1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong triết học mác lênin và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam

22 29 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật Thống nhất Và Đấu Tranh Của Các Mặt Đối Lập Trong Triết Học Mác Lênin Và Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A, TS. Trần Thị B
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 37,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN 2 1 1 Các nhân tố chính 2 1 1 1 Các mặt đối lập. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN21.1. Các nhân tố chính21.1.1. Các mặt đối lập21.1.2. Mâu thuẫn biện chứng21.1.3. Sự thống nhất31.1.4. Sự đấu tranh41.2. Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập41.2.1. Thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa41.2.2. Sự phát triển51.2.3. Giai đoạn giải quyết mâu thuẫn, biểu hiện: sự chuyển hóa của các mặt đối lập, mâu thuẫn được giải quyết.61.2.4. Tính chất6II. Ý NGHĨA QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM72.1. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá đổi mới ở Việt Nam.72.1.1. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa72.1.2. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN82.1.3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.92.1.4. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX)102.2. Một số giải pháp vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nhằm nâng cao hiệu quả quá trình đổi mới Việt Nam152.2.1. Đối với đổi mới kinh tế152.2.2. Đối với ổn định chính trị16KẾT LUẬN18TÀI LIỆU THAM KHẢO19  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUDưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lênin, cách mạng Việt Nam đã và đang thực hiện bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Con đường ấy đòi hỏi cần phải nắm vững biện chứng sự vận động, phát triển của các mâu thuẫn trong xã hội, thông qua đó, giải quyết một cách đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đi đến thắng lợi.V. I. Lênin tiếp tục phát triển lý luận mâu thuẫn khi chỉ rõ sự phát triển xã hội trong thời đại đế quốc chủ nghĩa nổi lên hai hình thức mâu thuẫn cơ bản. Hình thức thứ nhất là các mâu thuẫn đối kháng, điển hình là mâu thuẫn của các giai cấp cơ bản trong xã hội có giai cấp, giữa một bên bảo thủ, phản động với một bên tiến bộ, cách mạng; giữa tư bản với lao động, chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc bị áp bức. Giải quyết mâu thuẫn này chỉ có thể thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội. Hình thức thứ hai là các mâu thuẫn không đối kháng, tiêu biểu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp nông dân và các tầng lớp nghèo khổ khác... Do đó, việc nghiên cứu đề tài “ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong triết học Mác Lênin và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” vừa có ý nghĩa lý luận lẫn thực tiễn. PHẦN II: NỘI DUNGI. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN1.1. Các nhân tố chính1.1.1. Các mặt đối lậpMặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong thế giới. Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau. Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có sự đồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền. Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập.1.1.2. Mâu thuẫn biện chứngCác mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau theo hướng trái ngược nhau, xung đột lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức. Mâu thuẫn biện chứng không phải là ngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong lôgic hình thức. Mâu thuẫn trong lôgich hình thức là sai lầm trong tư duy.Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng sự mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt cựu sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng sự mâu thuẫn... sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác. Như vậy sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến. Cũng như chúng ta đã nhận thấy rằng trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn, chăng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người và sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta trên thực tiễn cũng là vô tận và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận1.1.3. Sự thống nhấtHai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự đồng nhất của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm cả sự đồng nhất của các mặt đó. Engels đã đưa ra ví dụ:“ Giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập, với tính cách như vậy chúng hợp thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất, chế độ tư hữu với tư cách là sự giàu có buộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả sự tồn tại của mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản ”— EngelsDo có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.1.1.4. Sự đấu tranhCác mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn đấu tranh với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN 2

1.1 Các nhân tố chính 2

1.1.1 Các mặt đối lập 2

1.1.2 Mâu thuẫn biện chứng 2

1.1.3 Sự thống nhất 3

1.1.4 Sự đấu tranh 4

1.2 Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 4

1.2.1 Thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa 4

1.2.2 Sự phát triển 5

1.2.3 Giai đoạn giải quyết mâu thuẫn, biểu hiện: sự chuyển hóa của các mặt đối lập, mâu thuẫn được giải quyết 6

1.2.4 Tính chất 6

II Ý NGHĨA QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 7

2.1 Những mâu thuẫn phát sinh trong quá đổi mới ở Việt Nam 7

2.1.1 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa 7

Trang 2

2.1.2 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng

XHCN 8

2.1.3 Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 9

2.1.4 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX) 10

2.2 Một số giải pháp vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nhằm nâng cao hiệu quả quá trình đổi mới Việt Nam 15

2.2.1 Đối với đổi mới kinh tế 15

2.2.2 Đối với ổn định chính trị 16

KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cách mạng Việt Nam đã vàđang thực hiện bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội - con đường quá độ bỏqua chế độ tư bản chủ nghĩa Con đường ấy đòi hỏi cần phải nắm vững biệnchứng sự vận động, phát triển của các mâu thuẫn trong xã hội, thông qua đó,giải quyết một cách đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp cáchmạng ở Việt Nam đi đến thắng lợi

V I Lê-nin tiếp tục phát triển lý luận mâu thuẫn khi chỉ rõ sự phát triển

xã hội trong thời đại đế quốc chủ nghĩa nổi lên hai hình thức mâu thuẫn cơbản Hình thức thứ nhất là các mâu thuẫn đối kháng, điển hình là mâu thuẫncủa các giai cấp cơ bản trong xã hội có giai cấp, giữa một bên bảo thủ, phảnđộng với một bên tiến bộ, cách mạng; giữa tư bản với lao động, chủ nghĩa đếquốc với các dân tộc bị áp bức Giải quyết mâu thuẫn này chỉ có thể thôngqua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội Hình thức thứ hai làcác mâu thuẫn không đối kháng, tiêu biểu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sảnvới giai cấp nông dân và các tầng lớp nghèo khổ khác

Do đó, việc nghiên cứu đề tài “ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa của nó đối với

sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” vừa có ý nghĩa lý luận lẫn thực tiễn.

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT

VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT

HỌC MÁC- LÊNIN 1.1 Các nhân tố chính

1.1.1 Các mặt đối lập

Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, nhữngtính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cáchkhách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tồn tại các mặt đối lập làkhách quan và là phổ biến trong thế giới Theo triết học duy vật biện chứngcủa Engels thì tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng nhữngmặt trái ngược nhau Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân haytrong sinh vật thì có sự đồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung

và cầu, hàng và tiền Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứngduy vật gọi là mặt đối lập

1.1.2 Mâu thuẫn biện chứng

Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau theohướng trái ngược nhau, xung đột lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng.Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì mâu thuẫn biện chứng tồntại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâuthuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và lànguồn gốc phát triển của nhận thức Mâu thuẫn biện chứng không phải làngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong lôgic hình thức.Mâu thuẫn trong lôgich hình thức là sai lầm trong tư duy

Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng sựmâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất vàđặc biệt cựu sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng

Trang 5

phải chứa đựng sự mâu thuẫn sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vậttrong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác Như vậy sự sống cũng làmột mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, mâu thuẫnthường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sựsống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến Cũng như chúng ta đã nhậnthấy rằng trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn,chăng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của conngười và sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những người bị hạn chế bởihoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức, - mâuthuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít rađối với chúng ta trên thực tiễn cũng là vô tận- và được giải quyết trong sự vậnđộng đi lên vô tận

1.1.3 Sự thống nhất

Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thốngnhất với nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau,tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phảilấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Các mặt đối lập tồn tại không tách rờinhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân

tố giống nhau đó gọi là sự "đồng nhất" của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó,"

sự thống nhất của các mặt đối lập" còn bao hàm cả sự " đồng nhất" của cácmặt đó Engels đã đưa ra ví dụ:

“ Giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập, với tính cách như vậychúng hợp thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất, chế độ tư hữu với tưcách là sự giàu có buộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả sự tồn tại của mặt đốilập của nó là giai cấp vô sản ”— Engels

Do có sự "đồng nhất" của các mặt đối lập mà trong sự triển khai củamâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau

Trang 6

Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau củachúng Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn pháttriển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.

1.1.4 Sự đấu tranh

Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn "đấu tranh" vớinhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bàitrừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặtđối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệqua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranhgiữa chúng

1.2 Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynhhướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó, sự thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làmcho cái cũ mất đi cái mới ra đời

1.2.1 Thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa

Sự thống nhất: Sự thống nhất của các mặt đối lập: Là sự ràng buộc, phụthuộc, quy định lẫn nhau, đòi hỏi có nhau, nương tựa vào nhau của các mặtđối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình Là sự đồng nhất củacác mặt đối lập; là sự tác động ngang nhau của các mặt đối lập

Đấu tranh: Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bàitrừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Sự đấu tranh của các mặt đối lập

có thể được biểu hiện ở sự ảnh hưởng lẫn nhau hoặc dùng bạo lực để thủ tiêulẫn nhau giữa các mặt đối lập,

Mối quan hệ: Mối quan hệ giũa sự thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập thể hiện ở chỗ trong một mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập không tách rời nhau, bởi vì trong sự ràng buộc, phụ thuộc quy

Trang 7

định lẫn nhau thì hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngượcnhau, đấu tranh với nhau Không có sự thống nhất sẽ không có đấu tranh,thống nhất là tiền đề của đấu tranh, còn đấu tranh của các mặt đối lập lànguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển.

Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là tất yếu, là kết quả của sự đấutranh của các mặt đối lập Do sự đa dạng của thế giới nên hình thức chuyểnhóa cũng rất đa dạng: có thể hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau, cũng có thể

cả hai chuyển thành những chất mới Sự chuyển hóa của các mặt đối lập phải

có những điều kiện nhất định

1.2.2 Sự phát triển

Phát triển là sự đấu tranh của các mặt đối lập: Sự phát triển của sự vật,hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâuthuẫn Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác độngkhác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy, mâu thuẫn biệnchứng cũng bao hàm cả "sự thống nhất" lẫn "đấu tranh" của các mặt đối lập

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quátrình vận động, phát triển của sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im,với sự ổn định tạm thời của sự vật

Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển.Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời;

sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Việc hình thành, phát triển vàgiải quyết mâu thuẫn là một quá trình đấu tranh rất phức tạp, trải qua nhiềugiai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng của nó:

Giai đoạn hình thành mâu thuẫn, biểu hiện: đồng nhất nhưng bao hàm

sự khác nhau; khác nhau bề ngoài, khác nhau bản chất, mâu thuẫn được hìnhthành

Trang 8

Giai đoạn phát triển của mâu thuẫn, biểu hiện: các mặt đối lập xung độtvới nhau; các mặt đối lập xung đột gay gắt với nhau.

1.2.3 Giai đoạn giải quyết mâu thuẫn, biểu hiện: sự chuyển hóa của các mặt đối lập, mâu thuẫn được giải quyết.

Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặtđối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động vàlàm cho mâu thuẫn phát triển Lúc đầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫnchỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau Sựkhác nhau đó càng ngày càng phát triển đi đến đối lập Khi hai mặt đối lậpxung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫnđược giải quyết Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhấtmới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế

Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không cóđấu tranh giữa chúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là khôngthể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Sự vận động và phát triển baogiờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Sự thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sựvật Khi mâu thuẫn đã được giải quyết thì sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đờilại bao hàm mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mới lại được triển khai, phát triển vàlại được giải quyết làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ

Do vậy, chính sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn đến sự chuyển hóa củacác mặt đối lập (giải quyết mâu thuẫn) là nguồn gốc, động lực của sự vậnđộng, phát triển Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lậpkhông chuyển hóa) thì không có sự phát triển

1.2.4 Tính chất

Mâu thuẫn là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau của các mặt đối lậpbên trong một sự vật, một hiện tượng Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và

Trang 9

phổ biến Mâu thuẫn có tính chất khách quan vì nó là cái vốn có trong sự vật,hiện tượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn có tínhphổ biến vì nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi giai đoạn, mọiquá trình, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

Vì mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến nên mâu thuẫn rất đadạng và phức tạp Trong các sự vật, hiện tượng khác nhau thì tồn tại nhữngmâu thuẫn khác nhau, trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng cũng chứa đựngnhiều mâu thuẫn khác nhau, trong mỗi giai đoạn, mỗi quá trình cũng có nhiềumâu thuẫn khác nhau Mỗi mâu thuẫn có vị trí, vai trò và đặc điểm khác nhauđối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

II Ý NGHĨA QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở

VIỆT NAM 2.1 Những mâu thuẫn phát sinh trong quá đổi mới ở Việt Nam.

2.1.1 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường<KTTT> là một loại hình kinh tế mà trong đó cácmối quan hệ kinh tế giữa con người với con người được biểu hiện thông quathị trường, tức là thông qua việc mua- bán, trao đổi hàng hóa- tiền tệ Trongkinh tế thị trường, các quan hệ hàng hóa- tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quáttrờn nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng

Do nảy sinh và hoạt động một cách khách quan trong những điều kiện lịch sửnhất định, kinh tế thị trường phản ánh trình đọ văn minh, và sự phát triển của

xã hội, là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hộitiến lờn Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặcbiệt là tính tự phát mù quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản,thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ, ô nhiễm môi trường…

Trang 10

Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường và mục tiêu xâydựng con người XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước tahiện nay Đây chính là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội Giữa kinh tếthị trường và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sựđấu tranh kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng, phát huynguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố đầu độc, hủy hoại con người.

Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không đơn giản.Đối với nước ta, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng conngười được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhànước theo định hướng XHCN

2.1.2 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN

Về chế độ kinh tế, trải qua một số năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đómang bản chất mới, chứa đựng những động lực phát triển bên trong từ nhữngkhả năng vốn có của chế độ sở hữu đa dạng Nhờ chuyển sang kinh tế thịtrường, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, bước đầu niềmtin vào CNXH của người dân được củng cố Trong lòng dân, CNXH khôngchỉ là những triết tự lý thuyết trừu tượng mà gắn liền với những vấn đề cụ thểcủa đời thường tiến về phía trước phù hợp với cách nghĩ, cách làm của hàngtriệu quần chúng Vì vậy, càng đổi mới kinh tế càng gần với CNXH hơn

“Định hướng XHCN” cũng thể hiện ở quan hệ phân phối: phân phốicụng bằng sẽ tạo động lực cho sự phát triển Trong kinh tế thị trường, chúng

ta chủ trương phân phối theo lao động, theo vốn trên cơ sở khuyến khích mọingười tự do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, đồng thời thực hiệnchính sách cụng bằng xã hội Chế độ XHCN là chế độ của con người, do conngười, vỡ con người do đó chúng ta chủ trương chống bóc lột, bất công, chăm

lo sự nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho nền đạo đức mới, một lối sống lànhmạnh

Trang 11

Khả năng định hướng trước hết phụ thuộc vào yếu tố chính trị- sự lãnhđạo của Đảng, sự cân nhắc chọn lựa từ những yếu tố dân tộc, thời đại MộtĐảng có đủ bản lĩnh mới vỡ CNXH, vỡ hạnh phỳc của nhân dân, có trớ tuệ,

có khả năng hình thành một hệ thống tri thức khoa học và cụng nghệ chính trịthích hợp, có sức hỳt đối với các lực lượng kinh tế khác, có năng lực tổ chứcthực tiễn Thực tiễn lãnh đạo cách mạng cũng như công cuộc đổi mới kinh tế

ở Việt Nam chứng tỏ không có một Đảng nào ngoài ĐCS Việt Nam làm đượcđiều đó Chính công cuộc đổi mới đó củng cố thờm niềm tin của nhân dân vềvai trò lãnh đạo của Đảng, về con đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đó lựachọn

2.1.3 Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.

Trong điều kiện cơ chế thị trường, mỗi con người cụ thể có những nhucầu riêng, không ai giống ai, có thể phù hợp hay không phù hợp, phát triểnkhông theo hướng tích cực mà theo hướng tiêu cực, hướng chủ nghĩa cá nhân

Từ đó xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xá hội Việc giảiquyết hài hòa mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có vai trò và ýnghĩa to lớn Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh sailầm khi thấy sự thống nhất mà không thấy sự khác biệt giữa các mặt lợi íchhoặc chỉ thấy sự khác biệt mà không thấy sự thống nhất giữa chúng Sự pháttriển xã hội và lịch sử núi chung chỉ có thể diễn ra bình thường, lành mạnh, điđúng quy luật, khi mỗi cá nhân nhận thức tự giác về mối quan hệ cá nhận- xãhội xột trờn phương diện lợi ích

Trong các loại lợi ích, lợi ích riêng của cá nhân có vai trò to lớn, vỡ núđáng ứng nhu cầu hưởng thụ chính đáng của con người Lợi ích cá nhân mangtính chất trực tiếp, cụ thể cũng lợi ích chung của tập thể, xã hội mang tínhgiỏn tiếp Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, mỗi cá nhân bao giờ cũng hànhđộng vỡ lợi ích của bản thân mình Chính Vì vậy lợi ích cá nhân đóng vai trò

Ngày đăng: 17/01/2023, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w