, điểm tựa quan trọng trong phòng chống đại dịch COVID19. Trong đó, sự chia sẻ, thấu hiểu và động viên lẫn nhau của từng thành viên gia đình, đồng thời động viên các chiến sĩ, y, bác sĩ ở tuyến đầu yên tâm, nỗ lực chống dịch bệnh cho cộng đồng là rất quan trọng.Tuy nhiên, do phải giãn cách, cách ly, không tập trung đông người nên các ngành hàng như khách sạn, nhà hàng, giao thông, vận tải, du lịch, vui chơi, giải trí… bị đại dịch tác động lớn. Sản phẩm của người nông dân làm ra cũng gặp khó khăn trong tiêu thụ vì không ít nơi bị cô lập bởi dịch bệnh.Những khó khăn do dịch bệnh COVID19 đang hằng ngày tác động đến thu nhập của hàng triệu gia đình ở khắp mọi miền đất nước, nhất là ở những tỉnh, thành phố nơi dịch bệnh COVID19 đang bùng phát trở lại. Kinh tế sụt giảm, lao động bị dôi dư, thu nhập bị giảm sút, làm cho các gia đình phải thắt chặt chi tiêu, và đang phải trải qua những thử thách chưa từng để giữ vững vai trò là chốn bình yên trong dông tố của dịch bệnh COVID19.Mất việc làm, thu nhập giảm sút, bạo lực gia đình gia tăng, vấn đề học hành của con cái… là những thách thức các gia đình trẻ phải đối mặt do đại dịch Covid19. Vì vậy qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Tác động của Covid 19 đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. PHẦN II: NỘI DUNGI: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAU HÔN NHÂN1.1. Lý luận về hôn nhân1.1.1. Khái niệm hôn nhânHôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định là sự xếp đặt của một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và phụ nữ. Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung và sinh con đẻ cái với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu.Ở Việt Nam, Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Như vậy có nghĩa rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ, các biến dị khác như hôn nhân đồng tính, hôn nhân đa thê hoặc tảo hôn đều là vi hiến, và Luật hôn nhân và gia đình không công nhận những kiểu biến dị đó.1.1.2. Đặc điểm hôn nhânTheo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, hôn nhân có những đặc điểm sau:Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ là hôn nhân một vợ một chồng. Để đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc cấm người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ (điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 522014QH13). Hôn nhân là sự liên kết trên cơ sở tự nguyện của hai bên nam nữ: Hai bên nam nữ có quyền tự mình quyết định việc kết hôn, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối và cũng không bị cản trở. Nam nữ khi tham gia quan hệ hôn nhân được hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật. Trong gia đình, mỗi bên vợ chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt. Ngoài xã hội, với tư cách là công dân, mỗi bên vợ, chồng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cồng dân đã được Hiến pháp công nhận. Mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là để cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Do vậy, nếu nam nữ kết hôn là để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm để chung sống và xây dựng gia đình thì gọi là kết hôn giả tạo.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAU HÔN NHÂN 2

1.1 Lý luận về hôn nhân 2

1.1.1 Khái niệm hôn nhân 2

1.1.2 Đặc điểm hôn nhân 2

1.2 Lý luận về cư trú sau hôn nhân 3

II TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN VẤN ĐỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAO HÔN NHÂN 4

2.1 Tác động của dịch bệnh Covid 19 đến sức khỏe gia đình 4

2.2 Tác động của dịnh Covid đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân 5

2.2.1 Đánh giá chung 5

2.2.2 Vấn đề bạo lực gia đình 6

2.3 Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Covid 19 đến hôn nhân và cư trú sau hôn nhân 8

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc

do vậy vào lúc này cần xây dựng gia đình trở thành pháo đài vững chắc, điểm tựa quan trọng trong phòng chống đại dịch COVID-19 Trong đó, sự chia sẻ, thấu hiểu và động viên lẫn nhau của từng thành viên gia đình, đồng thời động viên các chiến sĩ, y, bác sĩ ở tuyến đầu yên tâm, nỗ lực chống dịch bệnh cho cộng đồng là rất quan trọng

Tuy nhiên, do phải giãn cách, cách ly, không tập trung đông người nên các ngành hàng như khách sạn, nhà hàng, giao thông, vận tải, du lịch, vui chơi, giải trí… bị đại dịch tác động lớn Sản phẩm của người nông dân làm ra cũng gặp khó khăn trong tiêu thụ vì không ít nơi bị cô lập bởi dịch bệnh

Những khó khăn do dịch bệnh COVID-19 đang hằng ngày tác động đến thu nhập của hàng triệu gia đình ở khắp mọi miền đất nước, nhất là ở những tỉnh, thành phố nơi dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát trở lại Kinh

tế sụt giảm, lao động bị dôi dư, thu nhập bị giảm sút, làm cho các gia đình phải thắt chặt chi tiêu, và đang phải trải qua những thử thách chưa từng để giữ vững vai trò là chốn bình yên trong dông tố của dịch bệnh COVID-19

Mất việc làm, thu nhập giảm sút, bạo lực gia đình gia tăng, vấn đề học hành của con cái… là những thách thức các gia đình trẻ phải đối mặt do đại dịch Covid-19 Vì vậy qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài

“ Tác động của Covid 19 đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân” để

có cái nhìn sâu và rộng hơn

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÔN NHÂN VÀ CƯ TRÚ

SAU HÔN NHÂN 1.1 Lý luận về hôn nhân

1.1.1 Khái niệm hôn nhân

Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định là sự xếp đặt của một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và phụ nữ Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung và sinh con đẻ cái với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ Hôn nhân là

sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu

Ở Việt Nam, Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định "Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng" Như vậy có nghĩa rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ, các biến dị khác như hôn nhân đồng tính, hôn nhân đa thê hoặc tảo hôn đều là vi hiến, và Luật hôn nhân và gia đình không công nhận những kiểu biến dị đó

1.1.2 Đặc điểm hôn nhân

Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, hôn nhân có những đặc điểm sau:

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ - là hôn nhân một vợ một chồng Để đảm bảo nguyên tắ'c hôn nhân một vợ một chồng, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: cấm người đang có vợ, có chồng

mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc cấm người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với

Trang 4

người đang có chồng, có vợ (điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13)

- Hôn nhân là sự liên kết trên cơ sở tự nguyện của hai bên nam nữ: Hai bên nam nữ có quyền tự mình quyết định việc kết hôn, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối và cũng không bị cản trở

- Nam nữ khi tham gia quan hệ hôn nhân được hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật Trong gia đình, mỗi bên vợ chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt Ngoài xã hội, với tư cách là công dân, mỗi bên vợ, chồng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cồng dân đã được Hiến pháp công nhận

- Mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là để cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững

Do vậy, nếu nam nữ kết hôn là để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc

để đạt được mục đích khác mà không nhằm để chung sống và xây dựng gia đình thì gọi là kết hôn giả tạo

- Các bên tham gia quan hệ hôn nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật Khi kết hôn, các bên phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Khi chấm dứt hôn nhân (do ly hôn, do vợ hoặc chồng chết, do vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết) phải dựa trên những căn cứ pháp lý được pháp luật quy định

1.2 Lý luận về cư trú sau hôn nhân

Các nghiên cứu nhân học về vấn đề này cho thấy có các hình thức cư trú khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau Hình thức cư trú này gồm: cư trú ở nơi ở mới, cư trú bên nhà chồng, cư trú bên nhà vợ, và cư trú cả bên nhà chồng và nhà vợ

Trang 5

Cư trú ở nơi ở mới là hình thức cư trú mà các đôi vợ chồng chuyển sang ở một nơi mới độc lập với bố mẹ chồng và bố mẹ vợ Hình thức cư trú này hiện này tồn tại phổ biến ở các nước phương Tây và các quốc gia có nền kinh tế phát triển khác

Cư trú đằng nhà chồng là hình thức cư trú mà sau khi kết hôn đôi vợ chồng cư trú ở đằng nhà chồng, tức cư trú cùng với bố mẹ chồng Trong hình thức cư trú này, nữ giới phải chuyển sang cư trú nhà đằng chồng sau khi kết hôn Đây là hình thức cư trú phổ biến trong nhiều nền văn hóa thực hành truyền thống phụ hệ và thừa kế tài sản theo đằng cha

Cư trú đằng nhà vợ tức là sau khi kết hôn đôi vợ chồng cư trú cùng với

bố mẹ vợ Khác với kiểu cư trú bên nhà chồng, người con trai sẽ chuyển sang

cư trú bên nhà vợ Hình thức cư trú này phổ biến ở một số xã hội, chẳng hạn như Lào Trong một nghiên cứu, Grant Evans đã chỉ ra rằng ở Trung Quốc và Việt Nam nơi có hình thức cư trú bên nhà chồng là chính Trong xã hội hai quốc gia này, mối quan hệ phức tạp thường xảy ra giữa mẹ chồng và nàng dâu Ngược lại, ở Lào, sau khi kết hôn, người chồng chuyển về sinh sống bên nhà vợ, và thường thì mối quan hệ phức tạp nảy sinh trong gia đình là giữa bố

vợ và con rể

Ngoài ra, còn có một số hình thức cư trú ít phổ biến khác, ví dụ như cư trú ở cả bên đằng nhà chồng và nhà vợ

II TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN VẤN ĐỀ HÔN

NHÂN VÀ CƯ TRÚ SAU HÔN NHÂN 2.1 Tác động của dịch bệnh Covid 19 đến sức khỏe gia đình

Về tác động của dịch Covid-19 đối với các gia đình, hiện đã có báo cáo

“Đánh giá nhanh về tác động kinh tế - xã hội của Covid-19 đối với các hộ gia đình dễ bị tổn thương ở Việt Nam” do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam công bố ngày 24/9/2021 Báo cáo được UNDP

Trang 6

Việt Nam thực hiện với sự phối hợp của Trung tâm Phân tích và Dự báo (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Báo cáo đánh giá tác động đã khảo sát 498 hộ gia đình

Kết quả cho thấy, 88% hộ gia đình bị ảnh hưởng việc làm vào tháng 7/2021 và 63,5% hộ gia đình bị giảm thu nhập từ 30% trở lên so với thời kỳ trước dịch (tháng 12/2019) Các hộ gia đình làm du lịch, nhà hàng, khách sạn

và vận tải hành khách bị ảnh hưởng nặng nề nhất Tác động phi kinh tế cũng rất đáng kể với 66,4% hộ gia đình lo lắng về tác động của Covid-19; trong đó, chủ hộ là nữ có tỷ lệ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn so với chủ

hộ là nam (81,6% so với 62,8%) Cắt giảm chi tiêu là biện pháp phổ biến nhất được sử dụng với 79,4% hộ, hầu hết các khoản cắt giảm liên quan đến thực phẩm với 71% số gia đình; 51,2% phải giảm lượng thức ăn mỗi bữa và 17,7% giảm số bữa ăn mỗi ngày Tình trạng thiếu lương thực thường được ghi nhận

ở các hộ gia đình dễ bị tổn thương, những người bị mất việc trong nhiều tháng, đặc biệt là người di cư và nghiêm trọng hơn là ở các hộ gia đình có con nhỏ…

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp cả gia đình bị nhiễm Covid-19, nhiều gia đình trong số này có người tử vong Hậu quả để lại cho các gia đình

đó là rất lớn, có thể kéo dài trong nhiều năm, ảnh hưởng đến nhiều người

Dịch bệnh cũng đã tác động đến trẻ em nhiều mặt Cả nước có 62/63 tỉnh thành có người mắc Covid-19, trong đó có ít nhất 11.822 trẻ là F0, 27.334 trẻ em là F1 Nhiều trẻ phải mồ côi cha, mẹ, không nơi nương tựa Tại TPHCM, có hơn 10.000 trẻ nhiễm Covid-19; đã có 1.517 em rơi vào cảnh

mồ côi

Trang 7

2.2 Tác động của dịnh Covid đến vấn đề hôn nhân và cư trú sau hôn nhân

2.2.1 Đánh giá chung

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, có nhiều thời điểm, tất cả các trường học đều cho học sinh nghỉ học và thực hiện học trực tuyến tại nhà Nhiều cơ quan, công ty cũng tổ chức cho cán bộ, nhân viên làm việc trực tuyến Khách quan nhìn nhận, để thích ứng với dịch bệnh COVID-19, làm việc ở nhà có thể khiến cho nhiều người cảm giác bận hơn nhiều so với làm việc tại cơ quan Bởi vừa phải tập trung vào công việc, vừa lo hướng dẫn con cái học hành; vừa phải làm công việc nhà, nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa Tuy nhiên, chính khoảng thời gian đó cũng đã giúp cho hôn nhân trong gia đình gắn bó với nhau nhiều hơn, con cái hiểu thêm về công việc của bố mẹ; cha mẹ quan tâm, gần gũi con hơn; vợ chồng đặt mình vào địa vị của nhau và thông cảm, chia

sẻ với nhau nhiều hơn Mỗi người dường như có trách nhiệm hơn với tổ ấm của mình

Dịch COVID-19 đã gây ra những xáo trộn không nhỏ trong đời sống xã hội, làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người, nhiều gia đình Việc phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh COVID-19 là trách nhiệm chung của mọi người, của toàn xã hội Song ở góc nhìn khác, dịch bệnh cũng là cơ hội

để nhiều người tìm về với giá trị gia đình, sưởi ấm tình cảm gia đình thiêng liêng, và có thời gian gần gũi với cha mẹ, con cái Những việc vốn bình dị nhưng trong ngày thường bận rộn, không phải ai cũng có thể làm được

Và vì vậy, chính trong dịch bệnh COVID-19, khi có nhiều thời gian dành cho gia đình thì mỗi chúng ta như có thêm cơ hội để tự nhìn nhận lại bản thân, thêm trân trọng những giá trị cốt lõi của cuộc sống, cùng sẻ chia yêu thương và gắn bó nhiều hơn với gia đình của chính bản thân mình

Trang 8

2.2.2 Vấn đề bạo lực gia đình

Chia sẻ về nghiên cứu tác động của COVID-19 đến bạo lực gia đình được Viện nghiên cứu phát triển xã hội Việt Nam cùng các đồng nghiệp thực hiện từ 1/7 – 15/9/2020 tại một số quận huyện của Hà Nội với 303 người, bà Khuất Thu Hồng - Chủ tịch GNVNet, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển

xã hội Việt Nam đã đưa ra những con số rất đáng báo động về tình hình bạo lực gia đình trong đại dịch COVID-19 ở Hà Nội

Trong số 303 gia đình, hầu hết đều xảy ra xung đột trong thời gian đại dịch Chồng hay gây ra xung đột hơn vợ; 81% phụ nữ là nạn nhân của ít nhất một hành vi kiểm soát từ phía chồng trong thời kì dịch; 34% phụ nữ báo cáo

bị bạo lực về kinh tế trong thời kì dịch Với hơn 2/3 số nạn nhân, điều đó xảy

ra nhiều hơn với trước dịch Bạo lực về tài chính gia tăng khi thu nhập giảm Nhiều người phụ nữ thường bị chồng hành hạ, đánh đập… vì không có tiền Nhiều ông chồng khi không có việc làm thì cờ bạc, uống rượu… về không có tiền liền có hành vi bạo lực với vợ; 88% phụ nữ bị bạo lực về mặt tinh thần, bị cằn nhằn, chửi mắng, xúc phạm; 89,1% phụ nữ là nạn nhân của ít nhất một dạng bạo lực gia đình trong thời kì dịch COVID-19…

Các yếu tố làm tăng bạo lực trong thời kỳ COVID-19 một phần do các cặp vợ chồng đột ngột mất việc hoặc ít việc Cuộc sống thay đổi do đại dịch COVID-19 khiến nhiều gia đình không có sự chuẩn bị nên không biết phải ứng phó và đối diện như thế nào Khi thu nhập giảm, hầu hết các xung đột, tình trạng kiểm soát, bạo lực tinh thần, thể xác… thường tăng lên Thứ 2, việc hai vợ chồng ở nhà trong thời gian cách ly dài, mâu thuẫn gia đình gia tăng, đặc biệt với những người vốn có hành vi bạo lực Thứ 3 là tình trạng lạm dụng rượu bia của người chồng

Bạo lực gia đình để lại hậu quả hết sức nặng nề Có ít nhất 80,7% phụ

nữ bị thương ít nhất một lần, hơn 72% tổn thương tâm lý; 43,3% bị thương tích cơ thể, trong đó 31,7% cần chăm sóc y tế Đau lòng hơn là việc trẻ em

Trang 9

thường xuyên phải chứng kiến mẹ bị cha đánh đập, bạo hành về tinh thần Trong khi đó, phần lớn họ im lặng vì không muốn cha mẹ bị mang tiếng, con cái khổ Nhiều người không tìm kiếm sự giúp đỡ vì sợ bị đổ lỗi, các biện pháp hòa giải không hiệu quả và phải cách ly trong dịch khó tìm người giúp đỡ Nhiều người bị bạo hành đã từng nghĩ tới ý định tự sát

Đã có ước tính rằng, trong 3 tháng thực hiện biện pháp cách ly xã hội

để phòng ngừa dịch bệnh thì có thêm 15 triệu trường hợp bạo lực do bạn tình gây ra vào năm 2020 và thậm chí tăng lên 31 triệu vụ trong cách ly 6 tháng Tình trạng khủng hoảng này đã xuất hiện trong cách ly xã hội được thực hiện với số lượng bạo lực tăng lên đáng kể không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Đây là hiện tượng toàn cầu

Trước tình hình đó, các chuyên gia đã có những thảo luận đưa ra nhiều sáng kiến để giải quyết vấn đề bạo lực gia đình trong bối cảnh đặc biệt như dịch COVID- 19 Theo đó, cần lồng ghép vấn đề bạo lực gia đình vào các chương trình COVID-19; Phụ nữ được lắng nghe, tham gia quyết định liên quan đến công tác phòng dịch cũng như giải pháp khắc phục hiệu quả để làm sao phòng ngừa được dịch bệnh mà cũng phòng được đại dịch âm thầm trong gia đình Nâng cao nhận thức của cộng đồng về bạo lực đối với phụ nữ bởi bạo lực không phải là vấn đề của cá nhân mà của xã hội Ngoài ra, cần phát triển và tăng cường các dịch vụ đa dạng hỗ trợ nạn nhân để giải quyết vấn đề bạo lực trong bối cảnh đặc thù như COVID- 19 Chúng ta sẽ còn phải đối mặt với nhiều những vấn đề sức khỏe khác trong tương lai cũng như các thảm họa thiên tai…

Khi bạo lực gia đình xảy ra với mức độ trầm trọng và với những những người luôn có nguy cơ bị bạo lực gia đình không chỉ ở trong mùa dịch phải có

sự chuẩn bị và kế hoạch phòng ngừa bạo lực chi tiết như tìm tới các số điện thoại đường dây nóng của các địa chỉ tư vấn về phòng chống bạo lực gia đình

Trang 10

2.3 Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Covid 19 đến hôn nhân và cư trú sau hôn nhân

i) Nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của gia đình và công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh là nhiệm vụ xuyên suốt của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước

ii) Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng gia đình Cán bộ, đảng viên phải nêu gương và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc Kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình Khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong công tác xây dựng gia đình

iii) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về gia đình theo hướng lấy hoạt động của gia đình làm trọng tâm, bảo đảm sự gắn kết xã hội

và gia đình Huy động các cá nhân, tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ gia đình và chăm lo giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình nghèo, khó khăn; bảo đảm gia đình được tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản công bằng, bình đẳng, thuận lợi

iiii) Xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn

2021-2030, định hướng đến năm 2045; chương trình giáo dục quốc gia về gia đình; chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình và các chương trình,

dự án hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc…

Ngày đăng: 17/01/2023, 17:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w