Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về dạy học dân ca NLHT nghi lễ Hát thờ và thực trạng dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN, từ đó đề xuất các biện pháp dạy học dân c
Trang 1DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số: 9140111
Hà Nội, 2022
Trang 2DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số: 9140111
Hà Nội, 2022 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa có ai công bố tại bất cứ công trình nào Nếu sai với lời cam đoan, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2022
Tác giả
Trang 4Đại học Đại học Sư phạm Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Giáo dục nghệ thuật
Giảng viên Giáo dục và Đào tạo Học sinh
Nghi lễ Hát thờ Nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tiến Nhà xuất bản
Phụ lục Phương tiện dạy học
Sư phạm Âm nhạc Sinh viên
Trước Công nguyên Tín chỉ
Thế kỷ Thông tư Trung ương Văn hóa, Thể thao & Du lịch Văn hóa Thông tin - Truyền thông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC 11
1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 11
1.1.1 Những nghiên cứu về dân ca nghi lễ Hát thờ 11
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 19
1.1.3 Nhận xét chung về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 21
1.1.4 Hướng nghiên cứu của luận án 25
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 26
1.2.1 Dạy học đại học 26
1.2.2 Dân ca, Dân ca nghi lễ Hát thờ 27
1.2.3 Dạy học dân ca và dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 30
1.2.4 Biện pháp và biện pháp dạy học 31
1.2.5 Phương pháp và phương pháp dạy học 32
1.3 Dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 33
1.3.1 Đặc điểm sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 33
1.3.2 Phương tiện dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 35
1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của dân ca nghi lễ Hát thờ trong đời sống xã hội và trong đào tạo sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 37
1.3.4 Nguyên tắc dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 40
1.3.5 Mục tiêu và nội dung dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 43
Trang 61.3.6 Phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh
viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 44
1.3.7 Đánh giá kết quả dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ……… …… 49
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ 52
2.1 Đặc điểm dân ca nghi lễ Hát thờ 52
2.1.1 Đặc điểm dân ca Hát Xoan 52
2.1.2 Đặc điểm dân ca Hát Dô 66
2.1.3 Đặc điểm dân ca Hát Dậm 75
2.2 Những giá trị của dân ca nghi lễ Hát thờ 83
2.2.1 Giá trị lịch sử 83
2.2.2 Giá trị văn hóa 84
2.2.3 Giá trị nghệ thuật 85
Chương 3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC 90
3.1 Khái quát về Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và Khoa Giáo dục Nghệ thuật 90
3.1.1 Khái quát về Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 90
3.1.2 Khái quát về Bộ môn Giáo dục Nghệ thuật 92
3.1.3 Về khả năng âm nhạc của sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc 93
3.2 Quá trình khảo sát thực trạng 95
3.2.1 Mục tiêu và đối tượng khảo sát 95
3.2.2 Nội dung khảo sát 95
3.2.3 Phương pháp khảo sát 95
3.2.4 Xử lý kết quả khảo sát 95
3.3 Kết quả khảo sát thực trạng 95
3.3.1 Thực trạng chương trình đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 95
3.3.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 97
Trang 73.3.3 Thực trạng thực hiện nội dung dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại
học Sư phạm Âm nhạc 99
3.3.4 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học trong dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ tại địa bàn nghiên cứu 103
3.3.5 Thực trạng hình thức tổ chức dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên 106
3.4 Đánh giá thực trạng dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 107
3.4.1 Một số thuận lợi trong dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 107
3.4.2 Một số khó khăn trong dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 108
3.4.3 Ưu điểm và hạn chế trong dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 108
Chương 4 BIỆN PHÁP DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC 116
4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ 116
4.1.1 Căn cứ vào đường lối của Đảng về giáo dục - đào tạo và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 116
4.1.2 Căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông 2018 118
4.1.3 Căn cứ vào yêu cầu bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc 119
4.2 Các biện pháp dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 120
4.2.1 Xây dựng các chuyên đề dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ và kế hoạch bài dạy dân ca nghi lễ Hát thờ theo tiếp cận năng lực 120
4.2.2 Tuyển chọn một số bài dân ca nghi lễ Hát thờ trong dạy học môn Hát dân ca 124
4.2.3 Đổi mới dạy học thực hành hát dân ca nghi lễ Hát thờ theo định hướng phát triển năng lực 127
4.3 Thực nghiệm sư phạm 140
4.3.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 140
4.3.2 Kết quả thực nghiệm 141
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tiêu chí đánh giá kiến thức, kĩ năng hát dân ca nghi lễ Hát thờ của sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 50 Bảng 2: Thực trạng thực hiện mục tiêu dạy học dân ca NLHT cho sinh viên Đại học SPAN 98 Bảng 3: Thực trạng thực hiện nội dung dạy học dân ca NLHT cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc ở Trường ĐHSP- ĐHTN 99 Bảng 4: Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học trong dạy học dân ca NLHT cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc 103 Bảng 5: Bảng đánh giá các nội dung học hát dân ca NLHT trước khi thực nghiệm của SV K21 141 Bảng 6: Bảng đánh giá các nội dung học hát dân ca NLHT sau khi khi thực
nghiệm của SV K21 142 Bảng 7: Kết quả đánh giá các nội dung học hát dân ca NLHT thông qua việc thu thập thông tin, tiến hành thực nghiệm và xử lý số liệu 142
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam có nền âm nhạc truyền thống vô cùng phong phú, đa dạng, độc đáo và đặc sắc Kho tàng âm nhạc truyền thống ở nước ta có nhiều thể loại dân ca, là di sản văn hóa phi vật thể quý báu
Trong dân ca Việt Nam, dân ca nghi lễ Hát thờ của người Việt ở trung
du và châu thổ sông Hồng có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ
có những giá trị, mà còn chứa đựng những thành tố cổ nhất, mang tính cốt lõi của dân ca người Việt
Những thể loại dân ca nghi lễ Hát thờ của người Việt vùng trung du và châu thổ sông Hồng như Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm là một bộ phận cấu thành của nền âm nhạc dân tộc nước ta Âm nhạc dân tộc là bộ phận của nền văn hóa dân tộc, biểu hiện đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam Trong quá trình tồn tại và phát triển, dân ca nghi lễ Hát thờ đã tạo ra những đặc điểm riêng, đồng thời có mối quan hệ với nhau, cho thấy sự thống nhất trong đa dạng của những thể loại dân ca này
Được lưu truyền, đúc kết từ bao đời nay, các thể loại dân ca nghi lễ Hát thờ có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tâm linh của nhân dân vùng trung du, châu thổ sông Hồng nói riêng, của cộng đồng người dân nước ta nói chung Đặc biệt, dân ca nghi lễ Hát thờ có vị trí quan trọng đối với SV chuyên ngành SPAN Những câu hát về cảnh đẹp quê hương, những câu hát cầu mong một mùa màng tươi tốt, mưa thuận, gió hòa, thành kính, trang nghiêm; về không gian miền quê thanh bình; về tình làng, nghĩa xóm mặn nồng; về tình yêu đôi lứa trong sáng, bay bổng, trữ tình gợi lên trong tâm hồn SV chuyên ngành SPAN tình yêu quê hương sâu nặng
Dạy học dân ca nói chung, dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ nói riêng cho
SV Đại học SPAN, trong chương trình đào tạo là một trong những phương tiện hiệu quả hình thành nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức dân ca của
SV Khi SV biết được nguồn gốc lịch sử, phong tục, tập quán, lề lối diễn xướng, những đặc trưng trong lời ca, âm nhạc; được nghe, được hát các bài
Trang 10Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm sẽ góp phần vào việc phát triển khả năng lĩnh hội
và cảm thụ cái đẹp của các thể loại dân ca này; hình thành nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức dân ca nói chung, dân ca nghi lễ Hát thờ nói riêng Dân
ca nghi lễ Hát thờ không chỉ giáo dục tình yêu quê hương đất nước, mà còn tác động đến thế giới nội tâm, giúp SV nhận thức rõ các giá trị chân - thiện -
mỹ, từ đó có ý thức sống theo những giá trị tốt đẹp SV ngành SPAN khi tốt nghiệp ra trường sẽ là giáo viên dạy môn Âm nhạc ở các trường phổ thông Hiểu sâu sắc các đặc điểm, thực hành thể hiện diễn cảm đúng tính chất những bài dân ca nghi lễ Hát thờ của giáo viên âm nhạc ở các trường phổ thông, sẽ truyền thụ cho các thế hệ HS về truyền thống đạo đức uống nước nhớ nguồn cao cả, truyền thụ các đặc điểm độc đáo, đặc sắc của các thể loại dân ca này tới nhiều thế hệ HS Các thế hệ HS khi trưởng thành, dù làm bất cứ một lĩnh vực nào cũng thấm đẫm âm hưởng những bài dân ca quê hương, tự hào về quê hương Việt Nam, từ đó đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng quê hương tươi đẹp, hùng cường
Trong chương trình đào tạo SV Đại học SPAN ở một số cơ sở đào tạo như ĐHSP Hà Nội, ĐHSP - ĐHTN có nội dung về dân ca nghi lễ Hát thờ và nội dung liên quan đến dân ca nghi lễ Hát thờ Tuy nhiên, dân ca nghi lễ Hát thờ trong chương trình đào tạo Đại học SPAN chưa được chú ý, quan tâm đúng với vai trò, ý nghĩa của những thể loại dân ca này Nội dung về dân ca nghi lễ Hát thờ trong chương trình còn khiêm tốn Những đặc điểm quan trọng của dân ca nghi lễ Hát thờ về nguồn gốc lịch sử, lời ca, âm nhạc, lối diễn xướng có những yếu tố cổ không có trong những thể loại dân ca khác, biểu hiện tính cốt lõi trong dân ca người Việt chưa được tìm hiểu, nghiên cứu
để giảng dạy Mặt khác, dạy học lý thuyết và thực hành dân ca nghi lễ Hát thờ
và những nội dung liên quan đến dân ca nghi lễ Hát thờ còn những hạn chế:
GV sử dụng phương pháp thuyết trình (dạy lý thuyết) và phương pháp truyền khẩu (dạy thực hành) là chủ yếu, mang tính truyền đạt kiến thức, kỹ năng một chiều (GV - SV), ít có sự tương tác hai chiều (GV - SV và SV - GV); Chưa ứng dụng công nghệ thông tin; việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại phát huy năng lực của SV còn chưa triệt để
Trang 11Với những lý do trên, đề tài nghiên cứu của luận án được chọn là:
“Dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về dạy học dân ca NLHT (nghi lễ Hát thờ) và thực trạng dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN, từ đó đề xuất các biện pháp dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của những thể loại dân ca này, trong xu thế hội nhập, giao lưu văn hóa – nghệ thuật hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Dạy học dân ca cho SV Đại học SPAN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN
4 Giả thuyết khoa học
Dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN đã và đang thực hiện ở một số trường Đại học Sư phạm có những ưu điểm, song vẫn còn những hạn chế Nếu xây dựng được chương trình khung các chuyên đề, kế hoạch dạy học
và tuyển chọn bổ sung một số bài dân ca NLHT phù hợp, đồng thời đổi mới quy trình, phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, tăng cường kết nối với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao được chất lượng dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5.2 Xây dựng cơ sở lý luận về dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN 5.3 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng dạy học dân ca NLHT cho sinh viên Đại học SPAN
5.4 Nghiên cứu những đặc điểm và giá trị của dân ca NLHT vùng trung du và châu thổ sông Hồng
5.5 Đề xuất biện pháp dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN
Trang 125.6 Thực nghiệm các biện pháp dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Dạy học dân ca NLHT có nhiều nội dung, song luận án chỉ nghiên cứu dạy học về lịch sử 3 thể loại dân ca NLHT là Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm và dạy học hát 3 thể loại này cho SV Đại học SPAN
Địa bàn nghiên cứu tại Trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên
7 Câu hỏi nghiên cứu
Vì sao cần dạy học về lịch sử 3 thể loại dân ca NLHT là Hát Xoan, Hát
Dô, Hát Dậm cho SV Đại học SPAN?
Vì sao cần dạy học hát dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN
Dạy học về lịch sử và hát dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN có gì khác với dạy học dân ca nói chung?
Thực trạng dạy học về lịch sử và hát dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN hiện nay như thế nào?
Cần dạy học về lịch sử và hát dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN như thế nào để nâng cao chất lượng trong dạy học các thể loại dân ca này trong giai đoạn hiện nay?
8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp luận sau trong nghiên cứu:
8.1.1 Tiếp cận năng lực
Dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN dựa trên năng lực về kiến thức âm nhạc, về kỹ năng, chất giọng; về năng lực cảm thụ âm nhạc; về năng lực xử lý kỹ thuật; nhằm phát triển cho SV về kiến thức lý luận âm nhạc, năng lực hát dân ca NLHT và năng lực dạy học hát một số bài của các thể loại dân ca này cho học sinh phổ thông
Trang 138.1.2 Tiếp cận tích hợp
Theo cách tiếp cận này, quá trình dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN được tích hợp giữa dạy lý thuyết với dạy thực hành; giữa lý luận với thực tiễn dạy và học dân ca NLHT; giữa dạy và đánh giá quá trình học dân ca NLHT của SV
8.1.3 Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Nghiên cứu quá trình dạy học dân ca NLHT trong mối quan hệ với xu hướng phát triển và thị hiếu âm nhạc hiện đại của giới trẻ trong nước và quốc tế; với yêu cầu bảo tồn và phát huy những giá trị của các thể loại dân ca này
Nghiên cứu và phân tích các thành tố tham gia vào quá trình dạy học dân ca NLHT và mối quan hệ giữa chúng ở một số cơ sở đào tạo chuyên ngành Đại học SPAN
8.1.6 Tiếp cận liên ngành giữa lý luận dạy học và âm nhạc học
Luận án phân tích rõ đặc điểm của dân ca NLHT dưới góc độ Âm nhạc học, trên cơ sở đó nghiên cứu dạy học thể loại này cho SV Đại học SPAN dựa trên góc độ Lý luận dạy học, đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học
Trang 148.1.7 Lý thuyết vùng văn hóa và vùng dân ca
Dân ca là một bộ phận của âm nhạc dân gian Âm nhạc dân gian là bộ phận của văn hóa dân gian Văn hóa dân gian là bộ phận của nền văn hóa dân tộc Đề tài luận án nghiên cứu dân ca NLHT của người Việt gồm một số thể loại, những thể loại này có những nét tương đồng và có những nét khác biệt
Có những tương đồng và khác biệt là do những thể loại dân ca NLHT đều nằm trong một vùng văn hóa, nhưng trong các tiểu vùng văn hóa khác nhau
8.1.8 Lý thuyết trung tâm và ngoại vi
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong bài Lý thuyết "trung tâm và ngoại vi" trong nghiên cứu không gian văn hóa, viết:
Thuyết "trung tâm" trong nghiên cứu văn hoá đã được các nhà nghiên cứu thuộc trường phái "Truyền bá luận" (diffutionisim) Tây Âu đưa ra từ các thập kỉ cuối thế kỉ XIX đầu XX, mà các đại diện chính của trường phái này là các nhà nghiên cứu Đức - Áo, như L Frobenius, F.Ratsel, F Grabner, W Schmidt Họ chủ trương rằng, các sáng tạo văn hoá của nhân loại bao giờ cũng xuất phát điểm từ một nơi, thuộc một cộng đồng nào đó, rồi sau đó lan truyền đi các nơi khác và chính sự lan truyền ấy tạo nên động lực của sự phát triển văn hoá nói riêng và của xã hội nói chung [121]
Sách Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam cho biết:
“Trước khi hình thành các trường phái của thuyết ‘khuếch tán văn hóa”
trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà bác học Âu - Mỹ đã đề cập tới cái gọi là “thiên di”, “lan tỏa” (A Bradford), “mô phỏng” (G Tarde)… để giải thích hiện tượng tương đồng văn hóa” [119, tr.19] Luận án của NCS
có sự trình bày về việc thiên di của người Việt từ tiểu vùng trung du xuống vùng châu thổ sông Hồng và sự lan tỏa của Hát Xoan tới các thể loại dân ca khác Khi đề cập đến vùng văn hóa, loại hình văn hóa và trung tâm văn
hóa, trong cuốn sách Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, viết:
“trung tâm văn hóa” cũng là một trong những luận điểm quan trọng nhất của lý thuyết vùng văn hóa của CL Wisler Ông cho rằng “trung tâm văn
Trang 15hóa” chính là nơi sinh sống của “các bộ lạc đặc trưng” Giữa hai trung tâm văn hóa là nơi phân bố của các bộ lạc mang tính chuyển tiếp văn hóa (CL Wisler)”[119, tr.31] Về vấn đề trung tâm văn hóa trong từng giai đoạn lịch
sử ở nước ta, luận án của NCS có yếu tố phù hợp với lý thuyết trung tâm văn hóa, trong vùng văn hóa của CL Wisler
Lịch sử nước ta được bắt đầu từ thời kỳ các vua Hùng dựng nước Phú Thọ thời các vua Hùng là trung tâm văn hóa - xã hội của người Việt cổ Hát Xoan có những thành tố từ thời cổ đại, được hình thành từ trung tâm văn hóa
- xã hội của người Việt cổ Các vùng đất ngoài Phú Thọ thời kỳ này là vùng ngoại vi NCS sử dụng lý thuyết trung tâm và ngoại vi để nghiên cứu
8.1.9 Lý thuyết âm nhạc ngũ cung của Ghi-rơ-sman
Trong tài liệu Dân ca là cơ sở của âm nhạc, Ghi-rơ-sman trình bày
những vấn đề thuộc lý thuyết về âm nhạc ngũ cung, gồm các nội dung chính như: Trong âm nhạc ngũ cung, cấu trúc của trung tâm ổn định của điệu thức
có những đặc điểm độc đáo: điểm tựa cao - điểm tựa giữa - điểm tựa thấp Những điểm tựa này là tương quan các quãng 4, quãng 5 của giai điệu Tùy thuộc ở vị trí sắp xếp của điểm tựa âm điệu mà trung tâm điệu thức có tương quan quãng 4 hay quãng 5; chủ âm và sự giao biến về điệu thức của các âm trong ngũ cung và những âm ổn định nhất; những âm làm cho trung tâm điệu thức thêm đầy đặn là những âm ít ổn định hơn và hút về những âm gốc (chủ âm) Hai trong số những âm đó nằm trong “khung’’ điểm tựa âm điệu quãng
5, một âm nằm trong“khung’’ điểm tựa quãng 4; về quan hệ của các âm trong ngũ cung mà từ đó có thể xây dựng được 5 điệu Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ; Đặc điểm quan trọng trong giai điệu âm nhạc ngũ cung là lúc đầu xoay quanh âm gốc trên, về sau thì xoay quanh âm gốc dưới Tuy nhiên còn
có những dạng giai điệu khác trong âm nhạc ngũ cung; So sánh cấu trúc của
Trang 16các hợp âm 3 trưởng và 3 thứ trong âm nhạc cổ điển phương Tây, để nêu về một số dạng điệu thức ngũ cung có màu sắc trưởng hoặc thứ [152]
Đặc điểm chính trong âm nhạc dân ca NLHT như Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm là âm nhạc ngũ cung Trên cơ sở lý thuyết về âm nhạc ngũ cung của Ghi-rơ-sman, NCS sử dụng là lý thuyết nghiên cứu của luận án
Cùng với lý thuyết về âm nhạc ngũ cung của Ghi-rơ-sman, NCS còn dựa trên quan điểm nghiên cứu về điệu thức 5 âm của Vũ Nhật Thăng Trong
bài viết Điệu thức năm âm đúng, in trong Tạp chí Giáo dục Âm nhạc, số 3
(99), tháng 8 - 2015, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, tác giả Vũ Nhật Thăng đưa ra lý thuyết về phân tích điệu thức (điệu) trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam [118]
8.2 Phương pháp nghiên cứu
8.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Luận án phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa những thông tin thu thập được từ các nghiên cứu về dân ca, dạy học dân ca, dân ca NLHT và dạy học dân ca NLHT đã được công bố trong nước, từ đó rút
ra những kết luận khái quát, làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
8.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.2.1 Phương pháp điều tra giáo dục
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc xây dựng và sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi, bao gồm các câu hỏi đóng và mở dành cho GV,
SV chuyên ngành SPAN về dạy và học dân ca nói chung và dân ca NLHT nói riêng, nhằm thu thập những thông tin cần thiết, tạo lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
8.2.2.2 Phương pháp đàm thoại
Phỏng vấn sâu các nghệ nhân hát dân ca NLHT và GV dạy học lịch sử
âm nhạc Việt Nam, dạy hát dân ca chuyên ngành SPAN; SV Đại học SPAN nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu
Trang 178.2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát thông qua dự các giờ dạy và học lịch sử âm nhạc Việt Nam,
Lý thuyết âm nhạc cơ bản, dạy hát dân ca của GV và SV Đại học SPAN, nghe và quan sát quá trình diễn xướng của các nghệ nhân khi hát dân ca NLHT, nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan về dạy học dân ca NLHT, làm
cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
8.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục
Nghiên cứu giáo án của GV dạy lịch sử âm nhạc Việt Nam, Lý thuyết âm nhạc cơ bản và dạy hát dân ca, trong đó có dân ca NLHT cho
SV trong quá trình thực hành, nhằm tìm hiểu mục tiêu, nội dung, phương pháp, kỹ thuật, hình thức tổ chức, điều kiện, phương tiện dạy học dân ca NLHT, phục vụ cho đề tài nghiên cứu
8.2.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Phương pháp này được tiến hành thông qua nghiên cứu, phân tích và kế thừa các kinh nghiệm dạy lịch sử âm nhạc Việt Nam của GV, dạy hát dân ca NLHT của các nghệ nhân và GV nhằm thu thập những thông tin cần thiết, tạo lập cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu
8.2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm một số biện pháp dạy học về lịch sử dân ca NLHT và thực hành hát dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN, nhằm khẳng định tính khả thi
8.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các tham số thống kê toán học để lượng hóa các thông tin thu được, từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho đề tài nghiên cứu
9 Những đóng góp mới của luận án
9.1 Đóng góp về lý luận
Lý luận về dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN mà luận án nghiên cứu được, góp phần bổ sung thêm cho lý luận dạy học âm nhạc nói chung, lý luận dạy học dân ca nói riêng, đồng thời giúp cho các GV dạy học
Trang 18lý luận và GV dạy hát dân ca có thể tham khảo để tổ chức dạy học các nội dung luận án nghiên cứu, cho SV Đại học SPAN trong giai đoạn hiện nay
Đặc điểm của dân ca NLHT mà luận án nghiên cứu được, là tư liệu tham khảo cần thiết cho GV và SV Đại học SPAN trong dạy học, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy dân ca NLHT trong xu thế hội nhập về văn hóa – nghệ thuật hiện nay ở nước ta
9.2 Đóng góp về thực tiễn
Thực trạng dạy học dân ca NLHT mà luận án tìm hiểu và đánh giá được, sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan, cho các GV và SV Đại học SPAN tự đánh giá và rút kinh nghiệm quá trình dạy và học dân ca nói chung và dân ca NLHT nói riêng, từ đó có những
đề xuất đổi mới dạy học những thể loai dân ca này nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các cơ sở đào tạo Đại học SPAN hiện nay
Các biện pháp dạy và học về mối quan hệ giữa các thể loại dân ca NLHT và dạy học hát các thể loại này của luận án đề xuất có vai trò định hướng, gợi mở với GV âm nhạc một số cơ sở đào tạo chuyên ngành SPAN trong đổi mới dạy học dân ca NLHT, góp phần nâng cao chất lượng dạy học những thể loại dân ca NLHT hiện nay
10 Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, khuyến nghị, luận án có bố cục 4 chương: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc
Chương 2: Đặc điểm và giá trị của dân ca nghi lễ Hát thờ
Chương 3: Thực trạng dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc
Chương 4: Biện pháp dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC DÂN CA NGHI LỄ HÁT THỜ
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC
1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Những nghiên cứu về dân ca nghi lễ Hát thờ
Từ xa xưa, con người đã biết bắt chước tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng
mưa rơi, tiếng gió gào Vì thế, một trong những nguồn gốc hình thành nghệ
thuật âm nhạc là từ sự mô phỏng những âm thanh tự nhiên của thiên nhiên
Khảo cổ học đã cho biết, người nguyên thuỷ thường sống trong các hang
động Người ta phát hiện một số hình khắc trong hang động: “Bên hình con
thú vẽ trên vách hang động còn có các vết giáo đâm nham nhở Điều đó
chứng tỏ những người thợ săn đã họp mặt quanh bức vẽ, trước lúc lên đường,
họ đã nhảy múa, reo hò…” [56, tr.25]
Những hình khắc trên vách đá hang động cho thấy, người nguyên thủy
thường diễn tả lại cảnh săn bắt con mồi bằng những âm thanh (reo hò), động
tác (nhảy múa) Những âm thanh, động tác sau đó được ký hiệu hóa thành
ngôn ngữ, cử chỉ Trong khi lao động sinh tồn, con người đã biết dùng ngôn
ngữ có nhịp, có điệu nhằm thống nhất và tăng sức mạnh của động tác
Những ngôn ngữ có nhịp, có điệu trong lao động của con người dần dần
hình thành những bài ca Cùng với những bài ca được hình thành trong lao
động, là những bài ca được hình thành từ những sinh hoạt tín ngưỡng như
cầu cúng, tế lễ thần thánh và từ những sinh hoạt trong đời sống thường ngày
như ru trẻ ngủ, trong giao tiếp cộng đồng hoặc tỏ tình nam nữ… Sách Hý
khúc Trung Quốc, viết:
Ca múa nguyên thủy là nội dung trong các buổi lễ hội khánh tiết của
người xưa, nó tái hiện hình ảnh thị tộc trong cuộc sống như hái lượm,
bắt cá, nuôi hươu, trồng trọt, chiến tranh và tình yêu nam nữ, bày tỏ sự
cung kính với trời đất, thần linh, tô-tem và cả đối với bộ phận sinh dục
của con người [37, tr.20]
Trang 20Những ghi chép từ cổ vật mà sách Hý khúc Trung Quốc đề cập là những
di vật bằng xương: “khai quật được 21 ống địch bằng xương trong đồ tùy táng, theo giám định tổng hợp mới nhất, những ống sáo này cách đây đã phải tới 8000 - 9000 năm” [37, tr.9] Totem là vật tổ, vật linh Bộ phận sinh dục hay hòn đá, cái cây, con hổ, con cá là vật linh Thờ vật tổ cũng là thờ vật linh Quan niệm này cho rằng, vạn vật đều có linh hồn Vật linh là một trong
những tín ngưỡng cổ nhất của nhân loại Người nguyên thủy đã biết ca múa
bày tỏ sự cung kính với vật linh Người Việt ở Việt Nam quan niệm vạn vật hữu linh Từ thủa còn sơ khai, người Việt thờ các hiện tượng tự nhiên như trời, đất, thờ động vật như hổ, trâu, cóc, chó, chim, cá, rắn…; thờ một số loại
cây như: cây đa, cây gạo, cây cau, cây dâu… theo quan niệm đa thần: Thần cây đa, ma cây gạo Không chỉ từ thời nguyên thuỷ, mà trong đời sống hiện
đại ngày nay, thường ở khu vực nông thôn, miền núi người dân vẫn nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần Vị thần đó quyết định
sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống con người
Sau khi xã hội phân chia giai cấp, nghệ thuật ca hát được chia làm hai khuynh hướng: cung đình và dân gian ‘‘Ở Trung Quốc, thời Ân Thương,
những người giỏi ca múa, nữ được gọi là bà mo, nam được gọi là thày cúng’’[147, tr.21] Những người giỏi ca múa là bà mo, là thày cúng đã cho
biết, ca hát thời Ân Thương ở Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng
Sách Lịch sử kịch hát Trung Quốc, viết:
Ngày xưa, nhạc của họ Cát Thiên là ba người nắm đuôi trâu, dậm chân mà hát tám khúc, một là Tải dân, hai là Huyền Điểu, ba là Toại thảo mộc, bốn là Phấn ngũ cốc, năm là Kính thiên thường, sáu
là Kiến đế công, bảy là Y địa đức, tám là Tổng cầm thú chi cực Vắn lại, tám khúc này phản ánh lao động sản xuất và tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy [59, tr.8]
Thời Đông Chu, các hoạt động ca múa ở cung đình chủ yếu mang màu sắc của nghi lễ, được giai cấp quý tộc sử dụng trong việc tế lễ, ma chay, yến tiệc Thời Tây Chu trở đi, có thể thấy được sự phát triển mạnh của nghệ thuật ca
Trang 21múa ngoài dân gian “Kinh thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc với ba trăm
lẻ năm bài Những bài thơ trong đấy đều là các bài hát có nhạc đệm’’ [59, tr.11] Những bài thơ trong Kinh thi là các bài hát, đây chính là những bài
thơ/dân ca cổ của Trung Quốc, được ghi chép trong sử sách Trong Kinh thi có miêu tả về việc múa hát ở dân gian được gọi là Tản nhạc Múa hát ở cung đình gọi là Nhã nhạc Một số ý kiến cho rằng Nhã nhạc cũng được bắt nguồn từ Tản
nhạc, chẳng qua là do giai cấp quý tộc dùng nó theo sở thích giai cấp
Ở Hy Lạp thời cổ đại có Pitago (sinh khoảng 572, mất khoảng 500 TCN) là nhà triết học, y học, thiên văn học, âm nhạc học… Các tác phẩm
viết về Pitago, trong đó có tác phẩm Cộng hòa của Platon, do Đỗ Khánh
Hoan dịch, Nxb Thế giới xuất bản năm 2014, có cho biết ông rất chú ý đến nghệ thuật âm nhạc Pitago mở trường truyền dạy toán học, y học, thiên văn học… Âm nhạc được sử dụng trong các hoạt động cuộc sống thường ngày của học trò
Theo thần thoại Hy Lạp, Apôlông là vị thần ánh sáng và đồng thời là vị thần âm nhạc Nhiều bức tranh cổ được tìm thấy ở Hy Lạp vẽ thần Apôlông cầm cây đàn Lia Cây đàn Lia là biểu tượng của nghệ thuật âm nhạc Vào mỗi buổi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối, học trò ở trường của Pitago phải hát các bài ngợi ca thần Apôlông hoặc ngâm thơ để rèn luyện trí tuệ, đánh đàn Lia để tâm hồn, thể xác thanh khiết Những bài ngợi ca thần Apôlông mà học trò ở trường của Pitago hát là những bài dân ca NLHT
Thời cổ đại Hy Lạp có một số thể loại ca hát: fren - thanh nhạc dùng cho tang lễ, cho nghi thức hành lễ của tôn giáo; Péan là loại hành khúc chiến thắng, khải hoàn ca, đó là khúc hát hân hoan ca ngợi thần Apollo và nữ thần Athene (hai vị thần của trí tuệ và chiến tranh); difiramb là khúc hát trữ tình, ca ngợi thượng đế Bakh thể loại này biểu diễn trong ngày lễ trang trọng hoặc trong các cuộc tỉ thí Về sau difiramb phát triển thành các tiết mục trình diễn trong nhà hát Nội dung phần lớn là ca ngợi anh hùng và thần thánh [65]
Thể loại fren dùng cho tang lễ, cho nghi thức hành lễ của tôn giáo
Tôn giáo là sự phát triển, biến đổi từ tín ngưỡng Khi cử hành tang lễ,
Trang 22hành lễ là hát tập thể, bài hát tập thể này không chỉ do một người sáng tạo, mà tập thể sáng tạo, nên fren là thể loại dân ca NLHT Trong sách
Lịch sử âm nhạc thế giới, do Nguyễn Xinh biên soạn, viết: ‘‘Âm nhạc Hy
Lạp cổ đại về cơ bản là nhạc đồng ca một bè (thường là đồng ca nam) nên giai điệu và lời thơ gắn bó với nhau rất chặt chẽ Giai điệu làm tôn ý nghĩa của thơ và lời thơ chỉ đạo sự phát triển của giai điệu, do đó các tiết tấu trong thơ cũng đồng thời là tiết tấu trong nhạc” [147, tr.8] Những bài đồng ca thời Hy Lạp cổ đại là sáng tác tập thể, đó là những bài dân ca Cũng như dân ca Trung Quốc thời cổ đại, dân ca Hy Lạp thời cổ đại, hát
và thơ quyện chặt với nhau
Trong cuốn Dân ca là cơ sở của âm nhạc, viết:
Ta không thể xác định được thời gian hình thành nền nghệ thuật âm nhạc, nhưng phải xem rằng thời kỳ đầu tiên của quá trình phát triển nghệ thuật âm nhạc là thời kỳ lịch sử chỉ có sự tồn tại của fôn-clo
âm nhạc Ở thời kỳ đầu này của lịch sử âm nhạc, những nền nghệ thuật âm nhạc dân gian phát triển cao nhất Ở đây, hình loại chủ chốt của nghệ thuật âm nhạc là dân ca [152, tr.1-2]
Theo sách Dân ca là cơ sở của âm nhạc, không thể xác định được thời gian hình thành nền nghệ thuật âm nhạc, nhưng tác giả cũng cho biết thời kỳ
phát triển của nghệ thuật âm nhạc là, thời bộ lạc thị tộc và chưa có văn tự Thời kỳ này là thời nguyên thủy, âm nhạc hình thành từ thời nguyên thủy
Sách Lược sử âm nhạc Việt Nam do tác giả Nguyễn Thụy Loan biên
soạn, ở mục II Sinh hoạt âm nhạc thời Hùng Vương, viết: ‘‘Trong những nghi thức cầu cúng, cùng với việc tấu nhạc, những lời cầu khấn thần linh được ngân nga, cách điệu hóa và tiết tấu hóa ít nhiều hình thành những giai điệu đầu tiên của thể loại Hát thờ” [70, tr.12]
Trong các sách về lịch sử nghệ thuật nói chung, lịch sử âm nhạc nói riêng ở các nước phương Tây cũng như các nước phương Đông, đều phản ánh cội nguồn của nghệ thuật âm nhạc là dân ca và dân ca tín ngưỡng - dân ca
Trang 23NLHT, là một trong những thể loại được con người sáng tạo ra đầu tiên Vì thế, dân ca là cơ sở của âm nhạc
1.1.1.1 Nghiên cứu về dân ca Hát Xoan
Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, văn hóa dân gian, văn học dân gian đã cho biết, dân ca Việt Nam, trong đó có các thể loại dân
ca NLHT như Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm đã có từ rất lâu đời
Năm 1958, Phòng nghiên cứu âm nhạc dân gian, Vụ nghệ thuật, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hoá & Thể thao và Du lịch) in rônêô công trình nghiên
cứu về Hát Xoan của nhạc sĩ Tú Ngọc có tiêu đề Hát Xoan, dân ca Phú Thọ [90] Trên cơ sở của công trình Hát Xoan, dân ca Phú Thọ, năm 1997, nhạc sĩ
Tú Ngọc viết cuốn Hát Xoan dân ca lễ nghi - phong tục, do Nxb Âm nhạc -
Viện Âm nhạc xuất bản [92] Cuốn Hát Xoan dân ca lễ nghi - phong tục của nhạc sĩ Tú Ngọc gồm 7 chương
Nội dung chương I, tác giả khái quát về lịch sử, vị trí địa lý và một số lễ hội có diễn xướng dân gian ở vùng Đất Tổ Phú Thọ Phú Thọ là vùng trung
du, nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Thao, sông Lô và sông Đà; nơi có nhiều di chỉ khảo cổ học trên dưới 4000 năm; nơi có nhiều lễ hội dân gian mang tính chất cổ
Chương II, sách trình bày những truyền thuyết về nguồn gốc lịch sử Hát Xoan, về tên gọi Hát Xoan là do lối diễn xướng này vào mùa xuân, sau vì kỵ tên húy của bà Xuân Lan, Xuân nương, hậu duệ của vua Hùng, nên gọi chệch
là Hát Xoan; Theo tác giả Tú Ngọc, ngày xưa ở 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, tổng số có 21 làng xã hàng năm tổ chức hội Hát Xoan
Chương III, sách nêu về quá trình phát triển của Hát Xoan, từ cầu cúng
tế lễ ở bãi cỏ, nơi vua Hùng dạy trẻ mục đồng hát múa, đến khi hát múa ở miếu Lãi lèn, rồi ở sân đình làng
Chương IV, tác giả trình bày về sự gần gũi của diễn xướng Hát Xoan với một số hình thức diễn xướng tế lễ thần linh của người Việt như: Hát Ả đào (Ca trù), Hát Dô, Hát Chèo tàu, Hò cửa đình, Hát Dậm, Trò Trám, Trò Ải Lao, Múa đèn, Trống mõ, Hà Lan, Tiên cuội…
Trang 24Trong chương V, tác giả nêu các thành tố văn chương (ca từ) ở các phương diện: Nội dung tư tưởng đề tài; các thể điệu văn chương; Thành phần
về vấn đề này
Cuốn Hát Xoan - Hát Ghẹo dấu ấn một chặng đường, của Cao Khắc
Thùy do Nxb Âm nhạc in năm 2011 [132] Trong cuốn sách này, tác giả cấu trúc làm ba chương Nội dung chương I, nói về vùng đất cổ Phú Thọ với những di chỉ thời tiền Đông Sơn và những truyền thuyết ở vùng đất Phú Thọ Chương II, sách trình bày một chặng đường tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm Hát Xoan, Hát Ghẹo của tác giả và những nhà nghiên cứu khác như Tú Ngọc, Nguyễn Đăng Hòe…
Nội dung chương III, tác giả đề xuất việc khôi phục, bảo tồn các làng Xoan, Ghẹo gốc và phổ biến rộng toàn tỉnh Phú Thọ
Trong cuốn Địa chí Vĩnh Phú văn hóa dân gian vùng Đất Tổ [111], do
Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Phú xuất bản, năm 1986, có giới thiệu một số truyền thuyết, tập tục, lề lối Hát Xoan cũng tương tự như trong cuốn Hát Xoan dân ca lễ nghi - phong tục của Tú Ngọc, nhưng không viết về âm nhạc Hát Xoan
Năm 2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Bộ Văn hóa, Thể thao &
Du lịch tổ chức hội thảo quốc tế về Hát Xoan Sau hội thảo đã xuất bản Kỷ
yếu Xoan Singing in Phú Thọ Cuốn Kỷ yếu Xoan Singing in Phú Thọ là một
tài liệu khoa học quan trọng trong hồ sơ đệ trình lên UNESCO, để công nhận
là di sản phi vật thể của nhân loại Toàn bộ Kỷ yếu này gồm 36 bản tham luận của các nhà khoa học về văn hóa, lịch sử, khảo cổ, dân tộc học, âm nhạc…
Trang 25trong nước và ngoài nước như Đức, Ý, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Nội dung các bản tham luận đề cập đến nhiều vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Hát Xoan như: tập tục, lề lối Hát Xoan thể hiện rõ nét của nền văn hóa lúa nước; lịch sử Hát Xoan gắn liền với thời kỳ dựng nước; tín ngưỡng vật linh, tín ngưỡng phồn thực có trong tập tục, lề lối diễn xướng; múa trong Hát Xoan tuy giản đơn, nhưng có nhiều động tác độc đáo không có trong các thể loại khác; âm nhạc Hát Xoan được phát triển từ giản đơn đến tinh tế, có nhiều thành tố cổ
Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ (https: //phutho.gov.vn, truy
cập ngày 20/5/2019) cho biết: “Tối ngày 3 tháng 2 năm 2018, tại Miếu Lãi Lèn, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ phối hợp với Bộ Văn hóa & Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ đón bằng của UNESCO ghi danh Hát Xoan Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” [159]
1.1.1.2 Nghiên cứu về dân ca Hát Dô
Nghiên cứu về Hát Dô có cuốn sách Hát dô, Hát chèo tàu của hai tác giả
Trần Bảo Hưng và Nguyễn Đăng Hòe, do Ty Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình
xuất bản năm 1977 Cuốn sách Hát dô, Hát Chèo tàu ngoài Lời nói đầu, Lời giới thiệu có 11 chương, trong đó 6 chương viết về Hát Dô, 5 chương viết về
Hát Chèo tàu
Trong chương 1, tác giả trình bày khái quát về quê hương của Hát Dô là
xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Sơn Bình (nay thuộc thành phố Hà Nội) Về nguồn gốc Hát Dô, trong sách nêu hai truyền thuyết, đều cho biết Hát Dô liên quan đến việc thờ thần núi Tản Viên
Chương II, nội dung chương viết về việc hội Hát Dô được tổ chức tại đền Khánh Xuân, vào mùa xuân, nhưng không diễn ra hàng năm mà 36 năm mới tổ chức một lần, vào ngày 15 tháng giêng
Trang 26Trong chương III, cuốn sách trình bày nội dung lời ca trong Hát Dô đề cập chủ yếu nghi thức tế thần, nhưng còn có các nội dung ca ngợi cảnh đẹp quê hương, tình yêu đôi lứa
Nội dung chương IV, viết về lề lối diễn xướng và phân loại các hình thức hát: hát nói, hát ngâm, hát xô và xướng…; nhận xét về các quãng, gam, điệu tính âm nhạc Hát Dô…
Trong chương V, nêu phác thảo vài nét về sự giống nhau trong phong tục, tập quán, lề lối và cả tên một số bài hát của các thể loại dân ca Xoan, Dô, Chèo tàu [46]
1.1.1.3 Nghiên cứu về dân ca Hát Dậm
Nghiên cứu về Hát Dậm, năm 1958, nhạc sĩ Tân Huyền và nhà nghiên
cứu Sơn Tùng cho in tài liệu rônêô, có tên Giới thiệu Hát Dậm Trong tài liệu
này, hai tác giả giới thiệu quê hương Hát Dậm là thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Nơi tổ chức Hát Dậm là đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt và đình làng Quyển Sơn Hàng năm dân làng Quyển Sơn tổ chức Hát Dậm từ ngày mùng 6 tháng giêng đến mùng 10 tháng hai âm lịch Hát Dậm là nghi thức tế lễ cầu Đức Lý Thường Kiệt phù giúp dân làng một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, bình yên, khang thái ; Nội dung lời ca Hát Dậm đề cập đến các vấn đề như: cầu cúng xin cho mưa thuận, gió hòa, cho dân làng no đủ; Ca ngợi chiến công của Lý Thường Kiệt và quan quân nhà Lý; Về âm nhạc, tài liệu giới thiệu một số loại nhạc điệu (lối hát) như hát theo kiểu hát nói, hát theo kiểu ngâm, hát theo kiểu ca khúc… [45]
Năm 1998, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nam xuất bản cuốn Dân ca Hát Dậm Hà Nam của tác giả Trọng Văn Trong cuốn Dân ca Hát Dậm Hà Nam,
tác giả Trọng Văn bố cục làm ba phần Nội dung phần thứ nhất, tác giả nêu truyền thuyết về Hát Dậm thờ danh tướng Lý Thường Kiệt Trong phần thứ hai, tác giả nêu nội dung lời ca Hát Dậm ca ngợi hình ảnh quan quân nhà Lý,
mô tả cảnh lao động…; vài nét về phong tục tập quán và nghệ thuật diễn xướng Hát Dậm Về âm nhạc sách không đề cập Phần thứ ba, tác giả giới
Trang 27thiệu lời ca một số bài Hát Dậm và chú thích một số hình thức biểu diễn phụ họa cho những bài hát này [136]
Năm 2010, tác giả Lê Hữu Bách viết cuốn Khảo cứu về lễ hội Hát Dậm Quyển Sơn, do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội phát hành Trong cuốn sách, tác giả trình bày những nét khái quát về lịch
sử, văn hóa, cảnh quan… làng Quyển Sơn và một số vấn đề về quy trình lễ hội, đặc điểm diễn xướng, vài nét về âm nhạc, lời ca… Hát Dậm; một số truyền thuyết, huyền tích về núi Cấm - đền Trúc và quy trình diễn xướng Hát Dậm Quyển Sơn; ký âm một số bài Hát Dậm [5]
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ
Đề án Hỗ trợ đưa dân ca vào trường Trung học cơ sở [38], do Phạm Lê
Hòa làm chủ nhiệm hoàn thành, nghiệm thu năm 2009, Trường ĐHSP Nghệ
thuật TW là đơn vị thực hiện đề án Đề án thuộc Dự án phát triển giáo dục Trung học cơ sở II, của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nội dung của đề án nêu rõ ý
nghĩa việc đưa dân ca vào trường THCS, là một trong những chủ trương trọng tâm của Bộ Giáo dục & Đào tạo nhằm góp phần bảo tồn, phát huy dân ca các vùng miền của nước ta; giáo dục cho học sinh biết các giá trị quý báu, từ đó trân trọng, yêu thích, cảm thụ được vẻ đẹp của dân ca nước ta
Một số luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, có đề cập đến hoặc là Hát Xoan, hoặc là Hát Dô hay Hát Dậm gắn với việc dạy học âm nhạc, ở các trường Cao đẳng Sư phạm, trường phổ thông như:
Trần Thị Kim Thăng (2012), Đưa Hát Dô vào chương trình dạy học của khoa Sư phạm Âm nhạc, Trường CĐSP Hà Tây Nội dung luận văn thạc sĩ
ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của tác giả Trần Thị Kim Thăng sau khi trình bày một số vấn đề về nguồn gốc lịch sử, một số đặc điểm nghệ thuật đã nêu ra biện pháp đưa Hát Dô vào dạy học chính khóa, ngoại khóa cho sinh viên Khoa Sư phạm Âm nhạc, Trường CĐSP Hà Tây
Năm 2013 Nguyễn Thị Chang bảo vệ đề tài luận văn thạc sĩ Lý luận
và Phương pháp dạy học Âm nhạc: Truyền dạy một số làn điệu Chèo Tàu
Trang 28và Hát Dô cho học sinh Trường Tiểu học An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Chang chủ yếu tuyển chọn một số bài Hát Dô và Hát Chèo tàu vào việc dạy học môn Âm nhạc, ở Trường Tiểu học An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội
Trần Ánh Tuyết (2013), Đưa Hát Dậm vào hoạt động ngoại khóa Âm nhạc cho sinh viên Khoa Tiểu học, Trường CĐSP Hà Nam Luận văn thạc sĩ
Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của Trần Ánh Tuyết tuyển chọn một số bài Hát Dậm, đưa vào chương trình hoạt động ngoại khóa cho sinh viên Khoa Tiểu học, Trường CĐSP Hà Nam
Năm 2014, Giáp Văn Thịnh nghiên cứu đề tài có tiêu đề Hát Dậm Quyển Sơn với việc truyền dạy của nghệ nhân Trịnh Thị Răm Nội dung luận văn
thạc sĩ ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của Giáp Văn Thịnh trình bày về nguồn gốc lịch sử, những đặc trưng trong âm nhạc, lời ca, lề lối diễn xướng Hát Dậm Quyển Sơn; ca ngợi công lao bảo tồn, phát huy thể loại dân ca này với việc truyền dạy của nghệ nhân Trịnh Thị Răm cho thế hệ trẻ làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Một số luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc giúp NCS tiếp cận được một số biện pháp, đưa các thể loại dân ca nghi
lễ Hát thờ vào môi trường học đường
Cùng với những công trình, luận văn nêu trên, nghiên cứu về Hát Xoan, Hát Dô và Hát Dậm còn có những bài báo, những luận văn, luận án Văn hóa học, Quản lý văn hóa… Trong khuôn khổ đề tài luận án, chúng tôi chỉ nêu một số đề tài liên quan trực tiếp đến đào tạo ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, thuộc lĩnh vực Giáo dục học
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết chưa có luận án tiến sĩ nào thuộc ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, nghiên cứu
về dạy học dân ca NLHT, trong đó có Hát Xoan, Hát Dô và Hát Dậm Do
đó đề tài nghiên cứu của chúng tôi không trùng lặp với các công trình
Trang 29nghiên cứu đã xuất bản và các luận văn ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc đã bảo vệ
1.1.3 Nhận xét chung về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Qua tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài mà chúng tôi trình bày ở trên, mỗi công trình đều có những vấn đề NCS kế thừa,
là cơ sở tầng nền để nhận định, giải quyết một số vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được đề cập để nghiên cứu
1.1.3.1 Những vấn đề đã nghiên cứu về lịch sử dân ca và dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm
Những công trình nghiên cứu có đề cập đến lịch sử dân ca tín ngưỡng của một số tác giả nước ngoài; những công trình biên soạn theo tài liệu nước ngoài của Hồ Mộ La, của Nguyễn Xinh có những nhận định thống nhất: dân ca được nhân loại sáng tạo từ thời nguyên thủy; dân ca tín ngưỡng là một trong những thể loại dân ca cổ nhất Sở dĩ dân ca tín ngưỡng
là một trong những thể loại cổ nhất, bởi trong nó chứa đựng những thành tố
cổ nhất Những thành tố cổ nhất của dân ca tín ngưỡng là yếu tố tín ngưỡng trong nó Tín ngưỡng vật tổ (tôtem), vật linh là tín ngưỡng cổ nhất của
nhân loại, đó là bày tỏ sự cung kính với trời đất, thần linh, tô tem có trong dân ca tín ngưỡng, nó tái hiện hình ảnh thị tộc trong cuộc sống như hái lượm, bắt cá Bày tổ sự cung kính với bộ phận sinh dục của con người, vừa
là biểu hiện của tín ngưỡng vật linh, vừa là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực Sự sinh sôi, nảy nẩy nở là phồn thực Cung kính là thái độ trang trọng nhất, là sự ngưỡng vọng nhất của con người với sự vật, hiện tượng Ngưỡng vọng trở thành niềm tin, niềm tin trở thành tín ngưỡng Tín ngưỡng phồn thực là một trong những tín ngưỡng cổ nhất của nhân loại, có trong dân ca tín ngưỡng Trong nghi thức hành lễ của dân ca tín ngưỡng, người ta xướng lên những bài ca có âm điệu cao thấp, có nhịp điệu nhanh chậm, có những cấu trúc lời thơ khác nhau để thờ thần linh, những bài ca này được gọi là dân ca NLHT
Trang 30Từ những vấn đề về lịch sử dân ca tín ngưỡng của một số công trình
mà NCS tìm hiểu và trình bày ở trên, đã cho biết dân ca tín ngưỡng - dân
ca NLHT là thể loại dân ca cổ, có chung một đặc điểm cung kính, bái vọng thần linh
Tác giả Tú Ngọc trong cuốn Hát Xoan dân ca nghi lễ - phong tục, đã
phân tích về âm nhạc, chứng minh Hát Xoan thuộc tầng dân ca cổ; những ý kiến bàn luận về Hát Xoan truyền thống và hiện đại được trình bày trong cuốn sách, mang tính định hướng cho việc bảo tồn, phát triển Hát Xoan
Cuốn Địa chí Vĩnh Phú văn hóa dân gian vùng Đất Tổ, khi viết về
truyền thuyết Hát Xoan, phong tục, tập quán, lề lối diễn xướng có những
điểm tương đồng với cuốn Hát Xoan dân ca nghi lễ - phong tục Cuốn Hát Xoan - Hát Ghẹo dấu ấn một chặng đường, của Cao Khắc Thùy khi viết về
truyền thuyết Hát Xoan, phong tục, tập quán, lề lối diễn xướng, về lời ca, về
âm nhạc có những điểm tương đồng với cuốn Hát Xoan dân ca nghi lễ - phong tục Điểm nhấn của cuốn sách là cung cấp thêm thông tin về tình hình
diễn xướng và những nghệ nhân Hát Xoan cuối thập kỷ 50, TK XX Cuốn
sách của Cao Khắc Thùy giúp NCS có thêm những tư liệu qúy báu về nghệ
nhân, và tình hình diễn xướng của đào, kép phường Xoan
Cuốn Kỷ yếu Xoan Singing in Phú Thọ, có những tham luận cùng hướng
với nghiên cứu của NCS
Trong sách viết về Hát Dô của Trần Bảo Hưng và Nguyễn Đăng Hòe, đã nêu những truyền thuyết về nguồn gốc Hát Dô, tên gọi Hát Dô Sách về Hát Dậm của Tân Huyền - Sơn Tùng, của Nguyễn Hữu Bách đều mang tính chuyên khảo, phản ánh một số vấn đề chủ yếu như: giả thuyết về nguồn gốc lịch sử, sự hình thành và trình bày các tập tục, lề lối, trình tự diễn xướng trong ngày hội làng của các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô và Hát Dậm; phân tích các đặc điểm nghệ thuật lời ca và âm nhạc của ba thể loại dân ca Xoan,
Dô, Dậm; nêu một số nét tương đồng về phong tục tập quan về đặc điểm âm nhạc và nội dung lời ca giữa Hát Xoan với Hát Dô và Hát Dậm; gợi ý về việc bảo tồn, phát huy các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm
Trang 311.1.3.2 Những vấn đề đã nghiên cứu về dạy học dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm
Đề án Hỗ trợ đưa dân ca vào trường Trung học cơ sở, do Phạm Lê Hòa
làm chủ nhiệm, nội dung có ý nghĩa sâu sắc giáo dục những giá trị về đạo đức truyền thống tốt đẹp uống nước nhớ nguồn; giáo dục thẩm mỹ âm nhạc dân tộc; góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị của dân ca Việt Nam Nội dungmột số luận văn ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của các học viên: Trần Thị Kim Thăng, Nguyễn Thị Chang, Giáp Văn Thịnh đã đề xuất một số biện pháp đưa các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm vào trong học đường từ bậc tiểu học đến bậc cao đẳng sư phạm Tác giả những luận văn đều khẳng định, việc đưa dân ca vào học đường có ý nghĩa quan trọng với việc giáo dục thẩm mỹ âm nhạc dân tộc, góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị của các thể loại dân ca này Một số các biện pháp đưa các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm vào dạy học chính khóa, ngoại khóa, tổ chức các câu lạc
bộ dân ca… trong luận văn có tính thực tiễn
1.1.3.3 Những vấn đề chưa được đề cập nghiên cứu về dân ca Hát Xoan, Hát
Dô, Hát Dậm
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, NCS nhận thấy những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp sau Tuy các công trình nghiên cứu đã công bố những vấn đề chủ yếu về dân ca nghi lễ Hát thờ, nhưng còn có những vấn đề chưa đề cập đến
Về phương diện dạy học dân ca NLHT cho SV Đại học SPAN chưa có công trình nào nghiên cứu dạy học các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm NCS trình bày các vấn đề mà các công trình đã xuất bản, các luận văn ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc chưa đề cập dưới đây:
Các công trình nghiên cứu và các luận văn chưa lý giải về thời điểm hình thành và niên đại các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm; Những đặc điểm về lời ca biểu hiện sự hình thành một số thể loại dân ca NLHT từ thời kỳ
cổ đại chưa đề cập; Những đặc điểm về thang âm, điệu thức, cấu trúc của dân
ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm tuy đã nêu nhưng chưa đầy đủ, cần bổ sung; luận
Trang 32án sẽ trình bày những quan điểm về một số khái niệm như dân ca NLHT, thang
âm, điệu thức, làn điệu, khổ nhạc
Hiện chưa có công trình nào khẳng định Hát Xoan thuộc thể loại dân
ca cổ xưa nhất trong dân ca nước ta, luận án sẽ trình bày vấn đề này Đồng thời luận án trình bày mối quan hệ của dân ca Hát Xoan với các thể loại dân ca Hát Dô và Hát Dậm Từ đó, phản ánh sự lan tỏa của Hát Xoan đến Hát Dô, Hát Dậm và cho thấy sự thống nhất trong đa dạng của các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô và Hát Dậm Luận án nêu rõ vấn đề Hát Xoan là sinh hoạt văn hóa âm nhạc thuộc trung tâm của một vùng dân ca Việt Nam thời cổ đại, có nhiều giá trị trong đời sống của người dân vùng trung du và cả nước
Một số bài hát của các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm qua thời gian đã biến đổi chưa được ghi chép ký âm, NCS sẽ điều tra, khảo sát ghi âm và ký âm để phục vụ cho nghiên cứu và là tài liệu dạy học cho SV Đại học SPAN
1.1.3.4 Những vấn đề chưa được đề cập nghiên cứu về dạy học dân ca nghi
lễ Hát thờ
Trong các luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc đã bảo vệ, chưa đề cập đến biện pháp đưa dân ca NLHT vào chương trình dạy học cho SV Đại học SPAN
Đặc trưng về thang âm, điệu thức, cấu trúc và mối quan hệ giữa một số thể loại dân ca NLHT chưa có đề tài nào đề cập đến trong dạy học
Đặc điểm từng lối diễn xướng, các kỹ năng ca hát như hơi thở, khẩu hình, phát âm nhả chữ và phương pháp dạy hát dân ca Xoan, Dô, Dậm chưa được đề cập
Những chủ trương về dạy học phát triển năng lực của Bộ GD & ĐT và những hình thức tổ chức lớp học, phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học dân ca cho SV Đại học SPAN chưa được nghiên cứu
Trang 331.1.4 Hướng nghiên cứu của luận án
Qua tổng quan nghiên cứu, NCS nhận thấy những thành tựu mà các công trình nghiên cứu đi trước rất có giá trị Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề chưa đề cập đến Chính vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án sẽ là:
Nêu rõ vai trò, ý nghĩa của các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm trong đời sống người dân quê hương các thể loại dân ca này; nêu rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của dạy học dân ca NLHT với SV Đại học SPAN, từ đó
đề xuất biện pháp đưa dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm vào chương trình đào tạo SV ngành SPAN hệ Đại học
Luận án sẽ phân tích và luận giải một số nội dung cơ bản về dạy học dân
ca NLHT: các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Dân ca, dân ca NLHT, dạy học dân ca NLHT; mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học dân ca NLHT Bổ sung những bản phổ âm nhạc được ghi chép qua phỏng vấn, ghi âm nghệ nhân Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm và lý giải về nguồn gốc lịch sử, khung niên đại của các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm Phân tích về truyền thuyết lịch sử, về lời ca và
âm nhạc để chứng minh Hát Xoan là thể loại dân ca cổ nhất của người Việt ở nước ta, được hình thành trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của một vùng dân ca là trung tâm của nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên ở nước ta Đồng thời chứng minh mối quan hệ giữa Hát Xoan với Hát Dô và với Hát Dậm biểu hiện sự thống nhất trong đa dạng của các thể loại dân ca NLHT Trên cơ sở nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử và mối quan hệ giữa các thể loại
dân ca NLHT, NCS xây dựng nội dung bài giảng bổ sung cho môn Lịch sử
âm nhạc Việt Nam
Luận án trình bày đặc điểm từng lối diễn xướng, các kỹ năng ca hát như hơi thở, khẩu hình, phát âm nhả chữ… trong diễn xướng Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm và áp dụng nghiên cứu vào dạy học hát dân ca NLHT cho
SV Đại học SPAN
Trang 341.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Dạy học đại học
Trong cuốn Tổ chức quá trình dạy học Đại học, tác giả Lê Khánh Bằng
viết: “Dạy học là một quá trình “truyền thụ và lĩnh hội” tri thức và phương pháp hoạt động nhận thức của con người Dạy học là một quá trình hai mặt
do thầy giáo (dạy) và học sinh (học) thực hiện” [8, tr.14] Tác giả Hồ Ngọc
Đại trong cuốn Tâm lý học dạy học, viết: “Dạy học là một quá trình gồm
toàn bộ các thao tác có tổ chức và định hướng giúp người học tiếp bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần” [18, tr.239] Lê Khánh Bằng và Hồ Ngọc Đại đều thống nhất về dạy học là một quá trình, nhưng quá trình dạy học theo Lê Khánh bằng là
truyền thụ và lĩnh hội tri thức, quá trình dạy học theo Hồ Ngọc Đại là các thao tác có tổ chức và định hướng
Từ điển Tiếng Việt (1996), Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng xuất bản,
viết: “Dạy: Truyền lại tri thức hoặc kĩ năng một cách ít nhiều có hệ thống, có phương pháp Dạy học sinh Dạy toán Dạy nghề cho người học việc Dạy hát Dạy học: Dạy để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức, theo
chương trình nhất định” [104, tr.236] Theo giải nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt chưa đề cập đến mối quan hệ giữa dạy và học
Trong cuốn Lý luận dạy học đại học, của hai tác giả Đặng Vũ Hoạt
và Hà Thị Đức, có viết: “ Hoạt động dạy (hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên) và hoạt động học (hoạt động tự tổ chức, tự điều khiển của sinh viên) Trong đó giáo viên phải có cách thức dạy và sinh viên phải có cách thức học” [41, tr.105] Như thế, dạy học là hoạt động có sự tương tác của người dạy và người học Quá trình dạy học tuy có phân chia thành hai loại là dạy học lý thuyết và dạy học thực hành, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Là một hiện tượng xã hội, dạy học có chức năng phát triển
cá nhân và cộng đồng thông qua việc truyền thụ tri thức và kinh nghiệm
lịch sử - xã hội đến người học Tác giả Đặng Thành Hưng trong sách Dạy
Trang 35học hiện đại - lí luận - biện pháp - kĩ thuật, viết: “Bản chất của dạy học
chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình học tập của mình” [53; tr.35] Theo tác giả Đặng Thành Hưng, bản chất của dạy học là quá trình hoạt động dạy và hoạt động học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống
Như vậy, dạy học đại học là quá trình trong đó, dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của GV, SV tự giác, tích cực thực hiện hoạt động học tập có tính chất nghiên cứu, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đại học
1.2.2 Dân ca, Dân ca nghi lễ Hát thờ
1.2.2.1 Dân ca
Người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch: bài ca của nhân dân), người Pháp dùng hai nhóm từ chanson populaire (tạm dịch: bài ca phổ biến trong quần chúng) hay chanson folklorique (tạm dịch: bài ca mang tính nhân dân), người Anh gọi dân ca là folk song theo nghĩa như chanson folklorique, người Ý gọi dân ca là etnofonia (tạm dịch: bài ca mang tính dân tộc hay sắc tộc) [157]
Theo quan niệm của các nước phương Tây nêu trên, có thể hiểu dân ca là bài hát của nhân dân mang tính dân tộc
Tác giả Phạm Phúc Minh trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam, viết: "
Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc" [80, tr.11] Khái niệm về dân ca của Phạm Phúc Minh gần như khẳng định: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác Thực tiễn của đời sống xã hội, có những bài dân ca được hình thành trong
đời sống đương đại, ví dụ như bài Trống cơm, thường được gọi là dân ca Quan
họ Bắc Ninh; bài Ví giặm, có nhà xuất bản ghi là dân ca Nghệ An NCS suy
nghĩ, khái niệm của Phạm Phúc Minh chưa đầy đủ
Trang 36Tác giả Trần Quang Hải trong bài Sơ lược về dân ca Việt Nam, viết: Dân
ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững cùng với thời gian [157]
Cũng như ý kiến chúng tôi đã nêu, dân ca không chỉ lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà ngay thời đương đại nó cũng được sáng tạo và lan truyền Có bài dân ca đầu tiên do một người sáng tác, sau do truyền khẩu trong cộng đồng tạo thành nhiều dị bản Nhưng nhiều thể loại dân ca do một cộng đồng sáng tạo ra như: hát ru, hát giao duyên, hát nghi lễ
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ghi: “Dân ca là bài hát lưu
truyền trong dân gian thường không rõ tác giả” [104, tr.238] Cách giải nghĩa này cũng quan niệm dân ca chỉ là của thời quá khứ (lưu truyền) Theo chúng tôi hiểu dân ca không chỉ có trong quá khứ, mà còn xuất hiện trong thời đương đại và thời tương lai Khi trong cộng đồng cùng hát một bài hát, không có tác giả cụ thể, đó chính là dân ca Dân ca của mỗi thời đại đều không hoàn toàn giống nhau, song nó phải mang tính dân tộc
Trong cuốn Tục ngữ, ca dao và dân ca Việt Nam, của Vũ Ngọc Phan
do Nxb Văn học tái bản năm 2016, xuất hiện khái niệm dân ca, nhưng ông
luôn gắn liền ca dao với dân ca Theo ông thì ca dao và dân ca tuy hai mà một, tuy một mà hai
Từ những phân tích trên, chúng tôi quan niệm: Dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác trong lao động, sản xuất, trong sinh hoạt đời sống thường ngày và trong nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo Phương thức lưu
truyền dân ca trong đời sống nhân dân là truyền miệng (truyền khẩu) Dân
ca thường là sáng tác tập thể, không có tên tác giả, vì trong quá trình lưu truyền, nhân dân có những sáng tạo bổ sung vào bài dân ca đã có trước Do
đó dân ca có nhiều dị bản
Trang 371.2.2.2 Dân ca nghi lễ Hát thờ
Trong bộ sách 1000 năm âm nhạc Thăng Long - Hà Nội, gồm 5 quyển, ở
quyển 2, các tác giả biên soạn bộ sách đã nêu rõ Hát Dô thuộc âm nhạc tín ngưỡng là lối Hát thờ Âm nhạc tín ngưỡng là nói tổng quát, còn Hát Dô là dân ca tín ngưỡng, dân ca nghi lễ thờ thần, dân ca NLHT
Nguyễn Thụy Loan trong sách Thưởng thức về âm nhạc cổ truyền Việt Nam, viết:
Hát Dô gắn với việc thờ đức thánh Tản Viên, Hát tàu - tượng để kỉ niệm những nữ anh hùng thời đầu chống Bắc thuộc như Hai Bà Trưng cùng một số nhân vật lịch sử khác như Triệu Quang Phục, Văn Dĩ Thành Hát Dậm Quyển Sơn ca ngợi anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt Hầu hết họ đều là những nhân vật lịch sử trong những giai đoạn đầu của lịch sử dân tộc Trong quá trình tiến hành nghi lễ, các thể loại dân ca nói trên đều được thực hiện trước nơi thờ phụng các vị thần theo một trình tự nhất định” [71, tr.16]
Theo tác giả Nguyễn Thụy Loan thì Hát Dô, Hát Dậm Quyển Sơn đều
gắn với việc hát thờ các vị thánh thần, đó là dân ca nghi lễ Thờ thần hay dân
ca NLHT
Trong sách Âm nhạc cổ truyền Việt Nam (2006), tác giả Nguyễn Thụy
Loan đã chia các thể loại dân ca như sau: “Các điệu ru; ca nhạc trẻ em (Đồng dao); Hò; Lí; dân ca dành cho những hội chơi bài; hát kể truyện thơ và hát kể trường ca; hát rong; các thể loại dân ca lễ nghi tín ngưỡng và dân ca nghi lễ phong tục ’’[72, tr.114 - 115] Tác giả Nguyễn Thụy Loan cũng quan niệm
có hai dạng thể loại dân ca nghi lễ là dân ca nghi lễ (lễ nghi) tín ngưỡng và dân ca nghi lễ phong tục
Một số nhà nghiên cứu như Tú Ngọc, Nguyễn Đăng Hòe, Trần Bảo Hưng, Tân Huyền, Hồng Thao cho rằng các thể loại dân ca Hát Xoan, Hát Ghẹo, Hát Dô, Hát Dậm, Quan họ có các nghi lễ phong tục nên gọi
là dân ca nghi lễ - phong tục Theo chúng tôi tìm hiểu thì các thể loại dân
ca Hát Xoan, Hát Ghẹo, Hát Dô, Hát Dậm, Quan họ trong quá trình tồn
Trang 38tại có những biến đổi nên cần tách ra làm hai dạng thể loại, nên chúng tôi thống nhất với ý kiến của Nguyễn Thụy Loan là có hai loại dân ca nghi lễ Những thể loại dân ca từ xa xưa đến nay còn gắn với NLHT gọi là dân ca NLHT Những thể loại dân ca xuất phát từ NLHT, song trong quá trình tồn tại đã biến đổi, mất đi yếu tố hát thờ mà chỉ còn những nghi lễ phong tục tổ chức cho nam nữ đối đáp giao duyên, gọi là dân ca nghi lễ phong tục hay dân ca đối đáp giao duyên Về bản chất, các thể lọai dân ca nghi
lễ đều giống nhau, song phân loại rõ để tìm ra những quy luật tồn tại, phát triển, biến đổi của những thể loại dân ca này là cần thiết trong nghiên cứu
Do đó, chúng tôi quan niệm Hát Xoan, Hát Dô, Hát Dậm là dân ca NLHT
và dân ca NLHT là những thể loại dân ca được hình thành, phát triển, tồn tại trong NLHT các vị thần của tín ngưỡng dân gian Việt Nam Dân ca NLHT phản ánh hiện thực khách quan qua tư duy trừu tượng về niềm thành kính với một nhân vật có công với làng, với nước, biểu hiện truyền thống đạo đức uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta Điểm đặc biệt quan trọng của dân ca nói chung, dân ca NLHT là mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Sự hình thành dân ca Hát Xoan, Hát Dô, Hát dậm từ nghi lễ tín ngưỡng thờ cúng các vị thần linh (nhiên thần và nhân thần) Trong quá trình tồn tại, phát triển có những biến đổi là kết hợp cuộc diễn xướng hát thờ thần linh có hát đối đáp giao duyên nam nữ, song bản chất của cuộc diễn xướng vẫn là hát thờ Bởi những câu hát đối đáp giao duyên nam nữ trong cuộc diễn xướng vẫn đề cập đến thần linh
Như vậy, theo những phân tích trên, chúng tôi quan niệm: Dân ca nghi
lễ Hát thờ là dân ca được hình thành và phát triển trong các nghi lễ tín ngưỡng của nhân dân
1.2.3 Dạy học dân ca và dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ
1.2.3.1 Dạy học dân ca và dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ
Trên cơ sở của hai khái niệm dạy học và khái niệm dân ca như đã trình
bày ở trên, khái niệm dạy học dân ca được chúng tôi quan niệm như sau: Dạy
Trang 39học dân ca là quá trình tương tác có tổ chức, có định hướng của người dạy với người học nhằm giúp cho người học có được kiến thức, kỹ năng và phong cách hát dân ca, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
1.2.3.2 Dạy học dân ca nghi lễ Hát thờ
Từ khái niệm về dạy học dân ca và khái niệm dân ca NLHT như đã phân
tích ở trên, chúng tôi quan niệm: Dạy học dân ca NLHT là quá trình tương tác
có tổ chức, có định hướng của người dạy với người học nhằm giúp cho người học có được kiến thức, kỹ năng, giá trị của dân ca NLHT và phong cách hát trong các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
1.2.4 Biện pháp và biện pháp dạy học
Các khái niệm biện pháp, phương pháp, giải pháp tuy có những điểm chung, song từng khái niệm lại có điểm riêng Khái niệm biện giải pháp Nguyễn Văn Đạm giải thích: “ Biện pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống
Trang 40cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [23, tr.175]
Trên cơ sở các khái niệm nêu trên, chúng tôi quan niệm: Biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể để đạt được mục đích đề ra
1.2.4.2 Biện pháp dạy học
Trong tài liệu Lý luận dạy học đại cương, tác giả Nguyễn Ngọc Quang
viết: “Biện pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực,
tự lực đạt tới mục đích dạy học” [106, tr.37]
Theo chúng tôi, biện pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy và
học trong sự thống nhất biện chứng với nhau, nhằm đạt được mục tiêu dạy học 1.2.5 Phương pháp và phương pháp dạy học
“Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Metodos” có nghĩa là con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định” [40, tr.103] Như thế có thể hiểu phương pháp là cách thức để tiến hành hoạt động nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Theo Từ điển tiếng Việt, thì phương pháp là hệ thống cách thức hoạt
động có mực đích, có đối tượng và trong những điều kiện, môi trường nhất đinh [104, tr.766]
Tác giả Lê Anh Tuấn, trong cuốn Phương pháp dạy học âm nhạc, viết:
“Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn (I.A.Lerner) [129, tr.39]
Tác giả Nguyễn Văn Cường trong cuốn Lý luận dạy học hiện đại, viết:
“Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo) được tiến hành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học” [17, tr.72]