1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tôn giáo dưới góc độ tiếp cận nhân học con người đã thực hành tôn giáo như thế nào trong bối cảnh đại dịch covid 19

12 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tôn giáo dưới góc độ tiếp cận nhân học con người đã thực hành tôn giáo như thế nào trong bối cảnh đại dịch covid 19
Trường học Đại học Quảng Ninh
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hạ Long
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 35,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 1 Lịch sử nghiên cứu, 1 Mục đích nghiên cứu, 1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 Phương pháp nghiên cứu, 2 Cấu trúc nội dung báo cáo vắn tắt 2 PHẦN II.MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU1Tính cấp thiết của đề tài1Lịch sử nghiên cứu,1Mục đích nghiên cứu,1Đối tượng và phạm vi nghiên cứu2Phương pháp nghiên cứu,2Cấu trúc nội dung báo cáo vắn tắt.2PHẦN II: NỘI DUNG3I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO DƯỚI GÓC ĐỘ TIẾP CẬN NHÂN HỌC31.1. Phân tích tôn giáo dưới góc độ nhân học31.2. Nguồn gốc của tôn giáo41.2.1. Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo41.2.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo41.2.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:41.3. Tính chất của tôn giáo51.3.1. Tính lịch sử của tôn giáo:51.3.2. Tính quần chúng của tôn giáo51.3.3. Tính chính trị của tôn giáo5II. THỰC TRẠNG THỰC HÀNH TÔN GIÁO TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH TẠI QUẢNG NINH62.1. Đại dịch COVID19 ảnh hưởng tới đời sống tôn giáo tại Việt Nam62.2. Một số hoạt động tôn giáo trong bối cảnh đại dịch Covid 1972.2.1. Tạm dừng hoạt động có đông tín đồ tham dự tại Quảng Ninh72.2.2. Thiết lập kênh liên lạc trao đổi tình hình dịch bệnh72.4. Nghiên cứu thay đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo8KẾT LUẬN9TÀI LIỆU THAM KHẢO10  PHẦN I: MỞ ĐẦUTính cấp thiết của đề tàiTôn giáo và tín ngưỡng là khái niệm mà hầu hết chúng ta đều biết tới nhưng rất khó để đưa ra được một định nghĩa toàn diện và mang tính phổ quát. Đây là một phạm trù vô cùng thú vị nhưng cũng hết sức phức tạp do các đặc tính trừu tượng của đối tượng này. Tôn giáo là những sản phẩm tinh thần đã được con người tạo ra từ buổi bình minh của lịch sử, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người và là một phần quan trọng trong nền văn minh nhân loại. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Tôn giáo dưới góc độ tiếp cận nhân học. Con người đã thực hành tôn giáo như thế nào trong bối cảnh đại dịch Covid19” vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa về thực tế.Lịch sử nghiên cứu, Trong lịch sử nghiên cứu tôn giáo từ góc độ Nhân học, các nhà nghiên cứu khó giữ được tính chủ thể một cách tương đối. Ví dụ, James Frazer, một nhà nghiên cứu về tín ngưỡng, ma thuật đầu thế kỉ XX, đã tự xa lánh khỏi những thần thoại mà ông kể lại trong công trình nổi tiếng Cành vàng: Nghiên cứu ma thuật và tôn giáo (Golden Bough: A Study in Magic and Religion). Ông bình luận rằng, “tôi nhìn vào thực hành ma thuật NTH không đơn thuần là sự sai lầm, mà thật là lố bịch và ngu ngốc” . Vào nửa đầu thế kỉ XX, nhà nhân học có uy tín là E. E. EvansPritchard, viết về phù thủy của người Azande ở Châu Phi: “Phù thủy, như người Azande nhận thức, là không thể tồn tại” . Một suy luận tương tự, các nhà nhân học người Azande có thể chế nhại lại các học giả Phương Tây, khi họ bắt đầu bằng một công trình dân tộc học về tôn giáo Phương Tây với tuyên bố: “Chúa, như những người Kitô nhận thức, không thể tồn tại”.Mục đích nghiên cứu, Qua những quan điểm học thuật từ góc độ nhân học tôn giáo và những diễn ngôn về vấn đề này ở Việt Nam từ trước đến nay, tác giả cho rằng khi bàn đến tôn giáo, chúng ta bị ảnh hưởng nặng nề từ những khái niệm của Phương Tây. Hậu quả là những loại hình tôn giáo của người Kinh cũng như của các dân tộc thiểu số bị giới hạn thực hành và bị áp đặt dẫn đến nhiều thực hành tôn giáo bị coi là lạc hậu, mê tín dị đoan, và thậm chí bị loại bỏ. Nếu tiếp cận tôn giáo không phải từ nguồn gốc thuật ngữ “tôn giáo” của Kitô giáo Phương Tây, mà từ quan điểm học thuật nói chung, của Nhân học nói riêng, chúng ta có lẽ có quan điểm cởi mở hơn khi nghiên cứu, nhìn nhận và đánh giá về vấn đề này ở Việt Nam. Tác giả muốn vận dụng quan điểm đó vào thực tiễn trong bối cảnh đại dịch Covid 19 hiện nay.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

Tính cấp thiết của đề tài 1

Lịch sử nghiên cứu, 1

Mục đích nghiên cứu, 1

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Phương pháp nghiên cứu, 2

Cấu trúc nội dung báo cáo vắn tắt 2

PHẦN II: NỘI DUNG 3

I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO DƯỚI GÓC ĐỘ TIẾP CẬN NHÂN HỌC 3

1.1 Phân tích tôn giáo dưới góc độ nhân học 3

1.2 Nguồn gốc của tôn giáo 4

1.2.1 Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo 4

1.2.2 Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo 4

1.2.3 Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: 4

1.3 Tính chất của tôn giáo 5

1.3.1 Tính lịch sử của tôn giáo: 5

1.3.2 Tính quần chúng của tôn giáo 5

1.3.3 Tính chính trị của tôn giáo 5

II THỰC TRẠNG THỰC HÀNH TÔN GIÁO TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH TẠI QUẢNG NINH 6

Trang 2

2.1 Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tới đời sống tôn giáo tại Việt Nam 6

2.2 Một số hoạt động tôn giáo trong bối cảnh đại dịch Covid 19 7

2.2.1 Tạm dừng hoạt động có đông tín đồ tham dự tại Quảng Ninh 7

2.2.2 Thiết lập kênh liên lạc trao đổi tình hình dịch bệnh 7

2.4 Nghiên cứu thay đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo 8

KẾT LUẬN 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo và tín ngưỡng là khái niệm mà hầu hết chúng ta đều biết tới nhưng rất khó để đưa ra được một định nghĩa toàn diện và mang tính phổ quát Đây là một phạm trù vô cùng thú vị nhưng cũng hết sức phức tạp do các đặc tính trừu tượng của đối tượng này Tôn giáo là những sản phẩm tinh thần đã được con người tạo ra từ buổi bình minh của lịch sử, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người và là một phần quan trọng trong nền văn minh nhân loại Do đó, việc nghiên

cứu đề tài “Tôn giáo dưới góc độ tiếp cận nhân học Con người đã thực hành tôn giáo như thế nào trong bối cảnh đại dịch Covid-19” vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý

nghĩa về thực tế

Lịch sử nghiên cứu,

Trong lịch sử nghiên cứu tôn giáo từ góc độ Nhân học, các nhà nghiên cứu khó giữ được tính chủ thể một cách tương đối Ví dụ, James Frazer, một nhà nghiên cứu về tín ngưỡng, ma thuật đầu thế kỉ XX, đã tự xa lánh khỏi những thần thoại mà ông kể lại trong công trình nổi tiếng Cành vàng: Nghiên cứu ma thuật và tôn giáo (Golden Bough: A Study in Magic and Religion) Ông bình luận rằng, “tôi nhìn vào [thực hành

ma thuật - NTH] không đơn thuần là sự sai lầm, mà thật là lố bịch và ngu ngốc”1 Vào nửa đầu thế kỉ XX, nhà nhân học có uy tín là E E Evans-Pritchard, viết về phù thủy của người Azande ở Châu Phi: “Phù thủy, như người Azande nhận thức, là không thể tồn tại” Một suy luận tương tự, các nhà nhân học người Azande có thể chế nhại lại các học giả Phương Tây, khi họ bắt đầu bằng một công trình dân tộc học về tôn giáo Phương Tây với tuyên bố: “Chúa, như những người Kitô nhận thức, không thể tồn tại”

Mục đích nghiên cứu,

Qua những quan điểm học thuật từ góc độ nhân học tôn giáo và những diễn ngôn về vấn đề này ở Việt Nam từ trước đến nay, tác giả cho rằng khi bàn đến tôn giáo, chúng ta bị ảnh hưởng nặng nề từ những khái niệm của Phương Tây Hậu quả là những loại hình tôn giáo của người Kinh cũng như của các dân tộc thiểu số bị giới hạn thực hành và bị áp đặt dẫn đến nhiều thực hành tôn giáo bị coi là lạc hậu, mê tín dị đoan, và thậm chí bị loại bỏ Nếu tiếp cận tôn giáo không phải từ nguồn gốc thuật ngữ

“tôn giáo” của Kitô giáo Phương Tây, mà từ quan điểm học thuật nói chung, của Nhân học nói riêng, chúng ta có lẽ có quan điểm cởi mở hơn khi nghiên cứu, nhìn nhận và

1 Frazer, James The Golden Bough: A Study in Magic and Religion (Cành vàng: Một nghiên cứu ma thuật và tôn giáo), London: Macmillan, 1958

Trang 4

đánh giá về vấn đề này ở Việt Nam Tác giả muốn vận dụng quan điểm đó vào thực tiễn trong bối cảnh đại dịch Covid -19 hiện nay

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để tránh những tranh luận về sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng, mà về điều này từ góc độ nghiên cứu nhân học là không cần thiết, tác giả áp dụng quan điểm

“tín ngưỡng thực ra là tôn giáo” mà Nguyễn Quốc Tuấn đã đưa ra trong bài viết “Bàn thêm về tín ngưỡng tôn giáo bản địa Việt Nam qua sự kiện ngày Quốc lễ giổ Tổ Hùng Vương” để vạn dụng thực tế bối cảnh dịch bệnh

Phương pháp nghiên cứu,

Bài viết này đề cập đến khái niệm tôn giáo từ góc độ Nhân học, nguồn gốc của thuật ngữ “tôn giáo”, ảnh hưởng của nó tới việc xác định, đánh giá các thực hành tôn giáo của Việt Nam và các dân tộc trên thế giới Thông qua tham khảo các tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Việt, tác giả muốn cung cấp một số thông tin về khái niệm tôn giáo của các nhà nhân học nhằm góp phần mở rộng những quan điểm học thuật về lĩnh vực này mà lâu nay trong các diễn ngôn về tôn giáo của những người làm công tác quản lí văn hóa, tôn giáo, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã và đang tranh luận Đồng thời nêu lên thực tế và một số giải pháp thực hành tôn giáo trong bối cảnh đại dịch

Cấu trúc nội dung báo cáo vắn tắt.

Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận và Tài Liệu Tham Khảo, đề tài gồm các nội dung sau:

I: Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Tôn Giáo Dưới Góc Độ Tiếp Cận Nhân Học

II Thực Trạng Thực Hành Tôn Giáo Trong Bối Cảnh Đại Dịch Tại Quảng Ninh

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO DƯỚI GÓC ĐỘ TIẾP

CẬN NHÂN HỌC 1.1 Phân tích tôn giáo dưới góc độ nhân học

Một khái niệm, định nghĩa chung nhất về tôn giáo mà chúng ta thường gặp là tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và ứng xử, dựa vào hệ thống biểu tượng Bên cạnh những định nghĩa về tôn giáo mà Nguyễn Quốc Tuấn đưa ra trong bài viết của mình(13) , tôi muốn cung cấp thêm một số những định nghĩa khác nhấn mạnh vào sự trải nghiệm cá nhân, tình cảm và khía cạnh văn hóa, xã hội của tôn giáo Một định nghĩa Nhân học sớm nhất về tôn giáo là hậu duệ trực tiếp của các định nghĩa thời đại Khai sáng ở Phương Tây của nhà triết học, nhà thơ thuộc trường phái siêu hình Edward Herbert (1582/3 - 1648) Có thể coi ông là người đầu tiên đưa ra một định nghĩa ‘tôn giáo tự nhiên’ “ý kiến chung về tôn giáo [theo huân tước Herbert] là: (1) có một vị Thần tối cao; (2) vị Thần đó phải được thờ cúng; (3) đức hạnh kết hợp với mộ đạo là phần chủ yếu của cúng thần; (4) con người phải ăn năn về tội lỗi của họ và từ bỏ chúng; (5) thưởng và phạt sau đó đến từ lòng tốt và công minh của Chúa, cả trong cuộc sống này lẫn sau đó Năm điều này chứa đựng toàn bộ học thuyết của Giáo hội Công giáo thực sự, có nghĩa là tôn giáo lí trí” (14)

Một trong những nhà nhân học đầu tiên, E B Tylor, cho rằng cái “tối thiểu” hoặc đơn giản nhất có thể của tôn giáo là “niềm tin vào đấng siêu nhân” (15) James Frazer thì lại định nghĩa, tôn giáo là “sự làm nguôi ngoai hay hòa giải những sức mạnh mạnh hơn con người mà những sức mạnh đó được tin là dẫn dắt và kiểm soát quá trình của tự nhiên và cuộc sống con người” (16) William James cho rằng, tôn giáo chính là

“những tình cảm, hành động và trải nghiệm của cá nhân con người trong cô đơn, tới chừng mực mà họ hiểu chính họ đại diện cho bất kể điều gì mà họ có thể cho là thánh thần” (17) Paul Radin làm sáng tỏ về khía cạnh tình cảm hơn, “Tôn giáo bao gồm hai phần: phần thứ nhất dễ định rõ, nếu không phải cụ thể chính xác là tình cảm; và phần thứ hai là một số hành động, tập quán, niềm tin và khái niệm liên quan đến tình cảm này Niềm tin gắn bó chặt chẽ nhất với tình cảm, cụ thể là niềm tin vào thần thánh ở bên ngoài con người, được nhận thức là có sức mạnh hơn con người và như vậy kiểm soát tất cả những yếu tố này trong cuộc sống và qua đó con người đặt niềm tin vào” (18)

Clifford Geertz đưa một định nghĩa được phổ biến rộng rãi nhất: tôn giáo là

“(1) một hệ thống biểu tượng hoạt động nhằm (2) thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp, và tồn tại lâu dài trong con người bằng cách (3) hình thành nên những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và (4) khoác lên những khái niệm

Trang 6

này bằng hào quang của sự thật mà (5) những tâm trạng và động cơ dường như là hiện thực duy nhất” (19) Trong khi đó, Otto Rank nghĩ rằng đó là trải nghiệm huyền bí của cái “thiêng” (20) ; Freud thì nghĩ đó là sự thể hiện của quá trình tâm lí vô thức(21) ; Lucien Lévy-Bruhl thì nghĩ đó là sản phẩm của “trí tuệ nguyên thủy” (22)

1.2 Nguồn gốc của tôn giáo

1.2.1 Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo

Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn cho

tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa nhứn sức mạnh đó Từ đó,

họ xây dựng nên những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng

Khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị Họ không giải thích được nguồn gốc của

sự phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội ác … tất cả họ quy về số phận và định mệnh Từ đó, họ đã thần thành hóa một số người thành những thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn giáo

Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng

về kinh tế, áp bức, bóc lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc sâu xa của

1.2.2 Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân mình còn có giới hạn Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa học chưa khám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo

Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào

ảo tưởng, thần thành hóa đối tượng

1.2.3 Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:

Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội mà dẫn đến việc ính ra tôn giáo Các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra tôn giáo” Lênin cũng cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản

… sự phá sản “đột ngột” “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong …, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại

Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được thể hiện qua tôn giáo

Trang 7

1.3 Tính chất của tôn giáo

1.3.1 Tính lịch sử của tôn giáo:

Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất định

Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo

Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn

1.3.2 Tính quần chúng của tôn giáo

Tôn giáo là nơi sinh hoặt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Hiện nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thế giới

Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bát ái … Bởi vì, tôn giáo thường

có tính nhân văn, nhân đạo hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội

1.3.3 Tính chính trị của tôn giáo

Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chi giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình

Trong nội bộ tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp

Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ

ở quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế Đó là sự xuất hiện các tổ chức quốc tế của tôn giáo với thế lực lớn đã tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, cần nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thõa mãn nhu cầu tinh thần; song trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng để thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ

Trang 8

II THỰC TRẠNG THỰC HÀNH TÔN GIÁO TRONG BỐI CẢNH ĐẠI

DỊCH TẠI QUẢNG NINH

Bên cạnh quyết tâm và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị thì việc phát huy tốt nguồn lực của mọi thành phần xã hội trong đó có các tổ chức tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 Trong bối cảnh hiện nay, điều này có ý nghĩa to lớn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đường hướng gắn bó đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo ở Việt Nam

Năm 2020 và 2021 diễn ra nhiều lễ trọng của các tôn giáo như: Lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Phục sinh của cộng đồng Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khơ-me; Tháng lễ Ramadan của cộng đồng Hồi giáo Islam và Ramưwan của cộng đồng Hồi giáo Bà Ni

2.1 Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tới đời sống tôn giáo tại Việt Nam

Đại dịch COVID-19 bùng phát đã tác động tới mọi mặt của đời sống con người, trong đó đời sống tôn giáo cũng không nằm trong ngoại lệ Đại dịch đã gây ra những mất mát về con người không chỉ của xã hội, mà tôn giáo cũng mất đi những nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, những tín đồ đã làm nên sự tồn tại và phát triển của các giáo hội Trong thời gian qua, thế giới đã chứng kiến những bài học “đau đớn” về sự lây lan của dịch bệnh COVID-19 ở những nơi tập trung đông người, nhất là hoạt động tôn giáo tại các cơ sở thờ tự

Ở Việt Nam, đại dịch đã làm thay đổi căn bản các hoạt động tôn giáo Trước đại dịch tín đồ thực hiện nhu cầu tôn giáo một cách thường xuyên ở phạm vi gia đình, cơ

sở tôn giáo Tín đồ được bày tỏ đức tin, được chức sắc, chức việc, nhà tu hành hướng dẫn thực hiện các nghi lễ tôn giáo, được thỏa mãn nhu cầu tâm linh Tín đồ đến cơ sở tôn giáo còn để giao lưu văn hóa, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, là nơi

mà mọi thông tin về cộng đồng làng, xã, đất nước được chia sẻ và tiếp nhận Tuy nhiên, trong đại dịch thì sự tập trung hàng trăm, hàng nghìn người tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo là một hiểm họa khôn lường nếu có tín đồ nhiễm bệnh Điều này không chỉ là bài học cho sự chủ quan trong công tác phòng chống dịch mà còn là lời nhắc nhở tới các tổ chức và cá nhân tôn giáo về dịch bệnh không phân biệt thành phần, tôn giáo nào trong xã hội Chỉ niềm tin tôn giáo là không đủ để phòng chống sự lây lan của bệnh dịch, mà cần sự quyết tâm hành động chung của toàn xã hội Chỉ khi ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo được nâng cao trong việc tuân thủ quy định phòng chống dịch thì dịch bệnh mới được đẩy lùi, các tổ chức tôn giáo mới giữ được chức sắc, tín đồ và đời sống tôn giáo mới thực sự hồi sinh

Trang 9

2.2 Một số hoạt động tôn giáo trong bối cảnh đại dịch Covid 19

2.2.1 Tạm dừng hoạt động có đông tín đồ tham dự tại Quảng Ninh

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho hay, do dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhiều tổ chức tôn giáo đã tạm dừng đại hội nhiệm kỳ, các hội nghị thường niên và các hoạt động tôn giáo có đông tín đồ tham dự; khuyến cáo tín đồ không tập trung đông người

Cạnh đó, không mời giáo sĩ nước ngoài vào Việt Nam, tạm dừng cử các đoàn đi hoạt động tôn giáo ở nước ngoài và hạn chế, không đón tiếp các đoàn tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam hoạt động

Đáng chú ý, theo Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, phần lớn tổ chức tôn giáo đã chấp hành, thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh; chỉ đạo, hướng dẫn, tuyên truyền các chức sắc, tín đồ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền địa phương, kêu gọi quyên góp ủng hộ “Quỹ Vaccine phòng, chống COVID -19”

Nhiều tổ chức, tín đồ tôn giáo tại Quảng Ninh đã tham gia đóng góp, ủng hộ tiền, hiện vật, trang thiết bị y tế; tích cực hỗ trợ người dân trong khu cách ly, phong tỏa tình nguyện tham gia công tác phòng, chống dịch, tại các bệnh viện dã chiến; cho mượn, trưng dụng nhiều cơ sở thờ tự cho cách ly, chăm sóc bệnh nhân mắc COVID -19

Tuy nhiên, tại một số địa phương còn có ổ dịch liên quan đến các cơ sở tôn giáo, các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung Một số chức sắc, tín đồ vẫn tổ chức hành lễ tập trung đông người, thậm chí có hành vi thách thức, phản đối chính quyền, vi phạm các quy định về phòng, chống dịch…

2.2.2 Thiết lập kênh liên lạc trao đổi tình hình dịch bệnh

Ở góc độ quản lý Nhà nước, để ứng phó dịch bệnh, Bộ Nội vụ (Ban Tôn giáo Chính phủ) đã ban hành nhiều văn bản gửi UBND các tỉnh, TP và tổ chức tôn giáo về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID -19 trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Ban Tôn giáo Chính phủ đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn phòng, chống dịch COVID -19 cho tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người theo tín ngưỡng, tôn giáo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID -19 và Bộ Nội vụ; tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch COVID -19 của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, địa điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung

Trang 10

Cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo các cấp đã thiết lập kênh liên lạc trực tiếp, trực tuyến với lãnh đạo giáo hội các tôn giáo để trao đổi, cung cấp thông tin về tình hình dịch bệnh, thực hiện giãn cách xã hội Trong từng thời điểm nhất định, yêu cầu dừng triệt để hoặc hạn chế các hoạt động tôn giáo để bảo đảm công tác phòng, chống dịch

Bộ Nội vụ cũng thành lập tổ công tác tăng cường lực lượng vào tỉnh Quảng Ninh để đồng hành cùng các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc trong việc hướng dẫn các tổ chức tôn giáo tuyên truyền, vận động tín đồ tích cực thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và phong trào thi đua do Thủ tướng phát động

2.4 Nghiên cứu thay đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo

Căn cứ vào tác động của dịch COVID -19 trên các lĩnh vực, ý kiến đề xuất của các bộ, ngành có liên quan và các đoàn đại biểu Quốc hội, Đảng Đoàn Quốc hội đã có một số đề nghị cụ thể với Ban Cán sự Đảng Chính phủ

Trong đó, đề nghị tiếp tục tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các biện pháp để kiểm soát tốt tình hình dịch COVID -19, xem đây là giải pháp cốt lõi nhất để phục hồi kinh tế - xã hội, giảm thiểu các tác động tiêu cực do COVID -19 gây ra

Riêng lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng Đoàn Quốc hội đề nghị Ban Cán sự Đảng Chính phủ đề nghị các bộ, ngành, địa phương tăng cường hướng dẫn, quản lý việc thành lập, đăng ký, hoạt động sinh hoạt tôn giáo; tuyên truyền, vận động các tổ chức, tín đồ, chức sắc, chức việc tôn giáo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, phòng, chống dịch bệnh

Nghiên cứu, hướng dẫn các tổ chức tôn giáo ứng dụng công nghệ thông tin để thay đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo trực tiếp sang trực tuyến, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh cho các tín đồ; đồng thời có biện pháp quản lý việc sinh hoạt tôn giáo trên môi trường internet

Kịp thời có hình thức động viên, biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng gương mẫu, tiêu biểu trong công tác phòng, chống dịch bệnh COVID -19

Ngoài ra, chỉ đạo các cấp, ngành quan tâm và thường xuyên gặp gỡ (bằng hình thức phù hợp trong điều kiện dịch bệnh), động viên chức sắc, người đứng đầu các cơ

sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh nhằm tạo sự đồng thuận trong triển khai thực hiện các

Ngày đăng: 17/01/2023, 17:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w