• Thế kỷ XVII ra đời chủ nghĩa tư bản phương Tây * Đó là một thách thức nhưng cũng là thời cơ để các chúa Nguyễn thành lập các phố cảng trong thời đại hàng hải của thế giới... • Bản đ
Trang 1ĐÔ THỊ ĐÀNG TRONG
DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN
PGS.TS ĐỖ BANG
Trang 32 Về tình hình thế giới
• Từ 1592-1635, là thời kỳ Nhật Bản thực
hiện chính sách mở cửa
• Năm 1567, nhà Minh cấp giấy phép
cho các thương thuyền đến các vùng
biển Đông Nam Á để buôn bán
• Từ sau năm 1644, nhiều di thần nhà
Minh và doanh nhân Trung Quốc đã
xin nhập cư Đàng Trong.
Trang 4• Thế kỷ XVII ra đời chủ nghĩa tư
bản phương Tây
* Đó là một thách thức nhưng cũng là thời cơ để các chúa Nguyễn thành
lập các phố cảng trong thời đại
hàng hải của thế giới.
Trang 5II CÁC ĐÔ THỊ TIÊU BIỂU
Đàng Trong đã hình thành các đô thị
cổ từ thời vương quốc Phù Nam
(dấu tích kiến trúc văn hóa Óc Eo)
• Thuận Quảng c ó Lâm Ấp phố ở
Quảng Nam
• Bình Định c ó cảng Thi Nại (thế kỷ
X-XV).
Trang 6• Thế hệ đô thị thứ hai sau Lâm
Ấp phố của Chămpa và trước
phố Hội An thời chúa Nguyễn ở vùng biển Đà Nẵng- Hội An.
• Vào nửa sau thế kỷ thứ XVI, tàu
thuyền nước ngoài đến buôn bán tập trung ở vùng cảng Thuận
Hóa, nơi chúa Nguyễn Hoàng
chọn làm dinh phủ
Trang 7• Bản đồ của Alexandre De
Rhodes vẽ giữa thế kỷ XVII có
tên Cua Say (tức Cửa Sãi)
• Cuối thế kỷ XVI, manh nha ra
đời các đô thị đó là tiền đề các phố cảng Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, Hà Tiên của đất
Đàng Trong.
Trang 8• Từ nửa sau thế kỷ XVI, Hội An đã
có nhiều nước đến buôn bán, lưu trú, thương nhân Nhật Bản…
Trang 9• Thương nhân Trung Quốc thời
nhà Minh bỏ lệnh “hải cấm”
cũng đến Hội An ở lại lâu dài
• Hội An sớm trở thành đô thị
quốc tế với sự lưu trú lâu dài
của giới thương nhân Nhật Bản
và Trung Quốc
Trang 10• Phủ chúa cho thương nhân
Trang 11• Đô thị Hội An vào năm 1618 được
Cristoforo Borri mô tả như sau: “ Vì cho
tiện việc hội chợ, chúa Nguyễn cho phép
người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà
cửa theo tỷ lệ người của họ để dựng nên
một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó
khá lớn Chúng tôi có thể nói có hai thành phố, một của người Trung Quốc và một của người Nhật Họ sống riêng biệt, đặt quan cai trị riêng và theo phong tục, tập quán
của mỗi nước”
Trang 12• Bản đồ có ghi vị trí
chùa Hà Nam (của
người Nhật) vào thế kỷ XVII tại Hội An, được xác định vị trí như sau:
Trang 13• Phía Đ ông là phố Nhật, nằm ở hạ
lưu sông.
• Phía Tây là Đường Nhân phố
(phố người Hoa), nằm ở thượng lưu sông.
• Phía Nam là sông lớn (sông Thu
Bồn lúc đó).
• Phía Bắc là An Nam phố (tức
Trang 14• - Phố Nhật: Phố Nhật ở vị trí làng
Hoài Phô, làng cổ được ghi tên trong
sách Ô châu cận lục (1555)
• Người Nhật đến mua 20 mẫu đất của
làng Hoài Phô và An Mỹ để xây
dựng phố xá, sinh sống; lập một ngôi chùa lấy tên là Tùng Bổn
• Chùa này có thể là ngôi chùa mang
tên Hà Nam do Shichirobei xây dựng năm 1670.
Trang 15• Người phương Tây gọi Hội
An là đô thị Nhật Bản
• Bức tranh giữ tại nhà dòng
họ Chaya ở Nhật cho thấy
phố Nhật dài khoảng 320 mét, gồm hai dãy phố và gần một
cái chợ bán đủ các mặt hàng họp thành “đô thị Nhật Bản”
Trang 16Năm 1695, Thomas Bowyear đến tại Hội An chỉ còn thấy 5 gia đình người Nhật, Thích Đại Sán đến Hội An
không thấy ghi chép về phố Nhật
Năm 1981, chúng tôi tìm thấy 4 ngôi
mộ cổ của người Nhật tại Hội An
cũng ghi năm qua đời vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XVII.
• Phố Nhật ở Hội An ra đời, thịnh
vượng và tồn tại trong thế kỷ XVII.
Trang 17• - Phố Khách: Năm 1618,
Cristoforo Borri mô tả về phố
Nhật và phố Khách tại Hội An
• Di vật Phố Khách: Bức hoành
phi có niên hiệu Thiên Khải -Tân Dậu niên ( 1621), là di vật cổ
nhất của phố Khách Người Hoa
đã xây dựng một tổ đình lấy tên
là Cẩm Hà cung vào năm 1626.
Trang 18• Từ phố Nhật lên phố Khách
phải qua một con khe, người Nhật đã xây dựng nên một
chiếc cầu gọi là cầu Nhật Bản
(Lai Viễn kiều), người Hoa
làm chùa trên đó để thờ Bắc
Đế nên gọi là chùa Cầu.
Trang 19Cầu Nhật Bản (Địa điểm khai quật Khảo cổ học năm 2006)
Trang 20• Kết quả khai quật khảo cổ học của các
chuyên gia Nhật Bản vào mùa hè năm
năm 1998 và 2006 ở phường Cẩm Phô,
xung quanh chùa Cầu, tìm thấy nhiều đồ gốm Cảnh Đức (Trung Quốc), gốm
Hizen (Nhật Bản) lẫn với đồ gốm, đồ
sành Việt Nam có niên đại thế kỷ XVII Chúng ta khẳng định về thị trường gốm thương mại quốc tế tại Hội An và dấu
tích cư trú sớm của người Nhật và người Hoa chứ chưa đủ cứ liệu để xác định phố Nhật và phố Khách tại Hội An qua tư
liệu khảo cổ học
Trang 21Cầu Nhật Bản , vị trí khai quật khảo
cổ học 2006
Trang 22Gốm sứ Hội An
Trang 23Gốm sứ Hội An
Trang 24của làng cổ Hội An mà trung tâm
là đình làng Hội An, cùng tồn tại với phố Nhật và phố Khách.
Trang 25• Sau khi nhà Mãn Thanh đánh bại nhà
Minh (1644),Hoa thương di trú ở Hội
An rất đông Họ mua đất của làng
Cẩm Phô, Hội An, Cổ Trai
• Đường Trần Phú thành khu phố đông
đúc của người Hoa với hai dãy phố
xuất hiện như Bowyear đã mô tả
(1695): “Hải cảng này chỉ có một con đường phố lớn trên bờ sông, hai bên có hai dẫy nhà 100 nóc, toàn là người
Trang 26• Cũng vào năm 1695, Thích Đại Sán
đến Hội An đã ghi lại: ” Thẳng bờ
sông một con đường dài 3-4 dặm, gọi
là Đại Đường Nhai Hai bên phố ở
liền khít rịt Chủ phố thảy là người
Phúc Kiến vẫn còn ăn mặc theo lối
tiền triều”
• Vào thế kỷ XVIII, dãy nhà phố hai
bên đường Trần Phú hiện nay mới được xây dựng
Trang 27Trung Hoa Hội quán (Thương Dương Hội quán là bến đỗ thuyền
buôn thế kỷ XVIII)
Trang 28Phố cổ trên đường Trần Phú
Trang 29Phố cổ Hội An
Trang 30Quan Công miếu
Trang 31Phúc Kiến Hội quán
Trang 322 Thanh Hà
• Thanh Hà trở thành một thương
cảng lớn nhất, cửa ngõ giao thương hàng đầu của thời Kim Long- Phú Xuân thịnh trị vào thế kỷ XVII-
XVIII
• Năm 1636, ngay lúc mới chuyển
dinh vào Kim Long chúa Nguyễn
Phúc Lan đã cho phép thành lập
phố Thanh Hà
Trang 33• Từ đó đến cuối thế kỷ thứ XVII,
nhiều Hoa thương tiếp tục đến
Thanh Hà cư trú.
• Giữa thế kỷ XVII, Giáo sĩ
Alexandre de Rhodes có lưu trú ở
Thanh Hà Ông viết: " Tôi không
dám ở thành phố lớn Tôi thuê nhà tại thành phố nhỏ gần đó sau cơn hoả tai xảy ra lớn nhất ở đây.
Trang 34Phố Thanh Hà phần lớn nằm trong
tay Hoa thương nên gọi là" Đại
Minh khách phố"
• Năm 1685, Hoa thương xây
dựng Thiên Hậu cung Phố Thanh
Hà mở rộng dần về phía nam,
thương khách mua đất của làng
Địa Linh để lập phố và xây dựng
đền thờ Quan Thánh
Trang 35Thiên Hậu cung (Thanh Hà)
Trang 36Thiên Hậu cung (Thanh Hà)
Trang 37Long đình chùa Bà Thanh Hà đúc
năm Càn Long 45 (1780)
Trang 38Lư hương chùa Bà có niên hiệu
Ung Chính thứ 5 (1727)
Trang 39Tiên hậu cung (Thanh Hà)
Trang 40Long đình chùa Ông Thanh Hà niên hiệu Càn Long 45 (1780)
Trang 41• Năm 1700, Hoa thương mới được
xây phố bằng gạch và lợp ngói.
• Vào giữa thế kỷ XVIII, Pierre Poivre
đến Huế có nhận xét : " Vào mùa
mưa, các đường phố chật hẹp, lầy lội, chỉ có phố hay khu Trung Hoa có một lối đi rộng và lát gạch Dọc hai bên
đường người ta dựng lên những nhà gạch lợp ngói khá sung túc".
Trang 42Phổ cổ Bao Vinh
Trang 433 Nước Mặn
• Tên gọi này xuất phát từ chữ của
Cristoforo Borri vào năm 1618: “Vị
tổng trấn liền ra lệnh xây dựng cho
chúng tôi một cái nhà rất tiện nghi ở
thành phố (ville) Nehorman”
• “ Chúng tôi lại leo lên lưng voi và lên
đường với một đoàn tùy tùng đông đảo
để đi đến thành phố Nước Mặn”.
Trang 44• Các Giáo sĩ Bozomi, Pina, Augustin
(7-1618) cũng kể:” Quan trấn thủ cho các thừa sai một ngôi nhà bằng gỗ rộng rãi ở phố Nước Mặn Ông dùng voi đưa các linh mục đến nhà mới, từ đó các
linh mục có cơ sở hoạt động và được
dân chúng kính nể Cũng năm đó,
thánh đường được dựng sẵn ở phố
Nước Mặn và ráp trong vòng một ngày trước sự bỡ ngỡ và thán phục của các nhà truyền giáo”.
Trang 45• Vào giữa thế kỷ XVIII, Pierre Poivre
viết: “Tại tỉnh Quy Nhơn có một thương
cảng khác gọi là Nước Mặn là một cảng tốt, an toàn được thương nhân lui tới
nhiều nhưng kém hơn Faifo”.
• Nhưng vào thế kỷ sau không thấy sử
sách còn ghi về phố cảng Nước Mặn
Sách Đại Nam nhất thống chí bản soạn
thời Tự Đức không ghi chép về phố
Nước Mặn, cũng không có tên trong
danh mục 63 chợ lớn nhỏ trong tỉnh
Trang 46• Cho đến tháng 4 năm 1986, trong
đợt khảo sát về đô thị cổ ở các tỉnh miền Trung, chúng tôi mới phát
hiện dấu tích của phố cảng Nước
Mặn và thông báo kết quả tại Ủy
ban Nhân dân tỉnh Nghĩa Bình
(Quy Nhơn-1986) và trong hội nghị thông báo Khảo cổ học năm 1991
tại Hà Nội.
Trang 47• Từ tấm bia bằng gỗ chúng tôi phát
hiện ở đền Quan Thánh lập năm
1837( thành phố Quy Nhơn) có ghi tên một người họ Nguyễn ở phố
Nước Mặn cúng tiền để xây dựng ngôi đền này, chúng tôi mới lần
tìm đến xã Phước Quang, huyện
Tuy Phước Đến đây mới biết còn
lưu truyền chiếc cầu ngói và khu
chợ mang tên Nước Mặn.
Trang 48Chúng tôi phát hiện ra dấu tích của phố Tìm thấy dấu tích đền Quan
Thánh (chùa Ông).Thiên Hậu cung (chùa Bà), đây là di tích quan trọng nhất của phố Nước Mặn còn lại
Chúng tôi tìm thấy một chiếc đỉnh
lư bằng hợp kim, niên hiệu Gia
Khánh (1797) Về phía đông- bắc
của chợ là khu mộ cổ.
Trang 49• Khu phố được khoanh vùng
trên thực địa chiều dài hơm
1 km, chiều ngang khoảng
500 m; ngày xưa thuộc làng Lạc Hòa và Vĩnh An (trước
đó gọi là Minh Hương) sau nhập chung gọi là An Hòa.
Trang 50• Từ thế kỷ XVIII trở về trước
khi cửa Kẻ Thử còn tấp nập
thuyền ghe ra vào buôn bán
Tàu thuyền qua đầm Thị Nại
vào sông Côn đi qua các nhánh sông Âm Phủ, Cây Da rồi lên
tận Cầu Ngói để trao đổi hàng hóa với thương nhân ở phố
Nước Mặn.
Trang 51• Vào cuối thế kỷ XVIII khi mạch
đứt g ả y ở duyên hải Bình Định
hoạt động, cửa Kẻ Thử bị cát bồi, phù sa của sông Côn cũng không
thoát ra biển, thuyền không đến
được Cầu Ngói, phố Nước Mặn
suy tàn Những thương nhân ở phố Nước Mặn tản về Gò Bồi, vào Quy Nhơn hoặc lên An Thái để kinh
Trang 52• Năm 2005, Bảo tàng tỉnh Bình Định tổ
chức đào thám sát khảo cổ học phố
cảng Nước Mặn đã phát hiện nhiều
gốm sứ của Trung Quốc có nguồn gốc
từ Phúc Kiến và gốm sứ Hizen của
Nhật Bản đều có niên đại thế kỷ XVIII là một sự thừa nhận về phố
XVII-cảng Nước Mặn với vai trò mậu dịch quốc tế dưới thời các chúa Nguyễn
Trang 534 Hà Tiên
• Mạc Cửu- một trung thần của
nhà Minh đã rời Trung Quốc
sang Hà Tiên kinh doanh và trở nên giàu có Vào năm 1708,
Mạc Cửu ra Phú Xuân gặp
chúa Nguyễn và xin được thần phục Chúa Nguyễn Phúc Chu đồng ý và trao cho Mạc Cửu
Trang 54• Ngày 18 tháng 8 năm 2003,
chúng tôi đến khảo sát đền
thờ "Mạc Linh Công" ở Hà Tiên Văn bia ghi về Mạc
Cửu và con cháu họ Mạc lập nên đất Hà Tiên, phần chép tiểu sử Mạc Cửu như sau:
Trang 55• "Ông người huyện Hải Phong, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông Sau khi nhà
Minh dứt, năm 1680 Mạc Cửu 17 tuổi đã vượt biển đến Chân Lạp, được giao chức
Ốc Nha Thấy đất Mang Khảm đông đảo, người các nước buôn bán sầm uất, ông xin vua Chân Lạp đến đó để buôn bán và khuyến khích mở mang nông nghiệp,
chiêu tập lưu dân lập 7 xã thôn Phú
Quốc, Vũng Thơm, Trảng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau và Hà Tiên, không
Trang 56• Năm 1687, quân Xiêm cướp phá Hà Tiên,
ông bị bắt đưa về Xiêm 13 năm sống ở
cảng Vạn Tuế Sơn.
• Năm 1700, nhân lúc Xiêm có loạn, ông
trốn về.
• Năm 1705, ông ở tại Hà Tiên.
• Năm 1708, chúa Nguyễn tiếp đoàn sứ
gỉa của Mạc Cửu, chúa chấp nhận cho ông làm quan trưởng Hà Tiên, ban cho ông
chức Tổng binh Ông lập thành quách, bảo
vệ đất đai thành một nơi trấn nhậm"
Trang 57Đền thờ Mạc Cửu (Hà Tiên)
Trang 58Trước đền thờ Mạc Cửu
(tác giả và CTV)
Trang 59• Mạc Cửu cho lập chùa Tam Bảo
(1720-1730) và đền Quan Công 1730) hiện là hai cổ tự danh tiếng của đất Hà Tiên.
(1725-• Năm 1735, Mạc Cửu chết , được
chúa Nguyễn tặng Khai tướng Thượng trụ quốc đại tướng quân Vũ nghị công
Lăng mộ của ông được xây dựng ở Hà Tiên đã được công nhận di tích Quốc gia vào ngày 6-2-1989.
Trang 60Mộ Mạc Cửu (Hà Tiên )
Trang 61• Con của Mạc Cửu là Mạc
Thiên Tứ được chúa Nguyễn cử làm Đô đốc trấn thủ Hà Tiên
Chúa Nguyễn Phúc Chú cấp
cho 3 chiếc thuyền long bài
được miễn thuế, sai xuất dương
để mua các của vật quý báu để nộp Lại sai mở cục đúc tiền để
Trang 62• “ Thiên Tứ cho đặt nha thuộc,
Trang 63• Mạc Cửu đến đất Hà Tiên đã chiêu dân từ
Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc để lập làng dựng phố, buôn bán làm ăn Từ
năm 1708, khi Hà Tiên trở thành lãnh thổ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và dòng họ Mạc được chúa Nguyễn trao cho con cháu
kế thế giữ chức Tổng trấn, Hà Tiên nhanh chóng trở thành một đô thị lớn ở đất
phương Nam
• Hà Tiên trở thành vùng đô thị trọng điểm
của khu vực với sự phát triển văn học, hình
Trang 64KẾT LUẬN
Trang 65• Trước đây các bộ sách giáo khoa lịch sử
các cấp học đều phê phán chúa Nguyễn, chúa Trịnh do tham vọng cầm quyền đã gây ra họa chia cắt đất nước và nội chiến; điều đó đúng nhưng chưa đủ Cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn cũng là một trong
những động lực tự cường, tự vệ để các
chúa Nguyễn không ngừng mở đất về
phương Nam, phát triển kinh tế, xây dựng
đô thị, mở cửa giao lưu với nhiều nước
trên thế giới.
Trang 66• Đô thị Đàng Trong ra đời là hệ quả của
chính sách tiến bộ của các chúa Nguyễn đón nhận đúng thời cơ thương mại quốc tế và di dân đô thị đang phát triển Tầm nhìn đó đã vượt xa các nguyên thủ phương Đông cùng thời lấy làng xã làm nền tảng, nông dân làm chỗ dựa, nông nghiệp làm trọng tâm và cấm vận là chủ yếu Sự ra đời và phát triển đô
thị Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn
là một hiện tượng lịch sử đáng được ghi
nhận để tìm ra nguyên nhân và đặc điểm
của nó.
Trang 67• Đàng Trong là nơi giàu về tài nguyên thiên nhiên, có
nhiều tiềm năng kinh tế, có nhiều sông ngòi và nhiều cảng biển thuận tiện cho việc lập cảng và ghe thuyền cập bến Các chúa Nguyễn đã tận dụng mọi khả
năng lao động trong nhân dân kể cả chính sách ưu ái với nguồn lao động và đầu tư của người nước ngoài
để phát triển kinh tế và đô thị Các đô thị đều dựa
trên cảng sông để phát triển đã tạo ra một thế hệ phố cảng rất đặc sắc nhưng chủ yếu dựa vào thiên nhiên của thời tiền công nhiệp Khi cảng sông, cửa biển có biến đổi thì phố cũng thay đổi theo và cuối cùng bị suy tàn Chỉ còn lại Hội An và Hà Tiên là duy trì
được sức sống của một dạng đô thị có dáng dấp thời trung đại cần được trân trọng bảo tồn và phát huy