NỘI DUNG ÔN TẬP THI ĐẦU VÀO CAO HỌC MÔN TRIẾT KHÔNG CHUYÊN NĂM 2022 _____________ Câu 1: Phân tích định nghĩa VẬT CHẤT của Lênin? Ý nghĩa của nó? 1. Quan điểm của các nhà duy vật trước Marx về vật chất: Vật chất với tính cách là phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp ở thời kỳ cổ đại. Ngay từ lúc mới xuất hiện, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Cùng với sự phát triển của tri thức loài người, đến nay nội dung của phạm trù vật chất đã biến đổi sâu sắc. Thời cổ đại: Nhìn chung các nhà triết học duy vật cổ đại quy vật chất về một hay vài dạng cụ thể của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới Ví dụ: Ở Hy Lạp, La Mã cổ đại: có người quy vật chất về nước (Talét), lửa (Hêraclít), không khí (Anaximen), nguyên tử (Đêmôcrit), đất… Ở Trung Quốc cổ đại: có người quy vật chất về ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Ở Ấn Độ: có người quy vật chất về tứ đại: đất, nước, lửa, gió. CNDV thế kỷ XVIIXVIII: quy vật chất về nguyên tử, quy vật chất về khối lượng,¬¬¬¬¬¬¬¬ quy vật chất về vật cụ thể. 2. Quan điểm vật chất của MácĂngghen: MácĂngghen đã phân biệt được vật chất với những dạng cụ thể của nó, đồng thời đã chỉ ra được: + Tính vô tận, vô hạn của vật chất; + Tính không thể sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được của vật chất; + Tính thống nhất của thế giới vật chất là tính vật chất của nó; + Các hình thức, phương thức tồn tại của vật chất, đó là không gian, thời gian, vận động. + Tuy nhiên, MácĂngghen chưa đưa ra định nghĩa về vật chất. 3. Quan điểm của Lênin về vật chất: a) Cơ sở của Lênin để đưa ra định nghĩa về vật chất: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhân loại xuất hiện một loạt các phát minh khoa học, đặc biệt là trong khoa học tự nhiên. Điển hình là: . Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X . Năm 1896, Becơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ . Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử Từ những phát hiện đó đã làm xuất hiện cuộc khủng hoảng vật lý học. Từ đó, Lênin đã nghiên cứu các thành tựu của khoa học vật lý và cuối cùng ông kết luận điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, giới tự nhiên là vô tận. b) Định nghĩa VẬT CHẤT của Lênin: Định nghĩa phạm trù vật chất của V.I. Lênin được diễn đạt như sau: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin: + Trong định nghĩa này, Lênin đã chỉ rõ: vật chất là một phạm trù triết học. Tức là, Lênin đã phân biệt phạm trù vật chất trong triết học với khái niệm vật chất trong một số ngành khoa học thông thường hay trong đời sống thường ngày. Vật chất trong triết học là vô hạn, nó không được sinh ra, không bị mất đi mà luôn luôn vận động và biến đổi từ dạng này sang dạng khác. + Vật chất chính là thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác của con người. Đây là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của vật chất, nó giúp chúng ta có thể phân biệt cái gì thuộc về vật chất, cái gì không thuộc về vật chất. + Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh. Điều này nói lên rằng, thực tại khác quan (vật chất) là có trước, cảm giác con người là có sau. Cảm giác của con người chỉ có thể chép lại, chụp lại phản ánh thực tại khách quan (vật chất). Như vậy, thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng, lửng lơ mà bằng cách này hay cách khác nó tác động lên cảm giác của con người và được cơ quan này nhận biết. Tóm lại, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau: 1 Vật chất cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức. 2 Vật chất cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp) tác động lên giác quan con người. 3 Vật chất cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó. Vậy là định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng. c) Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin: Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết trọn vẹn vấn đề cơ bản của triết học: Thực tại khách quan (vật chất) là cái có trước, cảm giác ý thức là cái có sau và nội dung của nó được quy định bởi thực tại khách quan, chúng ta có thể nhận thức được thế giới, từ đó chống lại quan điểm bất khả chi, chủ nghĩa duy tâm. Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất, đồng thời kế thừa, phát triển được những tư tưởng của Mác và Ăngghen về vật chất. Định nghĩa vật chất của Lênin góp phận xác nhận, chứng minh tính triệt để của CNDV mácxit, và từ định nghĩa này có thể xác định được được đâu là vật chất dưới dạng xã hội mà các nhà tư tưởng trước Mác không phát hiện ra. Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, có ý nghĩa định hướng đối với các nhà khoa học trong việc tìm kiếm những dạng hoặc những hình thức mới của vật chất trong thế giới.
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP THI ĐẦU VÀO CAO HỌC MÔN TRIẾT
KHÔNG CHUYÊN NĂM 2022
_
Câu 1: Phân tích định nghĩa VẬT CHẤT của Lênin? Ý nghĩa của nó?
1 Quan điểm của các nhà duy vật trước Marx về vật chất:
Vật chất với tính cách là phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp ở thờikỳ cổ đại Ngay từ lúc mới xuất hiện, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộcđấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Cùng với sự phát triển của tri thức loài người, đến nay nội dung của phạm trù vậtchất đã biến đổi sâu sắc
- Thời cổ đại: Nhìn chung các nhà triết học duy vật cổ đại quy vật chất về một
hay vài dạng cụ thể của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới
Ví dụ: Ở Hy Lạp, La Mã cổ đại: có người quy vật chất về nước (Talét),
lửa (Hêraclít), không khí (Anaximen), nguyên tử (Đêmôcrit), đất…
Ở Trung Quốc cổ đại: có người quy vật chất về ngũ hành: kim, mộc, thuỷ,
hoả, thổ
Ở Ấn Độ: có người quy vật chất về tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
- CNDV thế kỷ XVII-XVIII: quy vật chất về nguyên tử, quy vật chất về khối
lượng, quy vật chất về vật cụ thể.
2 Quan điểm vật chất của Mác-Ăngghen:
- Mác-Ăngghen đã phân biệt được vật chất với những dạng cụ thể của nó,đồng thời đã chỉ ra được:
+ Tính vô tận, vô hạn của vật chất;
+ Tính không thể sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được của vật chất;
+ Tính thống nhất của thế giới vật chất là tính vật chất của nó;
+ Các hình thức, phương thức tồn tại của vật chất, đó là "không gian, thờigian, vận động"
+ Tuy nhiên, Mác-Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa về vật chất
3 Quan điểm của Lênin về vật chất:
a) Cơ sở của Lênin để đưa ra định nghĩa về vật chất:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhân loại xuất hiện một loạt các phát minhkhoa học, đặc biệt là trong khoa học tự nhiên Điển hình là:
Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X
Năm 1896, Becơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ
Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử
Từ những phát hiện đó đã làm xuất hiện "cuộc khủng hoảng vật lý học" Từđó, Lênin đã nghiên cứu các thành tựu của khoa học vật lý và cuối cùng ông kết
luận điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, giới tự nhiên là vô tận.
Trang 2b) Định nghĩa VẬT CHẤT của Lênin:
Định nghĩa phạm trù vật chất của V.I Lênin được diễn đạt như sau: "Vật chất
là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác."
- Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin:
+ Trong định nghĩa này, Lênin đã chỉ rõ: "vật chất là một phạm trù triết học".
Tức là, Lênin đã phân biệt phạm trù vật chất trong triết học với khái niệm vật chấttrong một số ngành khoa học thông thường hay trong đời sống thường ngày
Vật chất trong triết học là vô hạn, nó không được sinh ra, không bị mất đi mà luônluôn vận động và biến đổi từ dạng này sang dạng khác
+ Vật chất chính là "thực tại khách quan" và "tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác của con người" Đây là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của
vật chất, nó giúp chúng ta có thể phân biệt cái gì thuộc về vật chất, cái gì khôngthuộc về vật chất
+ "Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được
cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh" Điều này nói lên rằng, thực
tại khác quan (vật chất) là có trước, cảm giác con người là có sau Cảm giác của conngười chỉ có thể "chép lại, chụp lại phản ánh" thực tại khách quan (vật chất)
Như vậy, thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng, lửng lơ màbằng cách này hay cách khác nó tác động lên cảm giác của con người và được cơquan này nhận biết
Tóm lại, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:1- Vật chất- cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức.2- Vật chất- cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hoặcgián tiếp) tác động lên giác quan con người
3- Vật chất- cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó
Vậy là định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề
cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng
c) Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin:
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết trọn vẹn vấn đề cơ bản của triếthọc: Thực tại khách quan (vật chất) là cái có trước, cảm giác ý thức là cái có sau vànội dung của nó được quy định bởi thực tại khách quan, chúng ta có thể nhận thứcđược thế giới, từ đó chống lại quan điểm bất khả chi, chủ nghĩa duy tâm
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được những thiếu sót của chủnghĩa duy vật trước Mác về vật chất, đồng thời kế thừa, phát triển được những tưtưởng của Mác và Ăngghen về vật chất
- Định nghĩa vật chất của Lênin góp phận xác nhận, chứng minh tính triệt để
của CNDV mácxit, và từ định nghĩa này có thể xác định được được đâu là vật
chất dưới dạng xã hội mà các nhà tư tưởng trước Mác không phát hiện ra.
Trang 3- Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học, phương pháp
luận đúng đắn, có ý nghĩa định hướng đối với các nhà khoa học trong việc tìm
kiếm những dạng hoặc những hình thức mới của vật chất trong thế giới.
Câu 2: Nguồn gốc, bản chất của ý thức, ý nghĩa phương pháp luận?
+ Khái niệm ý thức: "Ý thức là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phản ánh
thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Hay nói theo cách của K.Marx thì ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến
đi ở trong đó".
1 Nguồn gốc của ý thức: Ý thức của con người có 02 nguồn gốc: tự nhiên và
xã hội
a) Nguồn gốc tự nhiên: gồm 02 yếu tố: bộ óc của con người và có sự tác động
của thế giới xung quanh lên bộ óc của con người để bộ óc của con người phản ánh
Tóm lại, não người và sự phản ánh thế giới khách quan vào não người chính
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
b) Nguồn gốc xã hội:
Để ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, khôngthể thiếu được, song chưa đủ
Lao động và ngôn ngữ là hai nguồn gốc xã hội, quyết định trực tiếp đến sự
hình thành và phát triển của ý thức
- Chính lao động đã giúp chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác Lao động giúp con người cải tạo, chinh phục thế giới và hoàn thiện chính mình Thông qua lao động, bộ não người ngày càng hoàn
thiện, phát triển
- Chính lao động là cơ sở hình thành phát triển ngôn ngữ (tiếng nói và chữ
viết) Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy, không
có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức, ngôn ngữ giúp con người phản ánh sựvật khái quát hơn Nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người đượctruyền từ người này cho người kia, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, lao động và ngôn ngữ là hai nguyên nhân quyết định để biến bộ não vượn thành não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.
Tóm lại, nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức có mối liên hệ mật thiết với
nhau, không tách rời nhau và không thể thiếu bất cứ một yếu tố nào.
2 Bản chất của ý thức:
- Bản chất của ý thức suy cho cùng là sự phản ánh thế giới bên ngoài là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nó được thể hiện ở 02 khía cạnh:
+ Về hình thức là tồn tại trong đầu óc con người
+ Cùng một hình ảnh nhưng trong mỗi đầu óc con người có sắc thái khác nhau
- Ý thức không phản ánh thế giới khách quan một cách nguyên si, máy móc,
thụ động mà ý thức phản ánh thế giới khách quan một cách chủ động, năng động,
Trang 4tích cực và sáng tạo Tính sáng tạo của ý thức vô cùng phong phú, đa dạng, nhưng không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất
Ví dụ: Muốn xây ngôi nhà thì trước đó chúng ta đã có một mô hình về ngôinhà trong đầu mà chúng ta định xây Mô hình về ngôi nhà mà chúng ta định xây làsự tổng hợp của một hoặc nhiều ngôi nhà mà chúng ta đã nhìn thấy và chọn lọctrước đó
- Ý thức là sự phản ánh luôn mang tính xã hội Bởi vì, ý thức không phải là một
hiện tượng tự nhiên thần bí mà ngay từ đầu nó đã là một sản phẩm của xã hội bắt nguồntừ thực tiễn của lịch sử xã hội và phản ánh quan hệ xã hội
Ví dụ: Câu chuyện về cậu bé rừng xanh
- Phát huy tính năng động, sáo tạo của ý thức, phát huy vai trò của con ngườitrong việc cải taọ thế giới, đồng thời khắc phục bệnh trì trệ bảo thủ, thái độ tiêu cựcthụ động, ỷ lại ngồi chờ trong quá trình đổi mới hội nhập hiện nay
- Sức mạnh của ý thức không phải ở chỗ tách rời vật chất, hiện thực kháchquan mà dựa vào tiền đề vật chất nhất định, phản ánh đúng hiện thực từ đó chủđộng cải tạo thế giới bên ngoài
- Con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan bao nhiêuthì càng cải tạo nó hiệu quả bấy nhiêu
Câu 3: Mối quan hệ biện chứng giữa VẬT CHẤT và Ý THỨC:
Theo Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học
hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại".
Vấn đề mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại hay ý thức với vật chất được gọi làvấn đề cơ bản của triết học Giải quyết được vấn đề này là cơ sở để giải quyết cácvấn đề triết học khác
1 Các khái niệm vật chất và ý thức:
* Khái nhiệm vật chất: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực
tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác."
- Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin:
+ Trong định nghĩa này, Lênin đã chỉ rõ: "vật chất là một phạm trù triết học".
Tức là, Lênin đã phân biệt phạm trù vật chất trong triết học với khái niệm vật chấttrong một số ngành khoa học thông thường hay trong đời sống thường ngày
Vật chất trong triết học là vô hạn, nó không được sinh ra, không bị mất đi mà luônluôn vận động và biến đổi từ dạng này sang dạng khác
Trang 5+ Vật chất chính là "thực tại khách quan" và "tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác của con người" Đây là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của
vật chất, nó giúp chúng ta có thể phân biệt cái gì thuộc về vật chất, cái gì khôngthuộc về vật chất
+ "Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được
cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh" Điều này nói lên rằng, thực
tại khác quan (vật chất) là có trước, cảm giác con người là có sau Cảm giác của conngười chỉ có thể "chép lại, chụp lại phản ánh" thực tại khách quan (vật chất)
Như vậy, thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng, lửng lơ màbằng cách này hay cách khác nó tác động lên cảm giác của con người và được cơquan này nhận biết
* Khái niệm ý thức: "Ý thức là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phản ánh
thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Hay nói theo cách của K.Marx thì ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến
đi ở trong đó".
- Phân tích khái niệm ý thức:
+ Ý thức là thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi vật chất mà chỉlà thuộc tính vật chất sống đặc biệt có tổ chức cao đó là bộ óc con người
+ Ý thức suy cho cùng là sự phản ánh thế giới bên ngoài nhưng sự phản ánhcủa ý thức là sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo và sự phản ánh này là mangtính xã hội
2 Mối quan hệ VC-YT:
- VC – YT là mối quan hệ mật thiết với nhau, có VC không có YT (thế giới vôcơ) nhưng không thể có ý thức tách rời khỏi VC
- VC quyết định YT, nó thể hiện:
- Ý thức có tính độc lập tương đối của nó, nó có thể thay đổi nhanh, chậmnhưng thường thì thay đổi chậm so với thế giới bên ngoài
- Ý thức có khả năng tác động lại thế giới VC nhưng phải thông qua hoạt độngthực tiễn của con người Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ, nó chỉ ra hoạt động,hành động của con người, giúp con người hình thành nên những mục tiêu, kếhoạch, biện pháp cho hoạt động của họ, nó có thể quyết định làm cho con ngườihoạt động đúng hanh sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những tiền đề VC nhấtđịnh
- Ý thức có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với thế giới hiện thực khi nó cósự phản ánh đúng hay tiêu cực đối với thế giới bên ngoài
Trang 63 Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ mối quan hệ biện chứng này, chúng ta rút ra quan điểm khách quan:
- Trong nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn, mọi chủ trương, đường lối,mục tiêu phải luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ tiền đề vật chất hiện có
- Phải tôn trọng và hành động tuân theo quy luật khách quan Nghĩa là phải cóquan điểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Ví dụ: Đại hội VII (1991) của Đảng ta đã rút ra bài học quan trọng là: Mọiđường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng quy luậtkhách quan
- Nhận thức sự vật phải đúng đắn, chân thật, cần tránh tô hồng hay bôi đenđối tượng, không được gán cho sự vật cái mà nó không có
- Nhận thức cải tạo sự vật, hiện tượng chúng ta phải xuất phát từ hoàn cảnhthực tế của chính bản thân sự vật cùng với những thuộc tính, những mối liên hệ,bản chất vốn có của nó
- Vận dụng của Đảng ta:
+ Tránh chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa khách quan (có nghĩa là tuyệt đốihóa khách quan hoặc chủ quan mà không thấy được yếu tố chủ quan và kháchquan)
+ Đảng ta chủ trương khai thác sức mạnh vật chất tiềm tàng của đất nước,đồng thời phát huy tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng, tinh thần dân tộc…
+ Vừa chú trọng đời sống vật chất; vừa chăm lo phát triển kinh tế; vừachăm lo phát triển đời sống tinh thần; phát triển văn hoá giáo dục, đào tạo, xâydựng nền văn hoá mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật?
Câu 4: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật: (xem trong tập viết ôn thi)
1 Liên hệ là gì?
Liên hệ là một khái niệm triết học dùng để chỉ sự ràng buộc, sự quy định lẫnnhau, đồng thời đó là sự tác động qua lại làm biến đổi nhau của các sự vật, hiện tượngtrong thế giới khách quan
2 Nội dung của nguyên lý mối liên hệ phổ biến:
* Lưu ý: Phép biện chứng duy vật bao gồm các nội dung sau:
- 02 nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sựphát triển
- 06 cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật: chung-riêng;bản chất-hiện tượng; hình thức-nội dung; nguyên nhân-kết quả; tất nhiên-ngẫu nhiên; hiện thực-khả năng
- 03 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: chất-lượng; thốngnhất-đấu tranh; phủ định của phủ định
Trang 7- Theo phép biện chứng duy vật thì các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giớikhách quan không tồn tại cô lập, tách rời nhau mà tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ
gắn bó với nhau Trong đó, mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là mang tính
khách quan, mang tính phổ biến.
+ Tính khách quan: Đó là những mối liên hệ tất yếu, vốn có của các sự vật,
hiện tượng khách quan bên ngoài độc lập với ý thức của con người
+ Tính phổ biến: Ăngghen khẳng định: "Tất cả liên hệ với tất cả" Đây là cách
nói mang tính khái quát
Đó là, chẳng những có mối liên hệ giữa các yếu tố, sự vật khác nhau bên trongsự vật, hiện tượng mà còn có mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau.Chẳng những có mối liên hệ với các quá trình, các giai đoạn trong sự phát triểncủa sự vật mà cả quá khứ, hiện tại và tương lai cũng kế thừa và chuyển hoá cho nhau
Chẳng những có mối liên hệ trong tự nhiên, trong xã hội mà cả trong tư duy
cũng có mối liên hệ với nhau.
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là
mang tính đa dạng, nhiều vẻ, phức tạp Đó là, có mối liên hệ chung tác động trên
nhiều lĩnh vực, đồng thời có mối liên hệ riêng tác động trong từng lĩnh vực, có mốiliên hệ trực tiếp giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Đồng thời, có mối liên hệgián tiếp thông qua những khâu trung gian; có mối liên hệ bên trong quy định bảnchất của sự vật, hiện tượng, lại có những mối liên hệ bên ngoài; có những mối liênhệ cơ bản chủ yếu; đồng thời lại có những mối liên hệ cơ bản thứ yếu…
Vì vậy, để nhận thức đúng được sư vật thì đòi hỏi người nghiên cứu phải phân biệtcác liên hệ để từ đó nhận thức đúng về sự vật, nhưng sự phân biệt lại mang tính tươngđối, chỉ diễn ra trong những quan hệ xác định với những đối tượng xác định
3 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
- Nghiên cứu nguyên lý phổ thì cần phải xây dựng quan điểm toàn diện trongnhận thức và trong hoạt động thực tiễn của cán bộ đảng viên
Nội dung yêu cầu của quan điểm toàn diện:
+ Quan điểm toàn diện đòi hỏi chủ thể nhận thức khi xem xét các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan thì phải xem xét trong mối liên hệ hữu cơ vốn cócủa nó, phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mối liên hệ kể cả trực tiếp vàgián tiếp, kể cả các mối liên hệ về không gian và thời gian, mối liên hệ những mặtlịch sử của sự vật
Tóm lại, cần phải xem xét một cách toàn diện các mối liên hệ của sự vật.
+ Một mặt phải xem xét toàn diện mới hiểu đúng được sự vật nhưng toàn diện
không phải là xem xét một cách dàn đều, tràn lan, bình quân Toàn diện nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, nghĩa là trong quá trình xem xét cần phải phát
hiện đâu là những liên hệ cơ bản chủ yếu vì những liên hệ ấy mới phản ánh đượcbản chất của sự vật Do đó, kết luận rút ra mới là chính xác và đúng đắn
- Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ của phép biện chứng duy vật cần phải
đấu tranh chống lại chủ nghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện.
+ Chủ nghĩa chiết trung mà biểu tượng bên ngoài có vẻ là toàn diện trong khi
xem xét cũng phải chú ý đến các liên hệ khác nhau, nhưng lại kết hợp một cách vô
Trang 8nguyên tắc những liên hệ vốn không thể liên kết với nhau được Với cách xem xétnhư vậy thực chất nhằm xuyên tạc bản chất của sự vật.
+ Thuật nguỵ biện là lối lập luận chủ quan, tuỳ tiện trong khi xem xét cũng
chú ý đến những mối liên hệ khác nhau nhưng lại cai không cơ bản, cái thứ yếu đểthay thế cho cái cơ bản, cái chủ yếu
Với cách xem xét như vậy cũng tạo ra một mớ hỗn độn các sự kiện, từ đó làmxuyên tạc bản chất của sự vật
Câu 5: Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật:
1 Sự phát triển là gì?
Theo phép duy vật biện chứng thì sự phát triển là một quá trình vận động theo
xu hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoànthiện của thế giới khách quan
- Phát triển là một quá trình vận động nhưng không phải là sự vận động bất kỳmà là sự vận động theo xu hướng nhất định, xu hướng đi lên, xu hướng ngày cànghoàn thiện hơn của thế giới khách quan
- Khi nói đến sự phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng đi lên, điềuđó không có nghĩa là sự phát triển đã diễn ra theo con đường thẳng đơn giản, bằngphẳng chỉ có tiến lên mà sự phát triển bao hàm những bước quanh co, sự thụt lùitương đối
Ví dụ: Để xây dựng CNXH trở nên hiện thực từ học thuyết của chủ nghĩaMarx là cả một quá trình gian nan, vất vả Tuy nhiên, đó là con đường phát triển tấtyếu của xã hội loài người, con đường đó không bằng phẳng mà luôn quanh co, khókhăn Thậm chí vào những năm 1990, hệ thống các nước CNXH đã sụp đổ, nhưngđó không phải là sự cáo chung của học thuyết CNXH mà chẳng qua đó chính là sailầm của những người thực hiện áp dụng học thuyết của Marx một cách sai lầm, đolà sự thụt lùi tương đối để nhân loại đi lên một bước mới cao hơn trong con đườngxây dựng CNXH trên toàn thế giới mà thôi
2 Nội dung của nguyên lý về sự phát triển:
- Theo phép biện chứng duy vật thì mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan luôn ở trong quá trình vận động và phát triển không ngừng nhưng mỗi sự vật,hiện tượng cụ thể lại có quá trình ra đời, phát triển và mất đi Cái cũ mất đi, cáimới ra đời Cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu
- Sự phát triển là khuynh hướng chung, khuynh hướng tất yếu của thế giớikhách quan, độc lập với ý thức con người Trong đó, nguyên nhân của sự phát triểnlà sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng bên trong sự vật, haynói cách khác là do mâu thuẫn của bản thân sự vật quy định
- Cách thức của sự phát triển là đi từ những thay đổi về lượng dẫn đến nhữngthay đổi về chất thông qua những bước nhảy vọt Xu hướng của sự phát triển làdường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thông qua sự phủ địnhbiện chứng
- Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên đến xã hội và tư duy…
Trang 9- Tuỳ thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển sẽđược thực hiện hết sức khác nhau.
3 Ý nghĩa của nguyên lý về sự phát triển:
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật là xây
dựng quan điểm phát triển trong nhận thức và trong hành động.
- Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét các sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan thì phải xem xét nó trong sự vận động, trong sự phát triển của
chính nó trong tương lai theo quy luật khách quan vốn có của nó.
- Phải thấy được tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển, cũng nhưphát hiện con đường của xu hướng vận động phát triển tất yếu của sự vật Trong
quá trình phát triển, sự vật thường có sự biến đổi tiến lên (phát triển) hay có
những biến đổi thụt lùi Do đó, khi đứng trước những khó khăn, thất bại tạm thời,
chúng ta cần bình tĩnh, có niềm tin lạc quan tin tưởng vào tương lai
- Quán triệt nguyên lý này thì cần phải tránh, khắc phục bệnh bảo thủ, giáo
điều, bệnh chủ quan duy ý chí trong quan niệm của sự phát triển.
Câu 5: Quy luật mâu thuẫn?
(Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập)
1 Khái niệm cơ bản:
- Mặt đối lập: là một khái niệm triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc
điểm, những thuộc tính có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại kháchquan trong các sự vật, hiện tượng
- Thống nhất của các mặt đối lập: có 02 nghĩa
+ Nghĩa rộng: Đây là sự cùng tồn tại, sự nương tựa vào nhau, ràng buộc quy
định nhau, đòi hỏi phải có nhau Cái này lấy cái kia làm tiền đề, làm điều kiện chonhau để tồn tại Đây là tính không thể tách rời của mặt đối lập
+ Nghĩa hẹp:
Thống nhất với nghĩa là sự đồng nhất
Thống nhất với nghĩa là sự phù hợp, tác động ngang nhau
Hê-gel nói: "Mâu thuẫn bao giờ cũng bắt đầu từ sự đồng nhất, rồi hình thành
sự khác biệt, rồi hình thành mâu thuẫn".
Đây là trạng thái cân bằng ngang nhau của các mặt đối lập giữa quá trình triểnkhai đấu tranh của các mặt đối lập
- Đấu tranh của các mặt đối lập:
Thống nhất quan điểm đấu tranh của các mặt đối lập chỉ như là sự thủ tiêu lẫnnhau, sự xung đột giữa các lực lượng thù địch Mọi sự rối loạn, sự đụng độ trongxã hội mà đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại với nhau, sự bài trừphủ định nhau, sự triển khai của các mặt đối lập
2 Nội dung của quy luật mâu thuẫn:
- Theo phép biện chứng duy vật thì giữa thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, thống nhất của các mặt đối lập
Trang 10+ Thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, tương đối là vì một mặt đây là sự
thống nhất của những cái có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nên chúngđấu tranh thường xuyên với nhau, không có sự thống nhất hoàn toàn tuyệt đối màchỉ là tương đối
Mặt khác, sự thống nhất là nhằm phản ánh sự đứng im tương đối của sự vậtkhi còn là nó, chưa là sự vật khác
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối cũng như sự vận động là tuyệt đối.Vì các mặt đối lập có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, không tồn tại bấtđồng, cố định và đấu tranh thường xuyên với nhau Sự đấu tranh ấy diễn ra liêntục trong các giai đoạn phát triển khác nhau
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và sựphát triển của sự vật và hiện tượng
Theo triết học Marx-Lênin: "Sự phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối
lập".
Nguồn gốc nguyên nhân chân chính cuối cùng của mọi sự vận động và pháttriển là ở sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập bên trong sự vật mâuthuẫn là khách quan, là phổ biến, là tự thân, là vốn có của các sự vật, hiện tượng.Đấu tranh của các mặt đối lập làm cho cái cũ mất đi, cái mới ra đời, cái tiến bộchiến thắng cái lạc hậu
3 Ý nghĩa của quy luật mâu thuẫn:
- Vì mâu thuẫn là khách quan, là phổ biến, là nguồn gốc, là động lực của mọisự phát triển Vì vậy, nguyên tắc phương pháp luận chung nhất là phát hiện mâuthuẫn, phân tích và giải quyết mâu thuẫn đúng đắn, kịp thời
Muốn phát hiện được mâu thuẫn thì phải phát hiện cho được bản chất của sựvật, hiện tượng từ đó mà xác định các loại mâu thuẫn cũng như trình độ phát triểncủa mâu thuẫn và xu hướng vận động của mâu thuẫn
- Việc giải quyết mâu thuẫn thì phải căn cứ vào bản chất của mâu thuẫn vàhoàn cảnh lịch sử cụ thể của mâu thuẫn Chỉ khi nào có đủ điều kiện chín muồi thìmâu thuẫn mới được giải quyết một cách triệt để cần tránh tư tưởng nôn nóng vộivàng, áp đặt ý chí chủ quan, đồng thời không để mâu thuẫn phát triển một cách tựphát mà chủ động tạo ra các điều kiện cần thiết, từ đó mà giải quyết mâu thuẫnđúng đắn, kịp thời
* Lưu ý: Phân loại các mâu thuẫn:
1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
2 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
3 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu
4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Câu 6: Quy luật lượng và chất?
1 Phạm trù:
a) Phạm trù chất:
Trang 11- Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật và hiện tượng, là sự tổng hợp, sự thống nhất các thuộc tính của sự vật,để phân biệt sự vật này với sự vật khác Chất với tư cách phạm trù triết học khácvới khái niệm chất của các ngành khoa học khác
Ví dụ: Con đường so với thực vật và động vật Cái thuộc tính để phân biệt giữacon người với thật vật và động vật là tư duy
- Như vậy, để phân biệt các sự vật phải dựa vào sự phân biệt các tổng hợpthuộc tính về chất Mỗi một mối liên hệ thể hiện những chất khác nhau, như vậymuốn xác định chất của sự vật phải tìm từ mối liên hệ cụ thể để xem chất đó là gì.Ví dụ: Con người có chất động vật, chất đàn ông, chất phụ nữ
b) Khái niệm lượng:
- Lượng là một phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật về mặt quy mô, trình độ phát triển, nhịp điệu tổng số các đại lượng, bộ phậncấu thành sự vật
- Lượng là tính quy định của sự vật nhưng không dùng thuộc tính của lượng đểphân biệt sự vật này với sự vật khác
- Lượng là những cái trực tiếp cân đo, đong, đếm bằng các công cụ kỹ thuậthay các đơn vị đo lường
- Nhưng cũng có những cái không dùng công cụ kỹ thuật để đo lường được Đó làlượng của tư duy, lượng của tình cảm, lượng của tình cảm, lượng của tinh thần…
2 Nội dung của quy luật quan hệ giữa lượng và chất:
(Hay còn gọi là mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất)
a) Lượng thay đổi, biến đổi, chuyển hoá…dẫn đến chất thay đổi:
(hay lượng đổi dẫn tới chất đổi)
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng Trong quá trình vậnđộng và phát triển, chất và lượng của sự vật cũng biến đổi Sự thay đổi của lượngvà của chất không diễn ra độc lập với nhau mà quan hệ chặt chẽ với nhau
- Không phải bất kỳ sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổicăn bản về chất của sự vật Sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờcũng bắt đầu từ những thuộc tính về lượng (vận động liên tục) Lượng biến đổi dầndần và được gọi là quá trình tích luỹ về lượng Sự biến đổi ấy có thể tăng lên haygiảm xuống thì vẫn là tích luỹ về lượng Sự tích luỹ về lượng phải đến một giớihạn nhất định thì lúc đó mới xảy ra quá trình chuyển hoá về chất Lúc đó, sự vậtkhông còn là nó, chất cũ mất đi và chất mới ra đời
- Khái niệm độ:
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất Độlà khoảng giới hạn mà trong đó sự tăng lên hay giảm xuống về lượng (quá trìnhtích luỹ về lượng) đã diễn ra nhưng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Ví dụ: "Độ" của nước ở thể lỏng là giới hạn trong nhiệt độ từ lớn hơn 0oC đếndưới 100oC
Trang 12- Điểm nút của sự chuyển hoá là một điểm giới hạn mà sự vận động biến đổi
về lượng đến đó mà vẫn tiếp tục diễn ra theo hướng đó thì sự vật sẽ chuyển hoá về
chất Hay nói khác đi, điểm nút là điểm giới hạn mà sự thay đổi về lượng sẽ làm
thay đổi căn bản về chất của vật
Ví dụ: "Điểm nút" để "chất" của nước ở thể lỏng trở thành "chất" của nước ởthể khí là khi nước được đun sôi đến nhiệt độ 1000C
Sự thay đổi căn bản về lượng đạt tới điểm nút sẽ ra đời chất mới Vì vậy, sựvận động và phát triển là không cùng
- Bước nhảy là tại điểm giới hạn của sự chuyển hoá, sự biến đổi về lượng đã
đến điểm giới hạn mà ở đó sự vật biến đổi về chất (sự chuyển hoá về chất)
Nếu như chất cũ mất đi hoàn toàn và chuyển hoá thành chất mới thì như vậygọi là thực hiện được một bước nhảy của sự chuyển hoá, hình thành cái mới
Các hình thức của bước nhảy: chia làm 02 loại
+ Bước nhảy đột biến và bước nhảy diễn ra một cách dần dần:
Bước nhảy được gọi là đột biến khi chất của sự vật biến đổi một cách nhanh
chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành của nó
Ví dụ: các phản ứng hoá học, hiện tượng vật lý
Bước nhảy diễn ra một cách dần dần là sự chuyển hoá tương đối lâu thì mới
kết thúc
Ví dụ: sự chuyển hoá sinh học, chuyển hoá các giống nòi, sự biến đổi về PTSXtrong xã hội là bước nhảy dần dần
+ Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ:
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy diễn ra làm cho toàn bộ sự vật mất đi và
được xác lập thành một sự vật mới
Ví dụ: PTSX TBCN ra đời đã thay đổi PTSX PK ở các nước TB
Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy xảy ra ở một bộ phận của sự vật thì làm
thay đổi cơ bản sự vật
Ví dụ: cách mạng công nghiệp trong xã hội TBCN Cách mạng văn hoá làbước nhảy cục bộ
Tổng số các bộ phận, đại lượng của bản thân sự vật không thay đổi, nhưng thayđổi cách thức liên kết các yếu tố, bộ phận của nó cũng tạo ra sự biến đổi về chất.Ví dụ: Trong xã hội, một tổ chức xã hội nào đó có thể thay đổi về chất của tổchức mà là thay đổi cách thức tổ chức, hoạt động, thay đổi kết cấu giữa bộ phậnnày với bộ phận kia
b) Chất mới ra đời thay thế chất cũ, quy định lượng mới phù hợp với trạng thái của sự vật ở giai đoạn mới:
Sau khi ra đời, chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng:
Điểm nút Độ của chất lỏng Điểm nút
nhiệt độ âm (-) thể rắn 0 o C thể lỏng 100 o C thể khí
Trang 13+ Làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật.
+ Thay đổi nhịp điệu, tốc độ vận động và phát triển của sự vật đó
Ví dụ: Xã hội TB ra đơi thay thế xã hội phong kiến, PTSX TB thay thếPTSX PK về quy mô sản xuất, từ quy mô sản xuất nhỏ đến sản xuất lớn, năng suấtlao động tăng lên, nông dân thành công nhân…
3 Ý nghĩa của quy luật lượng và chất:
- Quy luật lượng và chất là quy luật chỉ ra cách thức của sự vận động và phát
triển của sự vật để giải thích rằng sự vật vận động biến đổi, phát triển là cả một quátrình tích luỹ dần về lượng và thay đổi kết cấu tổ chức của nó Quá trình ấy đếnmột giới hạn nhất định thì sự vật cũ sẽ mất đi và sự vật mới ra đời Điều này đúngcho tất cả các sự vật trong tự nhiên, trong vũ trụ và trong tư duy
- Quy luật lượng và chất chỉ ra rằng sự vận động là quá trình tích luỹ dần về
lượng, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, vì vậy chúng ta không nên nóngvội, chủ quan, áp đặt trong hoạt động thực tiễn
Vì thế, trong hoạt động thực tiễn đặt ra 02 yêu cầu:
+ Một là, trong hoạt động kinh tế phải tôn trọng những bước đi thích hợp đúng
quy luật kinh tế
Ví dụ: Trước thời kỳ đổi mới, ở nước ta từng xuất hiện sự sai lầm, như: chủquan duy ý chí, xem việc đưa đất nước tiến lên CNXH là việc làm đơn giản Chúng
ta nhanh chóng chuyển từ quy mô sản xuất nhỏ lên quy mô sản xuất lớn một cácháp đặt, không thừa nhận sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần…
+ Hai là, về chính trị, chúng ta bỏ qua giai đoạn phát triển lên TBCN với tính
cách là một chế độ xã hội (trong đó chế độ chính trị do giai cấp tư sản nắm quyềnlãnh đạo nhà nước và quan hệ sở hữu tư bản về LLSX) Còn quá trình xây dựngkinh tế, bộ máy pháp luật thì ta không thể bỏ qua (bắt buộc phải do giai cấp côngnhân lãnh đạo)
- Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải cảnh giác các âm mưu "diễn biếnhoà bình", các cuộc cách mạng màu, bạo loạn lật đổ, can thiệp vũ trang của các thếlực thù địch vào nước ta Các âm mưu này được thực hiện thường xuyên, thực hiệndần dần bằng nhiều con đường như tôn giáo, gây mâu thuẫn nội bộ giữa các dântộc thiểu số, kích động nhân dân xa rời và thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước
Ví dụ: Vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, ở Tây Nam Bộ; Các đồng chí cán bộ,đảng viên bị cố tình mua chuộc, làm cho tha hoá; Vấn đề cha xứ Ngô Quang Kiệt;Gần đây nhất là sự kiện luật sư Lê Công Định bị mua chuộc để chống phá lại Nhànước ta
Vì vậy, chúng ta cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và cácđoàn thể chính trị xã hội; Chỉnh đốn và xây dựng Đảng…
Câu 7: Quy luật phủ định của phủ định?
1 Các khái niệm:
- Phạm trù phủ định: Phủ định là sự vật này mất đi và sự vật khác ra đời.
Trang 14- Phủ định siêu hình: là sự phủ định do tác động từ nguyên nhân bên ngoài
làm cho sự vật mất đi
- Phủ định biện chứng: là sự phủ định nhưng sự vật cũ mất đi, tạo điều kiện
để sự vật mới phát triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ
Ví dụ: Cái cây hoa hạt Như vậy, là sự phủ định biện chứng Phủ địnhbiện chứng ở chổ: cái cây chuyển hoá, cho ra hoa, từ hoa chuyển hoá thành hạt
Phủ định biện chứng có 02 đặc trưng:
+ Thứ nhất, phủ định biên chứng là điều kiện và nhân tố của sự phát triển.+ Thứ hai, phủ định biên chứng là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới
Đặc điểm của phủ định biện chứng:
- Phủ định biên chứng là quá trình tự nhiên phủ định theo đúng quy luật
khách quan của sự tiến hoá, không phụ thuộc vào ý muốn của con người
Ví dụ: xã hội này mất đi và sinh ra xã hội mới
- Phủ định biên chứng mang tính kế thừa có chọn lọc (kế thừa và lọc bỏ), tức là kế thừa những thuộc tính của sự vật cũ, đồng thời loại lọc bỏ những yếu tố
không phù hợp
2 Nội dung quy luật phủ định của phủ định:
- Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự vận động vàphát triển, có nghĩa là sự vật không vận động và tiến hoá theo đường thẳng mộtcách đơn giản, mà phát triển theo cách phủ định và thay thế nhau (hình thức xoáyốc của sự phát triển) Vì vậy, cái cũ, cái không phù hợp nữa thì sẽ mất đi Sự mất
đi của sự vật tạo ra cái mới để phát triển
- Sự phủ định thay thế nhau phải qua hai lần phủ định liên tiếp, kế tiếp nhau.Như vậy, mới tạo ra chu kỳ của sự tiến hoá, phát triển Nhưng khi kết thúc một chukỳ thì hình thức của sự vật mới lại bắt đầu nhưng thật chất đã có sự thay đổi
Có những sự vật phải trải qua nhiêu lần phủ định liên tiếp nhau mới lập lại mộtchu kỳ
Ví dụ: chu kỳ của côn trùng, ếch, nhái…
- Sau những lần phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đó sẽ ra đời một sự vậtmới mang nhiều đặc trưng đối lập với cái xuất phát Như vậy, về hình thức, sẽ trởlại cái ban đầu, song, thực chất, không phải giống nguyên như cũ, mà dường nhưlặp lại cái cũ, cái ban đầu, nhưng trên cơ sở cao hơn
Ví dụ: Cây lúa (khẳng định) bông lúa (phủ định lần 1) hạt lúa (phủ địnhlần 2 – phủ định của phủ định)
- Đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của
phủ định chính là sự phát triển dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn
- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển,đồng thời là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường xoáyốc của quá trình vận động và phát triển
3 Ý nghĩa quy luật phủ định của phủ định:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta có tư duy biện chứng để giảithích đúng sự vận động của giới tự nhiên, xã hội
Trang 15Thủ đô Hà Nội Cái đơn nhất Thủ đô Bắc Kinh
Việt Nam Dân số gần 90 triệu người Trung Quốc D/s 1,3 tỉ người
Thuộc châu Á Thuộc châu Á
Theo XHCN Theo XHCN
Cái riêng Cái chung
- Phủ định biện chứng bao giờ cũng mang tính kế thừa và lọc bỏ Nên về mặtxây dựng xã hội và thực tiễn:
+ Một là, không được phủ định sạch trơn lịch sử một cách áp đặt siêu hình,phiến diện Vì nếu không có chế độ, xã hội trước thì sẽ không có chế độ hiện tại.+ Hai là, xây dựng xã hội mới hiện nay phải kế thừa những đặc điểm truyềnthống tinh hoa của dân tộc (truyền thống chống giặc ngoại xâm, truyền thốngtương thân tương ái, lá lành đùm lá rách…) Nhưng đồng thời phải đấu tranh loại
bỏ những hủ tục lạc hậu
Ví dụ: Đấu tranh chống tư tưởng trọng nam khinh nữ Tư tưởng bất chấp,không tuân thủ pháp luật vẫn còn tồn tại ở một bộ phận nhân dân
+ Ba là, về mặt xã hội phải phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Đồng thời, phảitiếp thu những nét văn hoá tiến bộ ở các nước trên thế giới, tuy nhiên, sự tiếp thuđó phải có chọn lọc, phù hợp với văn hoá và con người Việt Nam
Câu 8: Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật?
I Cặp phạm trù chung – riêng:
1 Định nghĩa:
- Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,
một quá trình riêng lẻ tồn tại với tư cách là một chỉnh thể trong mối quan hệ độclập tương đối với những cái khác
Ví dụ: Một ngôi nhà cụ thể
- Cái chung là phạm trù triết học dùng chỉ những mặt, những bộ phận, những
thuộc tính giống nhau được lặp lại ở các sự vật, hiện tượng, hay quá trình riêng lẻkhác nhau
Cái chung bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với cái riêng Vì vậy, cái chunglà cái chung của những cái riêng, không thể có cái chung nằm ngoài cái riêng, độclập với cái riêng
Ví dụ:
* Tính chất của cái chung:
Cái chung có thể phân biệt với cái phổ biến và cái đặc thù, cái chung bản chất vàcái chung không bản chất….cái chung có thể phân biệt thành cái phổ biến và cáiđặc thù Cái phổ biến là cái chung của tất cả các sự vật, hiện tượng trong một lĩnh vựcmà chúng ta nghiên cứu Cái đặc thù là cái chung của một sự vật hoặc một nhóm sự
Trang 16vật trong lĩnh vực nói trên Cái chung còn có thể phân thành cái chung căn bản và cáichung không căn bản Cái chung căn bản là cái chung thuộc về bàn chất của sự vật,hiện tượng còn cái chung không căn bản là cái chung nằm ngoài bản chất Cái chungcăn bản chi phối sự vận động và phát triển của sự vật còn cái chung không căn bản thìảnh hưởng ít hoặc nhiều đến sự vận động và phát triển của sự vật.
Trong mỗi sự vật hiện tượng đơn lẻ thì đối lập với cái chung còn có cái đơnnhất Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những yếu tố, những đặc điểm, nhữngthuộc tính chỉ có ở một cái riêng mà không được lặp lại ở một cái riêng nào khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:
Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung là vấn đề phức tạp và hết sức quantrọng trong đời sống XH và trong nhận thức con người, đó là vấn đề được tranhluận trong hàng ngàn năm nay:
Thứ nhất, cái chung là một bộ phận của cái riêng nằm trong cái riêng và
không bao quát hết cái riêng hay chỉ bao quát gần đúng những cái riêng Tuynhiên, cái chung căn bản lại sâu sắc hơn cái riêng, chi phối cái riêng
Thứ hai, cái riêng thì phong phú hơn cái chung và không ra nhập hết vào cái
chung, sở dĩ cái riêng phong phú hơn cái chung vì trong cái riêng ngoài cái chungcòn có cái đơn nhất và cái đặc thù
Thứ ba, cái riêng và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau Cái chung trong
một số điều kiện nhất định có thể chuyển hoá thành cái đơn nhất và ngược lại, cáiđơn nhất có thể chuyển hoá thành cái chung
4 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù chung-riêng:
- Trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta dựa vào cái chung bảnchất vì cái chung bản chất là chi phối sự vận động phát triển cái riêng nhưng đểphát hiện ra cái chung, nguyên lý chung, quy luật chung thì phải thông qua so sánhkhái quát hoá từ những cái riêng
Trong chỉ đạo thực tiễn nếu không nắm được cái chung thì sẽ rơi vào tìnhtrạng mò mẫm, mù quáng và dễ dẫn đến thất bại
Ví dụ: Trước năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời thì có nhiều phong trào yêu nước xuất hiện nhưng tất cả các phong trào đó đều thất bại Khi ra đời, với việc nắm được đường lối cách mạng đúng đắn và mâu thuẫn cơ bản của cách mạng Việt Nam thì Đảng Cộng sản đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam đấu tranh giành lại độc lập dân tộc.
- Vì cái riêng là cái có nhiều đặc điểm phong phú nên khi vận dụng cái chung,cái quy luật, nguyên lý chung vào mỗi cái riêng thì phải hết sức sáng tạo, phù hợpvới điều kiện lịch sử cụ thể của cái riêng
- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau nên trong hoạt động thựctiễn và trong nhận thức chúng ta cần chú ý phát hiện ra những cái đơn nhất tốt, tiến bộđể nhân điển hình thực tiễn, chuyển hoá nó thành cái chung, cái phổ biến
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý phát hiện ra những cái chung không tốt,cái tiêu cực để chuyển hoá nó thành cái đơn nhất rồi đi đến thủ tiêu nó
- Cái chung và cái riêng có quan hệ biện chứng với nhau, cho nên chúng takhông được tuyệt đối hoá cái chung hay cũng tuyệt đối hoá cái riêng Nếu tuyệt đối
Trang 17hoá cái riêng thì về mặt nhận thức sẽ rơi vào phương pháp luận siêu hình Về mặtxã hội sẽ rơi vào tư tưởng bè phái, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, chủ nghĩa dân tộchẹp hòi.
Còn nếu tuyệt đối hoá cái chung thì sẽ mắc phải bệnh giáo điều
II Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả:
1 Định nghĩa:
- Nguyên nhân là một phạm trù triết học dùng để chỉ sực tác động qua lại các
mặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhaugây ra những biến đổi nhất định
- Nguyên cớ là những sự vật hiện tượng xuất hiện đồng thời với nguyên nhân
nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài nhiên chứ không sinh ra kết quả
- Kết quả là một phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do
tác động qua lại giữa các mặt, các bộ phận, các thuộc tính cùng một sự vật, hoặcgiữa các sự vật với nhau
Ví dụ: Khi hai đám mây tích điện trái dấu va chạm với nhau thì sẽ xuất hiệnhiện tượng phóng điện, phát ra tiếng sấm, xuất hiện chia chóp Vì vậy, hai hiệntượng (sấm và chóp) là kết quả của việc hai đám mây mang điện tích trái dấu vachạm với nhau, đây là nguyên nhân
Chú ý:
* Cần phân biệt giữa nguyên nhân với nguyên cớ.
Ví dụ: Năm 2002, Mỹ đánh Iraq Giải thích cho việc này, Mỹ cho rằng Iraq sởhữu vũ khí giết nước hàng loạt, thủ tiêu chế độ độc tài của Tổng thống Hussein, cóliên hệ với bọn khủng bố… Tuy nhiên, những lý do Mỹ đưa ra ở trên chỉ là nguyêncớ, còn nguyên nhân của sự đánh chiếm Iraq là vì Mỹ muốn sở hữu, chi phối sảnlượng dầu hoả khổng lồ của Iraq
Nguyên nhân là cái trực tiếp sinh ra kết quả, nguyên nhân là nguồn gốc sinh rakết quả Còn nguyên cớ thì không sinh ra kết quả, nó chỉ là quan hệ bên ngoài kếtquả, thậm chí có mối quan hệ ngẫu nhiên với kết quả
* Cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện
Nguyên nhân khác điều kiện: quan hệ nguyên nhân – kết quả là quá trìnhnguyên nhân chuyển thành kết quả, là quan hệ có tính quy luật, còn điều kiện chỉ làyếu tố tạo môi trường giúp cho nguyên nhân chuyển thành kết quả Chính bản thânđiều kiện không chuyển thành kết quả, không tham gia vào thành phần kết quả
2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả:
- Một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của nguyên nhân và kết quả là baogiờ nguyên nhân cũng sinh ra kết quả, nguyên nhân có trước kết quả Để sinh ra
Nhiệt độ cao
2NH2 + O2 N2= + 2H2O
bạch kim
Nguyên nhân Kết quả
Trang 18kết quả thì nguyên nhân phải có trước, kết quả sau Tuy nhiên, xét thuần túy về mặtthời gian thì chưa đủ để kết luận những nhân tố nào đó là nguyên nhân Tất cảnhững yếu tố xuất hiện trước kết quả không phải bao giờ cũng là nguyên nhân củakết quả đó Song, đã là nguyên nhân thì phải có trước kết quả.
- Nói nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng không phải cứ một nguyên nhân chomột kết quả, có những nguyên nhân sản sinh ra nhiều kết quả và ngược lại có kếtquả lại do nhiều nguyên nhân tạo ra
- Khi nghiên cứu mối quan hệ nhân quả ta còn thấy nguyên nhân và kết quả cóthể chuyển hóa cho nhau Điều đó có nghĩa là xét trong mối quan hệ này là nguyênnhân nhưng xét trong mối quan hệ khác lại là kết quả
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ cả về chất lẫn về lượng.Trong Xh, đào tạonguồn nhân lực không chỉ phụ thuộc vào người đào tạo, người được đào tạo màcòn phụ thuộc vào cả thời gian đào tạo (người đào tạo, người được đào tạo là chấtcòn thời gian đào tạo là lượng)
3 Phân loại nguyên nhân:
- Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
- Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu Nguyên nhân chủ yếu quyếtđịnh sự ra đời của một sự vật mới
- Nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Nguyên nhân kháchquan là những nguyên nhân xuất hiện độc lập với chủ thể hành động còn nguyênnhân chủ quan xuất hiện do sự điều khiển của chủ thể tạo ra, chủ thể có thể là mộtngười, một giai cấp hay một tổ chức nhất định Nguyên nhân chủ quan không chỉảnh hưởng đến chất của kết quả mà còn ảnh hưởng đến lượng của kết quả
Ví dụ:
4 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Bất kỳ một hiện tượng nào cũng đều có nguyên nhân của nó, cho nên khi tìmhiểu một hiện tượng nào đó chúng ta phải tìm hiểu từ nguyên nhân sinh ra nó Đểhạn chế sự ra đời của một kết quả nào đó, chúng ta cũng cần phải tác động vàonguyên nhân sinh ra nó Tuy nhiên, cần chú ý sự tác động này chỉ nên dừng lại mộtgiới hạn hay mức độ nhất định Vì quan hệ nguyên nhân – kết quả là quan hệ mangtính khách quan, có tính quy luật
- Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau tuỳ theonhững mối liên hệ nhất định, do đó khi tìm hiểu một hiện tượng nào đó chúng ta
Chết chóc
Lũ lụt Bệnh dịch Nhiều kết quả
1 nguyên nhân Mất mùa, đói kém
Trang 19cần nghiên cứu hiện tượng ấy trong những mối quan hệ giới hạn thời gian, khônggian cụ thể xác định.
- Quan hệ nguyên nhân – kết quả là quan hệ khá phức tạp Một nguyên nhâncó thể sinh ra nhiều kết quả và một kết quả có khi được sinh ra bởi nhiều nguyênnhân, cho nên khi tìm hiểu một hiện tượng nào đó thì chúng ta cần phân tích tổnghợp tất cả các loại nguyên nhân sinh ra nó, xác định rõ vị trí, vai trò của từngnguyên nhân và để tạo ra được kết quả như mong muốn thì cần phối hợp, tổng hợpvới nhiều nguyên nhân
- Khi xác định được những nguyên nhân cần phải rút ra các bài học
- Khi vận dụng mối quan hệ nguyên nhân – kết quả cần phải đảm bảo nguyêntắc cân bằng về mặt vật chất, nhân nào quả ấy
Câu 9: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức?
1 Thực tiễn là gì?
a Quan niệm ngoài triết học Mác-Lênin về thực tiễn:
- Các nhà triết học DT chủ quan coi hoạt động nhận thức, hoạt động tinh thầnlà hoạt động thực tiễn
- Các nhà triết học DT khách quan, các nhà thần học, tôn giáo cho hoạt độngsáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên (chúa trời, thượng đế) là hoạtđộng thực tiễn
- Có nhà triết học DV người Pháp (Đi-đờ-rô) TK XVIII cho hoạt động thựcnghiệm khoa học là hoạt động thực tiễn Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đủ
- Các nhà triết học thực dụng Mỹ hiện đại cho thực tiễn là phản ứng của conngười trước hoàn cảnh một cách hiệu quả nhất
b Quan niệm của triết học Mác-Lênin về thực tiễn:
Thực tiễn là một phạm trù triết học chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất mang tính lịch sử – xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Từ định nghĩa trên cho thấy Thực tiễn theo triết học Mác-Lênin có những đặc trưng sau:
+ Thực tiễn là hoạt động vật chất chứ không phải hoạt động tinh thần Hoạt
động vật chất là hoạt động mà con người sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vậtchất tác động vào đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng theo hướng có lợi chocon người
+ Thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người,
nghĩa là đây là những hoạt động diễn ra trong xh của con người và đông đảongười; nó được giới hạn bởi những điều kiện ls-xh cụ thể; nó có trải qua những giai
đoạn lịch sử nhất định.
+ Thực tiễn là những hoạt động có tính mục đích của con người nhằm cải tạo
tự nhiên và xã hội, nó thể hiện tính tự giác, tính mục đích của hoạt động thực tiễn
nó khác với hoạt động bản năng của động vật.
- Thực tiễn có 03 hình thức cơ bản:
+ Hoạt động sản xuất vật chất (quan trọng nhất)
Trang 20+ Hoạt động cải tạo (biến đổi) chính trị – xã hội, cải tạo các quan hệ CT-XH (đtgpdt, đt giai cấp, mit1tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa…).
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học, đây là một hình thức đặc biệt bởi lẽ con
người chủ động tạo ra những điều kiện, hoàn cảnh nhân tạo để vận dụng thành tựuKH-CN vào nhận thức và cải tạo thế giới
Ví dụ: hoạt động thí nghiệm hoá học, vật lý, sinh học…
Trong 03 hình thức cơ bản trên của thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất làcó sớm nhất (nguyên thuỷ) và cơ bản nhất, quan trọng nhất, quyết định hai hình thứckia Hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động sản xuất vật chất
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
* Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức Nghĩa là mọi nhận thức của con
người suy cho cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Bởi vì, thực tiễn cung cấp chất liệucho nhận thức, cung cấp chất liệu cho con người khái quát
Ví dụ: Thông qua chiến đấu trực tiếp với đế quốc Mỹ, ta hiểu rõ Mỹ là ai
Thông qua lao động thực tiễn, con ngươi rút ra những câu ca dao, tục ngữđể khái quát những quy luật tự nhiên – xã hội
- Thực tiễn là động lực của nhận thức Nghĩa là thực tiễn thúc đẩy nhận thức của
con người phát triển Vì thực tiễn đề ra nhiệm vụ, yêu cầu, khuynh hướng phát triểncủa nhận thức
- Thực tiễn rèn luyện giác quan của con người, trên cơ sở đó giúp con người
nhận thức tốt hơn
- Thực tiễn chế tạo ra công cụ, phương tiện, máy móc hỗ trợ con người nhận
thức tốt hơn nhân lên sức mạnh, nối dài giác quan của con người trên cơ sở đó giúp
con người nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn.
* Thực tiễn là mục đích của nhận thức Nghĩa là nhận thức không phục vụ cho
chính bản thân nhận thức mà nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn Vì:
- Xét quá trình lịch sử loài người từ khi xuất hiện thì nhận thức bị quy định bởinhu cầu sống, tồn tại của con người
- Những tri thức khoa học là kết quả của nhận thức Lý luận, khoa học chỉ có ýnghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn Thực tiễn phảithông qua hoạt động vật chất của quần chúng thì mới có ý nghĩa
Ví dụ: Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng XHCN ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẽ và phức tạp, đòi hỏi cấp bách lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng những yêu cầu đó Chẳng hạn, đó là nhận thức về CNXH; Về CNH, HĐH đất nước; Về kinh tế thị trường định hướng XHCN; Đổi mới hệ thống chính trị; Giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ hội nhập … Thông qua việc nghiên cứu giải quyết đúng đắn các vấn đề đặt ra ở trên thì lý luận sẽ có được vai trò quan trọng, góp phần đắc lực vao sự nghiệp đổi mới đất nước.
* Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Theo triết học M-L, chân lý không phải
là cái gì đó hiển nhiên không phải cái có ích có lợi, không phải bao giờ cũng thuộc vềsố đông, chân lý là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và được thực tiễnkiểm nghiệm, chỉ có thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý bởi lẽ chỉ có thông qua và
Trang 21bằng thực tiễn con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởngqua đó khẳng định được chân lý bác bỏ sai lầm Tuy nhiên, với tiêu chuẩn kiểm trachân lý, thực tiễn vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiệnở chỗ nó là tiêu chuẩn khách quan duy nhất khẳng định chân lý bác bỏ sai lầm, tínhtương đối thể hiện ở chỗ bản thân thực tiễn có quá trình vận động phát triển, cho nênvới tư cách là tiêu chuẩn của chân lý nó cũng không đứng im.
Ví dụ: Liên Xô và Việt Nam đều cùng xây dựng đất nước lên CNXH, mặc dù cảhai nước đều tiếp thu học thuyết chủ nghĩa Marx-Lênin về XHCN nhưng khi áp dụnglý luận đó thì cả Liên Xô và Việt Nam đều có những bước đi riêng, không giống nhauhoàn toàn
3 Ý nghĩa phương pháp luận về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
- Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn.
- Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra lý luận, chủ trương, đường lối, chính
sách.
- Tăng cường tổng kết thực tiễn để bổ sung hoàn thiện phát triển lý luận cũngnhư chủ trương, đường lối, chính sáchs
- Đồng thời, ta cần tránh xa rời thực tiễn, vì như vậy sẽ dẫn tới các sai lầm của
bệnh chủ quan, bệnh quan liêu, giáo điều, máy móc, bảo thủ…
Câu 10: Biện chứng của quá trình nhận thức:
(Con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân lý)
Lênin chỉ ra con đường biện chứng của nhận thức như sau: "Nhận thức của
con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan."
Như vậy, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là hai giai đoạn nhận thứccó đặc tính khác nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình nhận thức
a) Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của nhận
thức, nhận thức một cách trực tiếp sự vật và phản ánh sự vật thông qua 03 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Cảm giác là hình thức đầu tiên của nhận thức cảm tính, là kết quả của sự tác
động của sự vật, hiện tượng khách quan lên một giác quan của con người và đemlại hình ảnh về vẻ bề ngoài của một thuộc tính nào đó của sự vật, hiện tượng
- Tri giác là hình thức kế tiếp sau cảm giác Tri giác là tổng hợp của nhiều
cảm giác, cho ta hình ảnh trọn vẹn về nhiều thuộc tính bên ngoài của sự vật
Ví dụ: Quả cam, chúng ta nhìn thấy bề ngoài nó là màu xanh Khi sờ thì chúng ta cảm nhận là nó sần sùi Khi bổ quả cam và nếm thì ta cảm nhận là nó ngọt.
- Biểu tượng là hình ảnh do tri giác mang lại khi sự vật không trực tiếp tác động
lên giác quan của con người nhưng nó được tái hiện lại nhờ trí nhớ Biểu tượng cũng làhình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính
Ở giai đoạn TQSĐ, nhìn chung nhận thức của con người là trực tiếp tiếp xúc vớisự vật, hiện tượng (trừ hình thức biểu tượng), ở giai đoạn này nhận thức của con người