1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm

87 1,9K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Công Tác Quản Lý Chi Thường Xuyên Ngân Sách Nhà Nước Cho Giáo Dục Tiểu Học Và THCS Ở Huyện Từ Liêm
Tác giả Vũ Thị Hằng
Người hướng dẫn Thầy Bùi Tiến Hanh
Trường học Khoa Tài Chính Công
Thể loại Luận văn
Thành phố Từ Liêm
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 611 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 3

1.1 Sự nghiệp giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 3

1.1.1 Khái niệm và nội dung hoạt động của sự nghiệp giáo dục 3

1.1.2 Vai trò của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 6

1.2 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục và vai trò của chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 8

1.2.1 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục 8

1.2.2 Vai trò của chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 12

1.3 Nội dung chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 14

1.3.1 Nội dung chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước cho giáo dục 14

1.3.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 15

1.3.2.1 Lập dự toán chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục 16

1.3.2.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục .17

1.3.2.3 Quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHI VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ THCS Ở HUYỆN TỪ LIÊM 21

Trang 2

2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục ở huyện Từ Liêm

21

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 21

2.1.2 Tình hình giáo dục ở huyện Từ Liêm 23

2.1.2.1 Quy mô phát triển 23

2.1.2.2 Chất lượng giáo dục toàn diện 24

2.1.2.3 Xây dựng các điều kiện củng cố phát triển sự nghiệp giáo dục 27

2.2 Thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS huyện Từ Liêm 29

2.2.1 Tình hình đầu tư cho giáo dục huyện Từ Liêm 29

2.2.1.1 Đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước 29

2.1.2.2 Đầu tư từ nguồn vốn khác: 31

2.2.2 Mô hình quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 34

2.2.3 Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm 36

2.2.4 Chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS huyện Từ Liêm 39

2.2.4.1 Về mức độ đầu tư cho giáo dục Tiểu học và THCS 39

2.2.4.2 Thực trạng chấp hành 41

2.2.5 Quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiều học và THCS ở huyện Từ Liêm 59

2.3 Đánh giá thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm 62

2.3.1 Ưu điểm 62

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 63

Trang 3

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ

NGHIỆP GIÁO DỤC Ở HUYỆN TỪ LIÊM 68

3.1 Phương hướng phát triển sự nghiệp giáo dục huyện Từ Liêm 68

3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm 71

3.2.1 Tổ chức lại bộ máy quản lý ngân sách giáo dục 71

3.2.2 Tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư cho giáo Tiểu học và THCS 71

3.2.3 Bảo đảm cơ cấu chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục hợp lý 74

3.2.4 Tăng cường quản lý chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS trong cả ba khâu lập, chấp hành và quyết toán chi ngân sách Nhà nước 75

3.2.3.1 Về lập dự toán 75

3.2.3.2 Về chấp hành dự toán 77

3.2.3.3 Về quyết toán chi 78

3.2.4 Tiếp tục triển khai thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp có thu 79

3.3 Điều kiện thực hiện hiệu quả các giải pháp 82

KẾT LUẬN 84

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế xãhội của mỗi quốc gia Chỉ có tri thức mới đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạchậu, hội nhập với nền kinh tế thế giới, làm chủ được khoa học công nghệ Đểgiáo dục vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội chúng ta phảiphát triển giáo dục cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Thấy được tầm quan trọng củagiáo dục, thời gian qua Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư cho lĩnh vực giáo dục.Chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực này tăng lên cả về tỷ trọng lẫn số tuyệtđối, điều đó đó gúp phần tạo điều kiện cải tạo, tăng cường cơ sở vật chất trườnghọc, mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học trên phạm vi cảnước

Xét trên phạm vi một huyện, chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực giáodục có một vị trí quan trọng Từ Liêm là một huyện kinh tế dựa vào nông nghiệp

là chính, đất chật, người đông, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, khả năngXHH chưa nhiều nên ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp giáo dục vẫn giữ vaitrò chủ đạo Sự nghiệp giáo dục được coi là một trong những động lực để pháttriển nền kinh tế xã hội của huyện và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ,chi ngân sách cho giáo dục hàng năm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi ngân sáchhuyện Tuy vậy chất lượng giáo dục còn thấp, chưa xứng đáng với nguồn vốn màhuyện đã đầu tư Trong khi thực hiện các khoản chi của ngân sách nhà nước cho

sự nghiệp giáo dục còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất hợp lý đặc biệt là công tác

quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Vì vậy, việc chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm ” là cần thiết cả

Trang 5

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấugồm 3 chương:

Chương 1: Sự nghiệp giáo dục và những vấn đề cơ bản về chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.

Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện

Từ Liêm.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầyBùi Tiến Hanh cùng với sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Phòng Tàichính – Kế hoạch, Phòng giáo dục huyện Từ Liêm đã tạo điều kiện cho việcnghiên cứu đề tài

Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian thực tập chưa dài nên bài luậnvăn không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến của các thầy cô cùng các bạn quan tâm đến đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Bùi Tiến Hanh, các thầy

cô giáo, các cô chú, anh chị trong Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng giáo dụchuyện Từ Liêm

Trang 6

CHƯƠNG 1

SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI

THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

1.1 Sự nghiệp giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

1.1.1 Khái niệm và nội dung hoạt động của sự nghiệp giáo dục

Giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người và có thể coi là dạngquan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người theo nhiều nghĩa khácnhau Hay nói cách khác, giáo dục là quá trình bồi dưỡng, nâng đỡ sự trưởngthành về nhận thức của con người, tạo ra những con người có đầy đủ kiến thức,năng lực hành vi, có khả năng sang tạo Ở góc độ hẹp hơn, giáo dục được hiểu

đó là việc trang bị những kiến thức và hình thành nhân cách con người

Nhận rõ tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục đối với việc phát triểnkinh tế - xã hội, kiến thức là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai Hội nghịlần thứ hai (khoá VIII) của Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

đã đưa ra những định hướng chiến lược của Đảng ta về phát triển giáo dục – đàotạo trong thời kỳ mới Giáo dục có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy

mô và chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Giáo dục là sự nghiệp chung,Nhà nước chăm lo xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và ban hành nhữngchính sách phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; cácdoanh nghiệp, mọi tầng lớp nhân dân có trách nhiệm tích cực góp phần vào sựnghiệp phát triển giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáodục và mọi người được tạo cơ hội tiếp cận với học vấn phổ thông và nghềnghiệp

Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trìnhlao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó,mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự tựnhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong xã hội cổ xưa,

Trang 7

thì giáo dục chỉ dừng lại ở sự truyền dạy cách sống, kinh nghiệm đấu tranh vàsản xuất ở phạm vi một bộ tộc, một bộ lạc… nhưng trong xã hội ngày nay, giáodục được tổ chức thành một hệ thống hoàn chỉnh với những cấp bậc và chươngtrình giảng dạy khác nhau.

Theo Luật Giáo dục năm 2005 thì hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

1 Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

2 Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

3 Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

4 Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học)đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.Thời gian qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của các cấp ủyđảng và chính quyền ngành giáo dục Việt Nam đã khắc phục và hoàn thiện rấtnhiều, quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, chất lượng được nâng cao:

Về quy mô giáo dục: Nhìn chung quy mô giáo dục Việt Nam đang trên đà

phát triển Mạng lưới trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đadạng, rộng khắp Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non;trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụmliên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Quy mô giáo dụckhông ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực

tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu lớp học, bậc học Đội ngũ giáoviên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa Cơ sở vật chất kỹ thuật tuycòn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp Hệ thống giáodục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huyđộng nguồn lực cho phát triển giáo dục Nền giáo dục ở Việt Nam cơ bản đápứng được mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài gópphần đắc lực để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệphóa-hiện đại hoá cho đất nước

Tuy nhiên để mở rộng qui mô Giáo dục Việt Nam còn phải mở thêm nhiều

Trang 8

loại hình với nhiều cấp bậc, theo nhiều thể chế và trong mỗi trường hợp phải cónhiều phương án tương đương Đặc biệt phải khắc phục tình trạng mất cân đốitrong phân công đội ngũ giáo viên Việc thiếu giáo viên phổ biến là ở miền núi,vùng sâu, vùng xa và nhất là với cấp tiểu học.

Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy họctheo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhàtrường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủđộng và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệthông tin vào quá trình dạy và học Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ởcác cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việcđánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn

Tuy nhiên, nhìn chung tỷ lệ hoàn thành các cấp học không ổn định qua cácnăm học, không đồng đều giữa các cấp học do công tác đổi mới phương phápdạy và học đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, kỹ thuật,nhất là đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành còn thiếu thốn;công tác phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu một số trường chưa được quan tâm đúngmức Ngoài ra trong những năm qua, các khối tiến hành thay sách giáo khoa theoquy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo nhưng việc tiếp cận và triển khai giảng dạytheo nội dung sách mới của không ít giáo viên còn lúng túng Trong giáo dụcchưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất

Trang 9

lượng

Tóm lại sự phát triển nhanh chóng của hệ thống giáo dục đào tạo đã đápứng được yều cầu to lớn về cán bộ khoa học kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốcdân Hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo hiện nay rất đa dạng và toàndiện, ở nhiều cấp bậc ngành học với nhiều lĩnh vực khác nhau để nhằm mục đíchđào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ

và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, phầnnào đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.1.2 Vai trò của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có vai trò rất quan trọngtrong đời sống xã hội, sản phẩm của giáo dục là tạo ra những con người có kiếnthức, năng lực, hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trongtừng giai đoạn cụ thể Phát triển giáo dục là một trong những nền tảng và độnglực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện đểphát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững

Ngày nay giáo dục đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạtầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hộinhư chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng và an ninh, bởi lẽ, con người đượcgiáo dục tốt và biết tự giáo dục thường xuyên mới có khả năng giải quyết mộtcách sáng tạo và có hiệu quả những vấn đề do sự phát triển của xã hội đặt ra.Con người được giáo dục và biết tự giác giáo dục được coi là nhân tố quan trọngnhất cho sự phát triển bền vững của xã hội Chính bởi vậy, giáo dục là một bộphận hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội, trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi là một trong nhữngmục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển

Giáo dục đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, nguồn lực con người đóng vai trò

Trang 10

quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội.Kinh tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới,thu hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư, đều phụ thuộc phần lớn vào nguồnnhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồnlực rất quan trọng đối với quá trình CNH – HĐH đất nước Nói đến phát triểnnguồn nhân lực chính là phát triển nguồn lực con người cả về số lượng và chấtlượng để đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế Như vậy vấn đề đặt ra là mộtnhà trường trong một thời gian, một giai đoạn cụ thể phải đào tạo những ngànhnghề gì? Trình độ nào? Số lượng bao nhiêu là phù hợp? để giảm bớt tình trạngnguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng lao động thấp chủ yếu là lao động thô

sơ Vì vậy, một nền giáo dục phát triển toàn diện sẽ góp tạo ra một đội ngũ laođộng có đủ phẩm chất, trình độ, kỹ thuật nghề nghiệp có khả năng tiếp thu khoahọc, công nghệ của nền sản xuất hiện đại

Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ : Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi

khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ thì lực lượng lao động, nhất là lực lượnglao động kỹ thuật có tay nghề cao càng có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng trưởngkinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đadạng hoá quan hệ quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu và áp dụngphương tiện kỹ thuật hiện đại của các nước trên thế giới để đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội Tận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học – côngnghệ hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắnquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và khoảng cách phát triển kinh tế so vớicác nước đi trước Do vậy, giáo dục phát triển tạo ra nguồn nhân lực có trình độđáp ứng sự phát triển của khoa học – công nghệ Đồng thời để thúc đẩy đổi mớicông nghệ trong nền kinh tế, nhất là trước sức ép cạnh tranh trong điều kiện hộinhập khu vực và quốc tế thì nguồn lực chất lượng cao đóng vai trò rất quantrọng Qua đó thấy được vai trò của giáo dục đối với việc phát triển khoa học –công nghệ Do đó để tăng cường nguồn tri thức cho khoa học – công nghệ cũngnhư việc tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ mới đòi hỏi chúng ta phảiđầu tư phát triển nguồn lực con Việc đào tạo đội ngũ tri thức có đủ trình độ để

áp dụng những kỹ thuật hiện đai của các nước đồng thời phát triển đội ngũ khoa

Trang 11

học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết.

Đối với sự nghiệp văn hoá: giáo dục có vai trò cực kì quan trọng, nó giúp

cho con người lưu giữ được các văn hoá kết tinh qua các thời kì từ những gì đãđược rèn luyện ở tiểu học và đó là cơ sở để rèn luyện tốt hơn trong môi trườnggiáo dục khác Những giá trị do con người sáng tạo ra được tập hợp lại, hệ thốnghoá, khái quát hoá (tri thức hoá) trở thành kiến thức trong các giáo trình bàigiảng của nhà trường Văn hoá mang đến cho giáo dục những nội dung thiết yếu,những hiểu biết cần truyền đạt và là yếu tố quan trọng để phát triển tri thức conngười một cách toàn diện hơn Sự sáng tạo trong quá trình giáo dục làm phongphú thêm những giá trị văn hoá vốn có và làm nảy sinh những giá trị văn hoámới Quan trọng hơn nữa là nó tạo ra được những thế hệ người có khả năng sángtạo không chỉ trong lĩnh vực văn hoá

Như vậy, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xãhội: Như góp phần tạo nguồn lực con người, nguồn lực đó là con người lao động

có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, từ đó tạo nguồn lựccho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học công nghệ Bên cạnh đó, giáo dụccòn có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động xã hội và chính trị tạo nên một xã hộilành mạnh, văn minh và ổn định

1.2 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục và vai trò của chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.2.1 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục

Giáo dục cũng như các ngành khác trong nền kinh tế cần được duy trì, củng

cố và phát triển Để làm được như vậy thì cần phải có nguồn lực đầu tư cho giáodục Nguồn lực đầu tư cho giáo dục góp phần tăng cường cơ sở vật chất thôngqua việc xây dựng mới và nâng cấp các trường lớp; chi trả các khoản lương chocán bộ giáo viên; đồng thời cũng là nguồn lực quan trọng để hỗ trợ các em cóhoàn cảnh khó khăn có thể đi học… Trong điều kiện hiện nay khi nền kinh tếđang trên đà phát triển, cần phải đào tạo được một đội ngũ nhân lực có chấtlượng cao để đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển Do vậy nguồn lực để đầu

tư cho giáo dục ngày càng phải được nâng cao

Trang 12

Hiện nay, Bộ Giáo dục Đào tạo đang triển khai nhiều đề án nhằm tiếp tụcthực hiện Nghị quyết 14/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàndiện giáo dục Việt Nam đến năm 2020 Có nhiều vấn đề đặt ra nhằm mong muốntìm ra giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian sắp tới.Một trong những vấn đề cơ bản nhất là làm thế nào để tăng cường nguồn lực đầu

tư cho giáo dục trong điều kiện nước ta vẫn là một nước nghèo, ngân sách nhànước còn hạn chế Vấn để tăng nguồn lực tài chính cho giáo dục được coi là mộttrong những nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, điều đó

có nghĩa là phải tăng cường đầu tư nhiều hơn cho giáo dục Nhưng hiện nay donguồn lực hạn chế nên đòi hỏi phải cân nhắc trong việc đầu tư cho các công trìnhxây dựng các trường học mới Phải ưu tiên cho các địa phương có hoàn cảnh khókhăn, điều kiện kiện cơ sở vật chất còn thấp

Một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước để tăngnguồn lực đầu tư cho giáo dục là XHH giáo dục Như chúng ta được biết: dướithời phong kiến ở nước ta mức độ XHH có thể xem rất cao xét theo khía cạnhngười dân làm giáo dục, trường lớp công không tồn tại, giáo dục được thực hiệntrong các lớp học ở làng do các thày đồ và dân làng tổ chức Nhưng trong điềukiện nền kinh tế kế hoạch tập trung, người dân tham gia vào các hoạt động giáodục do Nhà nước quản lý rất hạn chế Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trongthời gian đó, doanh nghiệp nhà nước giúp được nhiều hơn đối với giáo dục trongviệc tạo cơ sở cho học sinh thực tập mà không phải trả bất cứ khoản chi phí nào.Đến ngày nay, người dân lại có điều kiện để tham gia vào quá trình giáo dục và

tổ chức giáo dục nhiều hơn XHH giáo dục không chỉ là những đóng góp vậtchất mà cả những ý kiến góp ý của người dân cho quá trình đổi mới giáo dục.XHH giáo dục là cách tiếp cận mang tính dân chủ nhiều hơn

Như vậy, có thể xem XHH giáo dục là sự huy động nguồn lực trong xã hội

để làm giáo dục, để đấu tranh với nghèo nàn và lạc hậu, là tạo điều kiện tốt hơncho người dân được hưởng dịch vụ giáo dục có chất lượng và nhiều cơ hội họctập, đóng góp sáng kiến với giáo dục…

Trang 13

Nguồn vốn đầu tư cho giáo dục hiện nay bao gồm nguồn vốn NSNN vànguồn vốn ngoài ngân sách.

Nguồn vốn NSNN

Để thực hiện được quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhànước phải có trách nhiệm xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển giáo dục banhành các chính sách ưu tiên đối với sự nghiệp giáo dục Đầu tư cho giáo dụccũng chính là đầu tư cho phát triển Cần có chính sách phát huy sức mạnh đầu tư

ưu tiên của Nhà nước, huy động sự đóng góp của toàn xã hội và phát huy tiềmlực sẵn có của ngành giáo dục Cần kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, xã hội vàcác cơ sở giáo dục, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra hànhlang pháp lý để khuyến khích tính năng động sáng tạo của xã hội, của các cơ sởgiáo dục trong sự phát triển giáo dục

Đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi sau :

- Chi đầu tư phát triển : Đây là những khoản chi mang tính chất không ổn

định từ ngân sách Nhà nước nhằm để xây dựng mới, cải tạo và mở rộng trangthiết bị kỹ thuật tại các cơ sở thuộc ngành giáo dục

Chi xây dựng bao gồm các khoản chi để xây dựng mới trường lớp, các cơ

sở giáo dục kết quả làm tăng thêm tài sản cố định năng lực hoạt động cho ngànhgiáo dục

Chi đầu tư cải tạo mở rộng, trang bị lại kỹ thuật bao gồm các khoản chi để

mở rộng cải tạo lại những tài sản hiện có nhằm tăng thêm công suất và hiện đạihoá tài sản cố định

- Chi thường xuyên : Đây là khoản chi mang tính chất thường xuyên, ổn

định nhằm mục đích duy trì sự hoạt động bình thường của sự nghiệp giáo dục.Thuộc khoản chi này bao gồm chi cho con người ; chi nghiệp vụ giảng dạy; chimua sắm, sửa chữa và chi khác Đây là khoản chi mang tính chất tiêu dùng vì nókhông tạo ra cơ sở vật chất mới vâ là khoản chi lớn hàng năm từ ngân sách Nhànước cho giáo dục

Trang 14

- Chi chương trình mục tiêu cho sự nghiệp giáo dục : Nhằm để thực hiện

các chương trình, dự án về phát triển giáo dục của Nhà nước như : Chương trìnhxoá mù chữ, chương trình phổ cập giáo dục, chương trình thực hiện kiên cố hoátrường lớp, chương trình cải tiến sách giáo khoa…

Nguồn vốn ngoài NSNN :

Hiện nay, ngoài nguồn vốn quan trọng từ ngân sách Nhà nước thì nguồnngoài ngân sách góp phần không nhỏ cho sự phát triển chung của ngành giáodục Với chủ trương của Nhà nước ta hiện nay là tăng cường XHH giáo dục thìnguồn vốn này ngày càng tăng lên Nguồn vốn huy động này bao gồm : Nguồnthu học phí và một số khoản thu sự nghiệp khác

- Nguồn thu học phí: Đây là nguồn rất quan trọng đối với sự phát triển của

giáo dục Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số chi cho sựnghiệp giáo dục, đây là khoản đóng góp của gia đình người học hoặc người học

để góp phần đảm bảo cho các hoạt động giáo dục Số tiền thu từ học phí so với

số tiền ngân sách nhà nước cấp là một khoản tiền không nhỏ và được để lại nhàtrường, một phần để tăng thu nhập cho giáo viên, một phần để chi mua sắm thiết

bị giảng dạy

- Các khoản thu sự nghiệp khác : Nguồn thu này bao gồm thu từ tiền đóng

góp xây dựng trường, thu hỗ trợ Tiểu học, thu học 2 buổi/ ngày, thu từ kinhdoanh dịch vụ của các cơ sở giáo dục, thu từ đóng góp của các tổ chức cá nhân…

So với học phí thì khoản thu này chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng cũng đảm bảo mộtphần nhu cầu chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục

Trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, việc huy độngcác nguồn vốn từ các thành phần kinh tế khác cho sự nghiệp giáo dục còn nhiềuhạn chế thì chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đóng vai trò quyếtđịnh đến sự phát triển của hệ thống giáo dục, song việc huy động các nguồn vốnkhác cho giáo dục cũng đóng vai trò rất quan trọng góp phần giảm nhẹ gánhnặng của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu còn hạn chế mà nhu cầuchi lại rất lớn

Trang 15

1.2.2 Vai trò của chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Để ngành giáo dục tồn tại và phát triển thì cần phải có nguồn lực tài trợcho các hoạt động của ngành Chi ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trong

để đảm bảo kinh phí chủ yếu cho sự nghiệp giáo dục duy trì và phát triển theođúng định hướng của Nhà nước Ngoài ra ở nước ta hệ thống các trường công lậpcòn chiếm tỷ lệ lớn, đời sống nhân dân nhiều vùng còn khó khăn, thu nhập bìnhquân đầu người còn thấp các hình thức XHH giáo dục thông qua mở rộng cácloại hình đào tạo tuy đạt kết quả bước đầu nhưng còn ở diện hẹp, chưa thu hútđược nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục mà phần lớn nguồn đầu tư cho giáodục là từ ngân sách Nhà nước Đây là nguồn tài chính cơ bản, to lớn nhất để duytrì và phát triển hệ thống giáo dục theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng vàNhà nước

Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, khi những khoản thu ngoài ngânsách để đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp thì nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nướcvẫn giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển giáo dục:

Chi ngân sách Nhà nước là một nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo duy trì sự tồn taị và hoạt động của sự nghiệp giáo dục Để duy trì sự tồn tại và

hoạt động ngành giáo dục cần phải có nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầuchi tiêu Phần lớn nhu cầu chi tiêu của ngành giáo dục được đảm bảo bằng nguồn

từ ngân sách Nhà nước Bằng việc chi ngân sách Nhà nước, Nhà nước thực hiệnviệc cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết đảm bảo việc trang trải nhữngchi phí phát sinh trong quá trình hoạt động và phát triển của sự nghiệp giáo dục.Một phần chi của ngân sách Nhà nước dùng để đảm bảo đời sống vật chất chođội ngũ cán bộ giáo viên và những người làm công tác quản lý trong nghành giáodục Khoản chi này bao gồm các khoản chi lương, phụ cấp lượng, các khoảnphúc lợi tập thể và có chế độ khen thưởng phù hợp với từng đối tượng Đây làkhoản chi không thể thiếu, để bù đắp và tái sản xuất sức lao động cho đội ngũcán bộ trong ngành Đồng thời nó là khoản chi để nhằm nâng cao được đời sốngvật chất và khuyến khích họ nâng cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết vớinghề

Trang 16

Chi ngân sách Nhà nước là khoản chi lớn trong việc tạo ra cơ sơ vật chất, mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy Hàng năm do quy mô giáo

dục được mở rộng, do nhu cầu hoạt động và sự xuống cấp tất yếu của các tài sản

cố định nên thường phát sinh nhu cầu xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đạihoá các trang thiết bị giảng dạy Đây là khoản chi hết sức cần thiết nhằm tạo ratài sản cố định, nâng cao công suất hoạt động của các tài sản hiện có và có ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục Một cơ sở vật chất khang trang vớinhững đồ dùng giảng dạy hiện đại sẽ là cơ sở quan trọng trong việc nâng caochất lượng dạy và học Chi cho khoản này được lấy một phần từ nguồn thu đónggóp xây dựng từ học sinh tuy nhiên chiếm tỷ lệ nhỏ và nguồn kinh phí từ ngânsách Nhà nước, chiếm tỷ trọng rất lớn giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồnvốn đầu tư

Chi ngân sách Nhà nước có tác dụng điều chỉnh cơ cấu ngành giáo dục theo cấp học, theo vùng miền khác nhau Mỗi một cấp học, một vùng đều có

những điều kiện nhất định về chất lượng giảng dạy và điều kiện trang thiết bị chohọc tập Hàng năm theo định hướng chủ trương của Đảng và Nhà nước trongtừng giai đoạn nhất định nguồn chi cho sự nghiệp giáo dục có sự khác nhau giữacác vùng và các cấp học Trong đó luôn luôn dành sự ưu tiên đặc biệt cho vùngcòn khó khăn Thể hiện tỷ lệ đầu tư của ngân sách Nhà nước vào các vùng cóđiều kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp ngày càng tăng Tăng đầu tưcác vùng này có thêm nguồn lực để xây dựng thêm cơ sở vật chất, thu hút đượcđội ngũ giáo viên có trình độ cao về dạy ở các vùng còn khó khăn Điều đó nhằmnâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục một cách toàn diện Thông qua chingân sách sẽ điều tiết được cơ cấu chi cho các vùng miền khác nhau từ đó cơ cấungành giáo dục sẽ phát triển theo định hướng của Nhà nước

Chi ngân sách Nhà nước là điều kiện quan trọng quyết định sự phát triển của giáo dục Sự nghiệp giáo dục được coi là yếu tố quan trọng đối với quá trình

phát triển kinh tế, do vậy phát triển sự nghiệp giáo dục được coi là mục tiêu,động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đòi hỏi phải có sự nỗ lực,

cố gắng của toàn bộ xã hội Tuy vậy hiện nay do nguồn thu ngoài ngân sách cònhạn chế thì kinh phí từ ngân sách Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong

Trang 17

việc hiện đại hoá cơ vật chất, thực hiện tốt các chủ trương chính sách về pháttriển giáo dục của Nhà nước nói cách khác nguồn kinh phí từ ngân sách Nhànước có vai trò chủ yếu nhất trong việc đưa sự nghiệp giáo dục phát triển để đápứng được các nhu cầu phát triển của nền kinh tế hiện nay.

Mặc dù ngân sách Nhà nước hiện nay cũng còn hạn hẹp lại được sử dụngchi cho nhiều lĩnh vực khác nhau, song với tầm quan trọng của giáo dục hàngnăm Nhà nước giành sự ưu tiên rất lớn đầu tư để phát huy vai trò quyết định của

nó đến sự phát triển kinh tế của đất nước

1.3 Nội dung chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.3.1 Nội dung chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước cho giáo dục

Nội dung chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cho giáo dục gắn liềnvới nhiệm vụ và cơ chế quản lý tài chính của sự nghiệp giáo dục đào tạo trongtừng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho giáo dục,thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đặt ra cho sự ngiệp giáo dục theo định hướng chungcủa Nhà nước “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tốquyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục đào tạo Do vậy đã hình thànhnên khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Chithường xuyên cho sự nghiệp giáo dục bao gồm :

 Chi thanh toán cho cá nhân

Thuộc nhóm mục chi này bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương,BHXH, BHYT, phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ công nhân viên củatrường Khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi của NSNN cho

sự nghiệp giáo dục

Mục đích của khoản chi này nhằm đáp ứng trực tiếp các nhu cầu về đờisống sinh hoạt cho giáo viên, cán bộ công nhân viên của trường, từ đó nhằm duytrì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy trong lĩnh vực giáo dục Nhóm chi này cótính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống giáo dục trong cảnước Mức độ chi cho khoản chi này nhiều hay ít phụ thuộc vào chế độ của Nhànước quy định cho từng đối tượng Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào chất lượng, số

Trang 18

lượng biên chế và trình độ học vấn của giáo viên cũng như cán bộ quản lý trongngành giáo dục.

 Chi cho nghiệp vụ chuyên môn

Thuộc nhóm mục chi này gồm các khoản chi về giảng dạy, học tập, chủyếu là dùng để mua sắm sách vở, tài liệu tham khảo,… cho giáo viên; đồ dùnghọc tập, vật liệu hóa chất thí nghiệm,… cho học sinh

Nhóm chi này không lớn nhưng có quyết định trực tiếp đến chất lượnggiáo dục Do vậy khoản chi này cần được đầu tư thích đáng để ngày càng hiệnđại hóa chất lượng giáo dục, phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

 Chi mua sắm, sửa chữa

Đây là khoản chi dung để mua sắm thêm các tài sản và sửa chữa các tàisản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động

và nâng cao hiệu suất sử dụng các tài sản đó Mức chi cho nhóm mục chi nàyphụ thuộc vào: tình trạng tài sản của các trường thuộc diện được sử dụng vốnngân sách Nhà nước và khả năng nguồn vốn ngân sách Nhà nước có thể đáp ứngcho nhu cầu này

 Chi khác

Đây là một khoản chi nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN và làkhoản chi có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa đề cập đến trong 3 nhóm mụcchi trên Nó thường bao gồm các mục chi như: Chi kỷ niệm các ngày lế lớn; Chicác khoản phí và lệ phí của các đơn vị dự toán; Chi tiếp khách;…

1.3.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục làquá trình phân phối, sử dụng ngân sách nhằm duy trì các hoạt động của sựnghiệp giáo dục, là công cụ điều chỉnh các hoạt động của sự nghiệp giáo dục saocho có hiệu quả nhất

Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệpgiáo dục bao gồm 3 khâu: Lập dự toán (kế hoạch) chi thường xuyên, chấp hành

dự toán chi thường xuyên và quyết toán các khoản chi thường xuyên

Trang 19

1.3.2.1 Lập dự toán chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục

Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận rất quan trọng của dự toán chingân sách Nhà nước Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nhằmmục đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chínhcủa Nhà nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi ngân sách Nhà nước hàng nămmột cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn

Căn cứ lập dự toán chi ngân sách Nhà nước cho sự giáo dục hàng năm:

+ Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển sự nghiệp giáo dục cụthể của năm kế hoạch

+ Dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát triển sựnghiệp giáo dục

+ Khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyêncho sự nghiệp giáo dục kỳ kế hoạch

+ Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên cho sự nghiệp giáodục của ngân sách Nhà nước hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thayđổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch

+ Chỉ thị của thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội trong đó có kế hoạch cho phát triển giáo dục và dự toán chithường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục năm sau

+ Tình hình thực hiện dự toán các năm trước, đặc biệt là năm báo cáo

Quy trình lập dự toán ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Theo phương pháp lập từ cơ sở lên, các cơ sở của ngành giáo dục là đơn vịtrực tiếp sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổng hợp, xác định nhu cầu chi để lập

dự toán chi năm kế hoạch cho đơn vị mình gửi lên cơ quan tài chính cùng cấpxét duyệt theo những căn cứ đã nêu ở trên Trong quá trình tổng hợp, lập dự toánngân sách, cơ quan tài chính có trách nhiệm làm việc với các cơ sở giáo dục trựcthuộc để điều chỉnh dự toán kinh phí mà các cơ sở giáo dục lập

Cơ quan tài chính xem xét tính hợp lệ, đúng đắn của dự toán cho các cơ sởgiáo dục trực thuộc và trình Uỷ ban nhân dân đồng cấp phê duyệt, sau đó trìnhlên cơ quan tài chính cấp trên Cơ quan tài chính địa phương có trách nhiệm xem

Trang 20

xét dự toán kinh phí cho các cơ quan cùng cấp, Bộ tài chính có trách nhiệm lập

dự toán ngân sách Trung ương, tổng hợp ngân sách Nhà nước trình Chính phủxem xét sau đó chình Quốc hội phê duyệt

1.3.2.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quantrọng của chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước – là khâu thứ hai của chutrình quản lý ngân sách Nhà nước Thời gian tổ chức chấp hành ngân sách Nhànước ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12 nămdương lịch

Mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên làđảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách Nhà nước cho hoạt độnggiáo dục một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Để đạt được mục tiêu cơ bản đó,trong việc chấp hành dự toán chi thường xuyên cần phải thực hiện đầy đủ cácyêu cầu sau :

+ Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng điểmtrên cơ sở dự toán chi đã được xác định Do đó cần phải quy định lại chế độ lập

và duyệt kế hoạch cấp phát hàng quí vừa đơn giản vừa khoa học đảm bảo cấpphát theo kế hoạch với thứ tự ưu tiên đựợc quy định bằng pháp luật Đồng thờiphải thực hiện nghiêm ngặt khoản dự trữ tài chính để xử lý khi có nhu cầu hoặcmất cân đối giữa thu và chi trong quá trình chấp hành

+ Phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽtránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn của ngân sáchNhà nước

+ Tuân thủ nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua kho bạc nhà nước Mọikhoản kinh phí chi trả từ ngân sách Nhà nước của các cơ sở giáo dục phải do khobạc trực tiếp thanh toán:

Các cơ sở giáo dục căn cứ vào giấy rút dự toán kinh phí đã được duyệt đểđến Kho bạc Nhà nước trực tiếp rút tiền Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thanhtoán chi trả khoản chi ngân sách nhà nước căn cứ vào dự toán được giao và có

Trang 21

quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện Các điều kiện là:

+ Đã có trong dự toán ngân sách được giao

+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định+ Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷquyền quyết định chi

Cùng với việc cấp phát các nguồn kinh phí thì cơ quan tài chính phối hợpvới Kho bạc Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngânsách tại các cơ sở giáo dục Trường hợp phát hiện các khoản chi vượt quá nguồncho phép, sai chính sách, chế độ hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo thì

có quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán

Trong quá trình sử dụng các khoản vốn, kinh phí do ngân sách Nhà nướccấp phải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗikhoản chi đó Do nguồn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nên để phát triển sựnghiệp giáo dục một cách toàn diện thì việc đảm bảo yêu cầu này rất quan trọng

Đó là cơ sờ để tăng nguồn lực đầu tư cho giáo dục, giảm bớt gánh nặng của ngânsách và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi thường xuyên

1.3.2.3 Quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước

là công việc cuối cùng trong mỗi chu trình quản lý các khoản chi thường xuyênnói riêng và chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục nói chung Nó làquá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh saumột kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán rút

ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo

Vì vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhànước cho giáo dục phải chú ý tới các yêu cầu cơ bản :

- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo

đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định:

Việc xét duyệt quyết toán năm đối với những khoản chi thường xuyên cho

sự nghiệp giáo dục phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Trang 22

+ Xét duyệt từng khoản phát sinh tại đơn vị

+ Các khoản chi phải đảm bảo đủ các điều kiện chi

+Các khoản chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lụcngân sách Nhà nước và đúng niên độ ngân sách

+ Các chứng từ chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phảikhớp với chứng từ và khớp với số liệu của Kho bạc Nhà nước

- Số liệu trong báo cáo đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung cácbáo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt vàtheo đúng mục lục ngân sách đã quy định

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của ngân sáchcác cấp chính quyền trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn,phải có xác nhận của kho bạc đồng cấp và phải được cơ quan nhà nước kiểmtoán

- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tìnhtrạng quyết toán chi lớn hơn thu

Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyếttoán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo mới được tiếnhành thuận lợi Đồng thời, các yêu cầu này mới tạo cơ sở vững chắc cho việcphân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực

Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm,

số liệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với sốliệu của Kho bạc cả về tổng số và chi tiết Khi đó đơn vị mới được tiến hành lậpbáo cáo quyết toán năm để gửi xét duyệt

Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán năm gửi đơn vị dự toáncấp trên Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo quyết

Trang 23

toán của các đơn vị dự toán cấp dưới, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm xétduyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toáncấp dưới Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán củađơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dưới không có ý kiến gì thì coi như

- 01 bản gửi Hội đồng nhân dân huyện

- 01 bản gửi Uỷ ban nhân dân huyện

- 01 bản gửi Sở Tài chính Thành phố

- 01 bản lưu lại Phòng tài chính huyện

Đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước huyện nghị quyết phê chuẩn quyết toáncủa Hội đồng nhân dân cấp huyện

Trình tự lập, gửi, xét duyệt các báo cáo tài chính đã được quy định nhưtrên vừa phản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vừa phản ánh yêu cầucần phải tôn trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị Chỉ có như vậy thì côngtác quyết toán mới đảm bảo được tính kịp thời, chính xác, trung thực, kháchquan

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHI VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ THCS

Ở HUYỆN TỪ LIÊM 2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục ở huyện Từ Liêm

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Huyện Từ Liêm được thành lập ngày 31/05/1961, là một huyện ven đô,nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội Trước đây, Từ Liêm là một huyện rấtlớn, do nhu cầu phát triển chung của thành phố Hà Nội, huyện đã tách dần vàđến nay, huyện chỉ còn 15 xã và một thị trấn với diện tích tự nhiên là 75 km2, với24,24 vạn người, chủ yếu sống bằng nghề nông Với vị trí địa lý thuận lợi, nguồnlao động dồi dào tạo điều kiện cho phát triển kinh tế nói chung và cho sự nghiệpgiáo dục nói riêng

Từ xưa ở Từ Liêm đã có đường giao thông thuỷ bộ thuận tiện Phía bắc cósông Hồng và hai nhánh là sông Tô Lịch và sông Nhuệ chảy dọc theo chiều dàicủa huyện Đường bộ có quốc lộ 32 chạy ngang giữa huyện, đường 70 Đẩu thế

kỷ XX có thêm các đường hàng tỉnh như đường 23, đường 65, đường 69 Nay cónhiều tuyến giao thông huyết mạch như: đường Phạm Hùng - Phạm Văn Đồng -cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài; đường Láng – Hoà Lạc Những nămqua, hệ thống giao thông ngày càng được nâng cấp, sửa chữa nhằm đạt được cácmục tiêu cho phát triển kinh tế

Cùng với phát triển chung của Thành Phố Hà Nội, trong những năm gầnđây, kinh tế Từ Liêm có xu hướng phát triển ngày càng đi lên Những năm gầnđây nền kinh tế của huyện đã có chiều hướng phát triển nhanh Để giải quyếtviệc làm cho người dân, Từ Liêm đang đẩy mạnh đầu tư xây dựng các chợ -trung tâm thương mại và đang xin làm thêm 2 khu ở xã Phú Diễn (khoảng 5 ha)với tinh thần ưu tiên xét cho các hộ mất đất có địa điểm kinh doanh Huyện chỉđạo xã Xuân Phương lập dự án xây dựng khu sản xuất, chuyển giao công nghệcây ăn quả đặc sản cam Canh, bưởi Diễn và trồng hoa cây cảnh tại 4 ha nằmtrong khu đô thị mới Xuân Phương để cùng với dự án vùng hoa Tây Tựu, đưa Từ

Trang 25

Liêm thành điểm du lịch sinh thái của Thủ đô Bên cạnh đó thương nghiệp dịch

vụ cũng phát triển mạnh mẽ gắn liền giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, sảnxuất nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị hoá Kinh tếphát triển, thu nhập người dân trong Huyện ngày càng cao đã góp phần nâng caomức sống của người dân trên địa bàn Huyện, hộ giàu tăng nhanh so với cáchuyện khác trong khu vực thành phố Hà Nội

Đời sống của nhân dân được từng bước cải thiện, lại được sự quan tâm củaĐảng bộ, Uỷ ban nhân dân và các ban ngành, trong những năm gần đây huyện

Từ Liêm đã thúc đẩy các hoạt động Văn hoá- Xã hội phát triển phong phú, đa dạng, hoạt động văn hoá, thể thao của Huyện thường xuyên giành được nhiều thành tích nổi trội và tạo được phong trào sôi động Thực hiện cuộc vận động

"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", hàng năm huyện đã tổ chức tốt Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hoá với 100% khu dân cư, thôn làng tham gia Chỉ đạo điểm xây dựng 3 khu dân cư, thôn làng văn hoá: tổ dân phố số 9 (thị trấn Cầu Diễn), thôn Ngọc Đại (xã Đại Mỗ), thôn Tân Nhuệ (xã Thụy Phương) Tổ chức rà soát đăng kí thi đua và vận động nhân dân đăng kí xây dựng gia đình văn hoá, thôn làng, khu dân cư văn hoá, đã có tới 95%gia đình tham gia

Trong tình hình huyện đô thị hoá nhanh, trên địa bàn huyện tập trung nhiều cơ quan, xí nghiệp và đặc biệt tập trung nhiều trung tâm giáo dục lớn của thành phố và cả nước như : Học Viện Tài Chính, Đại học Cảnh Sát Nhân Dân, Đại học Mỏ Điều này đã có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế, văn hoá

xã hội của địa phương, nhất là trong việc tạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy

sự nghiệp Giáo dục của huyện phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành Giáo dục trong sự nghiệp đổimới đất nước nói chung và của huyện Từ Liêm nói riêng, mặc dù còn nhiều khókhăn, nhưng ngành Giáo dục trên địa bàn huyện vẫn không ngừng được sự quantâm đầu tư, tạo điều kiện phát triển đồng bộ theo định hướng của Đảng - UBND

và các ban ngành

Trang 26

2.1.2 Tình hình giáo dục ở huyện Từ Liêm

2.1.2.1 Quy mô phát triển

Hoà mình với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện thì ngành giáo dụccũng đã có những chuyển biến đáng mừng Nó thể hiện ở quy mô các cấp học, ởvùng của huyện đều phát triển vượt bậc, với tốc độ cao Điều này có thể thấy rõhơn trong bảng sau:

Bảng 2.1: Quy mô phát triển giáo dục Tiểu học và THCS

ở huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 – 2008

Đối với cấp Tiểu học đã được đầu tư xây dựng mới trường Tiều họcMônôxốp nên tổng số trường Tiểu học của huyện tăng lên từ 22 lên 23 trường(trong đó có 20 trường công lập và 03 trường ngoài công lập) trong năm 2007 –

2008 Cùng với đó số lớp và số học sinh cũng đã tăng lên đáng kể, toàn huyện đãhuy động được hầu hết số trẻ 6 tuổi đi học lớp 1, không có học sinh bỏ học; huyđộng được 85% trẻ khuyết tật còn sức khoẻ ra lớp hoà nhập Số lớp tăng lên sẽđảm bảo cho chất lượng dạy và học được nâng cao; đáp ứng 100% học sinh cáctrường Tiểu học được học 2 buổi/ngày

Khối trường THCS số trường vẫn dừng lại ở 20 trường (trong đó có 17

Trang 27

trường công lập và 03 trường ngoài công lập) Nhưng để đáp ứng nhu cầu số họcsinh tăng lên các trường đã được nâng cấp và xây dựng thêm nhiều phòng họchơn cụ thể đã tăng lên 6 lớp học mới Trường trong đã huy động được 100% họcsinh lớp 5 vào học lớp 6 ; giảm tỷ lệ học sinh bỏ học dười 0,1% Số lớp tăng lênnhưng chưa đáp ứng được đủ số lớp học để đảm bảo tổ chức cho học sinh 2 buổi/ngày mà mới chỉ có 17/20 trường đã tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ngày đạt tỷ

lệ 90% (Các trường THCS Cổ Nhuế, THCS Xuân Đỉnh, THCS Minh Khai chưa

tổ chức học 2 buổi/ ngày)

Tóm lại, trong các năm qua các khối Tiểu học, THCS đã đạt được nhữngmục tiêu đề ra, số trường, số lớp, số học sinh đều tăng là cơ sở để nâng cao chấtlượng giáo dục Tuy nhiên khối THCS cần phải được đầu tư hơn nữa để đảm bảo

đủ lớp học đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của học sinh

2.1.2.2 Chất lượng giáo dục toàn diện

Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm đầu tư đúng mức của Nhànước cũng như của Đảng uỷ huyện Từ Liêm, cùng với sự nỗ lực của các thầy tròcác trường trong Huyện, chất lượng giáo dục huyện Từ Liêm đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể:

Về chất lượng giáo dục đạo đức: Trong những năm qua đã đạt đựơc nhiều

kết quả tốt: Từ giáo dục Tiểu học đến THCS đều duy trì hoạt động giáo dục lễgiáo, giáo dục đạo đức trong các nhà trường Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dụcđạo đức và rèn luyện sức khoẻ các trường Tiểu học và THCS bám sát chủ đềhoạt động đoàn đội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; đổi mới các tiết sinhhoạt lớp và sinh hoạt dưới cờ Giáo dục truyền thống trong các nhà trường được

tổ chức dưới nhiều hình thức phong phú

Các trường đã cho học sinh làm bản cam kết: thực hiện tốt nội quy của nhàtrường, thực hiện tốt an toàn giao thông, “ Nói không với ma tuý” và phong tràochống tệ nạn xã hội Phong trào nếp sống đạo đức tốt, biểu dương “người tốt việctốt” đã được phát động trong các nhà trường Kết quả chất lượng giáo dục đạođức được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Chất lượng giáo dục đạo đức Tiểu học và THCS

Trang 28

ở huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 – 2008

Nguồn: Phòng giáo dục huyện Từ Liêm

Nhìn vào bảng trên có thể thấy công tác giáo dục đào tạo ở các trườngkhối Tiểu học và THCS đã đạt được những kết quả khá cao Trong năm học

2006 – 2007 và 2007 – 2008 ở khối Tiểu học thì các học sinh đều đạt kết quảKhà và Tốt không có học sinh nào xếp loai Trung bình, Yếu, Kém Đặc biệt tỷ lệhọc sinh đạt loại Tốt tăng lên đáng kể (từ 93,5% lên tới 96,8%) Điều đó chothấy giáo dục Tiểu học đã đạt được thành tích khá tốt Còn ở khối THCS thì tỷ lệhọc sinh xếp loại đạo đức Tốt cũng tăng lên và tỷ lệ học sinh xếp loại Yếu, Kémcũng từng bước giảm đi (từ 0,5% xuống còn 0,3%) Từ đó thấy được sự nỗ lựcrất lớn trong công tác giáo dục đạo đức của huyện Từ Liêm Tuy nhiên, cần phải

có sự nỗ lực hơn nữa trong giáo dục đạo đức THCS để tỷ lệ đạt Tốt, Khá cao hơnnữa còn tỷ lệ học sinh Trung bình, Yếu, Kém giảm hơn nữa đảm bảo chất lượnggiáo dục ngày càng được nâng cao

Về chất lượng giáo dục văn hoá: Bên cạnh việc tăng cường chất lượng

giáo dục đạo đức thì công tác giáo dục văn hoá cũng là nhân tố rất quan trọng.Giáo dục văn hoá thể hiện khả năng và sự nỗ lực của học sinh trong quá trìnhhọc tập ở trường Tại hầu hết các trường ở huyện Từ Liêm học sinh Tiểu học vàTHCS trong các nhà trường đã được rèn luyện nề nếp chuyên cần học tập, chămchú nghe giảng Đổi mới dạy, đổi mới học trong các tiết học, học sinh đã đượcphát huy trí lực,tích cực phát biểu xây dựng bài để hiểu bài ngay tại lớp Phongtráo phấn đấu vươn lên đạt học sinh Khá - Giỏi đã được 100% các trường phátđộng Chất lượng giáo dục văn hoá của huyện Từ Liêm trong những năm qua đãđạt kết quả rất cao Được thể hiện cụ thể trong bảng sau:

Trang 29

Bảng 2.3: Chất lượng giáo dục văn hoá Tiểu học và THCS

ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008

Nguồn: Phòng giáo dục huyện Từ Liêm

Nhìn chung khối Tiểu học về kết quả xếp loại văn hoá tăng giảm rất đồngđều trong đó học sinh Giỏi đã tăng lên từ 47,7% đến 48,9%, học sinh Khá tănglên từ 33,9% đến 34,6% trong hai năm học Tuy nhiên tỷ lệ tăng chưa cao Trongkhi đó số học sinh Yếu lại tăng lên đây là một hạn chế mà các trường cần phảisớm khắc phục để các trường không còn học sinh Yếu, tiến tới phấn đấu đạt100% học sinh Khá, Giỏi Để thực hiện được như vậy thì phải có cách đổi mớiphương pháp dạy và học

Đối với khối THCS, giai đoạn 2006 – 2007 và 2007 – 2008 đã đạt đượcthành tích rất đáng khích lệ Tỷ lệ học sinh Giỏi, Khá tăng lên và tỷ lệ học sinhTrung bình, Yếu, Kém giảm đi rõ rệt Tuy nhiên, để chất lượng giáo dục đạt hiệuquả cao nhất thì phải giảm được tỷ lệ học sinh Yếu, Kém xuống mức thấp nhất.Trong khi đó tỷ lệ này đối với các trường THCS là vẫn còn cao Qua bảng số liệutrên thì thấy chất lượng học sinh chưa đồng đều, tỷ lệ Giỏi chưa cao nhưng tỷ lệhọc sinh xếp loại Trung bình, Yếu, Kém đang còn ở mức độ rất cao nhất là đốivới giáo dục THCS Do vậy, cần phải có biện pháp tích cực hơn trong công tácgiáo dục Tiểu học và THCS

Như vậy năm học 2007 - 2008 ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng và đạtđược nhiều kết quả tốt Trong những năm tới cần cố gắng phát huy hơn nữa,giảm tỷ lệ học sinh lưu ban và yếu kém xuống đồng thời có những biện pháp

Trang 30

phát triển đồng đều chất lượng dạy và học giữa các trường để đạt được những kếtquả cao hơn nữa.

2.1.2.3 Xây dựng các điều kiện củng cố phát triển sự nghiệp giáo dục

Giáo dục là yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển bền vững nềnkinh tế của đất nước Do vậy phải xây dựng các yếu tố để thúc đẩy giáo dục pháttriển Yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục làđội ngũ giáo viên và điều kiện về cơ sở vật chất

Yếu tố thứ nhất là về điều kiện cơ sở vật chất

Với sự quan tâm ngày càng lớn của Nhà nước giành cho giáo dục nêntrong những năm qua cơ sở vật chất và trang thiết bị có sự cải tiến đáng kể Đápứng ngày càng tốt hơn cho nhu cầu dạy và học ở huyện Nhiều trường đã đượcđầu tư để nâng cấp, tu sửa…tạo môi trường học tập khang trang, sạch sẽ

Cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường được củng cố và tăng cường, không

có trường nào phải học 3 ca, bằng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng đónggóp trong năm học 2006 – 2008 đã trang bị đủ bàn ghế, bảng đen cho giáo viên,

đủ chỗ ngồi cho cho học sinh trên lớp Có sự tăng trưởng về số trường và sốphòng học so với năm học trước Năm học 2007 – 2008 có xây dựng thêmtrường Tiểu học Mônôxốp Số lớp xây dựng mới có tăng hơn so với năm trước

đó là 19 lớp; số phòng được sửa chữa, nâng cấp 269 phòng

Năm học 2007 – 2008 nguồn lực dùng để đầu tư mua sắm trang thiết bịdạy học; thiết bị phòng cháy - chữa cháy đặc biệt là các trường thuộc khối trườngxây dựng trường chuẩn là rất lớn Hầu hết các trường đều được trang bị thêm:Máy vi tính; máy in dùng trong hoạt động của thư viện, hệ thống bảng lên xuốngđược trang bị trong các phòng học đa năng, màn chiếu treo tường, máy chiếu vậtthể( được lắp trong phòng thí nghiệm), máy điều hoà cho phòng học tin…Đó làđiều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học Trong những năm tới đểchất lượng giáo dục của huyện cao hơn nữa sánh kịp với các Thành phố lớn thìcần phải nâng cấp hơn nữa các thiết bị dạy học

Yếu tố thứ hai là điều kiện về đội ngũ giáo viên

Giáo viên là một trong những điều kiện quan trọng để củng cố phát triển

sự nghiệp giáo dục Trong lý luận và thực tiễn đội ngũ giáo viên luôn được coi là

Trang 31

lực lượng nòng cốt của sự nghiệp phát triển giáo dục, là nhân tố quan trọng nhấtquyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục Nghị quyết Hội nghị Ban chấphành Trung ương 2 khoá VIII đã xác định” Giáo viên là nhân tố quyết định đến

sự nghiệp giáo dục” Chỉ thị 40 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềviệc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo cũng chỉ rõ: “ Nhà giáo

là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng” Do vậy muốn phát triển giáo dục –đào tạo, điều quan trọng trước tiên là phải chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên.Đội ngũ giáo viên ở huyện Từ Liêm trong những năm qua đã tăng cả về qui mô

và chất lượng giảng dạy Quy mô đội ngũ giáo viên ngành giáo dục huyện TừLiêm được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.4: Quy mô đội ngũ giáo viên Tiểu học và THCS

ở huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 – 2008 Năm học

Nguồn: Phòng giáo dục huyện Từ Liêm

Ở đây ta thấy rằng, số giáo viên của huyện Từ Liêm trong 2 năm học2006- 2007 và 2007- 2008 chênh lệch nhau không đáng kể Do những năm gầnđây thì lượng sinh viên ở các trường sư phạm tốt nghiệp quá nhiều dẫn đến tìnhtrạng thừa giáo viên Về số lượng giáo viên cho các trường trong huyện hầu như

là đã đủ theo qui định Vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao hơn nữa chất lượngđội ngũ giáo viên

Ở các khối ngành tiểu học và THCS: Hai khối học này các phong tràonâng cao chất lượng giáo viên được đấy mạnh như: thi giáo viên giỏi cấp tỉnh,phong trào vở sạch chữ đẹp, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém,trung bình

Mặc dù đã có nhiều hoạt động nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm

Trang 32

cho đội ngũ giáo viên song vẫn còn tồn tại một số hạn chế: Việc sáng tạo tronggiảng dạy (thể hiện in bài soạn) chưa thể hiện người in bài soạn, tổ nhóm chuyênmôn sinh hoạt nặng về hình thức, nội dung chưa đa dạng phong phú, quy trìnhtriển khai chuyên đề chưa rõ Các sáng kiến đổi mới phương pháp giảng dạy củagiáo viên còn nghèo nàn Điều này tác động trực tiếp đến chất lượng học sinhcủa huyện.

Trong năm qua, Phòng giáo dục huyện đã thực hiện củng cố và sắp xếp lạicán bộ trong các trường, kết hợp với các bên liên quan cho cán bộ quản lý đi bồidưỡng thêm nghiệp vụ quản lý, thông qua các lớp đào tạo tại chức hoặc đào tạo

từ xa

Với thực trạng và những phân tích trên cho thấy giáo dục huyện Từ Liêm

đã đạt được một số kết quả tương đối khả quan song vẫn còn tồn tại các hạn chếcần phải khắc phục trong thời gian tới

2.2 Thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS huyện Từ Liêm.

2.2.1 Tình hình đầu tư cho giáo dục huyện Từ Liêm

2.2.1.1 Đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đóng vai trò rất quan cho sự phát triểncủa các ngành trong nền kinh tế trong đó có ngành giáo dục Trong các nguồnvốn đầu tư cho giáo dục thì nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng lớnnhất Khoản này được lấy từ nguồn ngân sách Huyện và kinh phí bổ xung củangân sách thành phố Nguồn vốn này dùng để đảm bảo hoạt động bình thườngcủa ngành giáo dục đồng thời dùng để đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mớitrường lớp, mua sắm thêm các trang thiết bị vật chất tạo điều kiện cho việc giảngdạy và học tập

Khi nền kinh tế càng phát triển thì đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sáchNhà nước ngày càng được tăng lên, đảm bảo cho huyên thực hiện được nhiệm vụ

đề ra đối với ngành giáo dục Tình hình đầu tư ngân sách Nhà nước cho giáo dụcTiểu học và THCS được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.5: Tình hình đầu tư ngân sách Nhà nước cho giáo dục

Trang 33

Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008

Nguồn: phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Từ Liêm

Với sự quan tâm của Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Tiểu học và THCS

từ năm 2006 đến năm 2007 nguồn vốn đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhànước đã tăng lên 21,35% Nhưng năm 2008 so với năm 2007 thì nguồn vốn Nhànước đầu tư cho giáo dục đã giảm đi 11,65% điều này là do tổng vốn đầu tư pháttriển cho giáo dục năm 2008 giảm đáng kể còn tổng chi thường xuyên cho giáodục tăng lên Vào năm 2007 Nhà nước đã đầu tư rất nhiều cho việc tăng cường

cơ sở vật chất nên đến năm 2008 về cơ bản cơ sở vật chất đã đáp ứng được nhucầu học tập nên số vốn này có giảm và giành nguồn lực hơn cho các khoản chithường xuyên để nâng cao chất lượng giáo dục Năm 2008 nước ta đã thực hiệnvải cách tiền lương tăng mưc lương cơ bản lên 540.000đồng/tháng Do đó tổngkhoản chi cho lương và các khoản có tính chất lương tăng lên làm cho tổng chithường xuyên cho giáo dục của huyện tăng lên Tăng lương cũng đồng nghĩa vớiviệc đời sống của cán bộ giáo viên được cải thiện, đó là nguồn lực động viên độingũ giáo viên tâm huyết hơn với nghề theo đó chất lượng giáo dục cũng đượctăng lên

2.1.2.2 Đầu tư từ nguồn vốn khác:

Để đảm bảo cho giáo dục phát triển một cách toàn diện nhất thì ngoàinguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chúng ta cũng phải huy động từ các nguồnkhác như: Nguồn thu học phí và nguồn thu sự nghiệp khác( khoản thu đóng gópxây dựng trường; thu hỗ trợ Tiểu học; thu từ dịch vụ cho thuê trường lớp, thu

Trang 34

học 2buổi/ ngày…)

Tình hình thu học phí:

Học phí đây là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc của Nhà nước đốivới người đi học Trong điều kiện hiện nay việc thu học phí đóng vai trò rất quantrọng cho việc phát triển giáo dục Đây là một khoản thu không lớn so với tổngchi ngân sách Nhà nước cho giáo dục nhưng nó cũng phần nào làm giảm bớtgánh nặng cho ngân sách trong điều kiện nguồn lực ngân sách còn hạn chế.Trong điều kiện hiện nay, đang thực hiện chủ trương XHH giáo dục thì nguồnthu này dần tăng lên Điếu đó thể hiện sự quan tâm ngày càng cao của người dân,Nhà nước cho giáo dục Việc thu học phí đựơc áp dụng đối với khối THCS cònkhối Tiểu học đã thực hiện phổ cập giáo dục được Nhà nước miễn không phảiđóng học phí nhưng vẫn phải đóng các khoản thu hỗ trợ cho hoạt động phục vụhọc sinh Tiểu học

Mức thu học phí do HĐND và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW căn

cứ vào nhu cầu phát triển giáo dục, mức sống vật chất của nhân dân địa phươngmình và khung học phí nêu trên để quyết định mức thu học phí áp dụng cho khốiTHCS Theo quyết đinh Quyết định số 73/2000/QĐ - UB của UBND thành phố

Hà Nội có qui định về mức thu học phí đối với THCS như sau: Học sinh có cha

mẹ làm nghề nông: 15.000 đồng/tháng; các thành phần khác: 20.000 đồng/họcsinh/tháng Ở huyện Từ Liêm, hiệu trưởng các trường phối hợp với phòng giáodục huyện cũng căn cứ vào khung học phí ở trên, căn cứ vào từng học sinh đểquy định mức thu học phí Học sinh có hoàn cảnh khó khăn được miễn giảm họcphí theo quy định của nhà nước Tình hình thu học phí khối THCS được thể hiệntrong bảng sau:

Bảng 2.6: Tình hình thu học phí khối THCS

ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008

Đơn vị: triệu đồng

Trang 35

Hiện nay khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị đinh 43/2006/NĐ– CP thi nguồn thu học phí ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong việc đảmbảo hoạt động nhà trường Tuy nhiên, mức thu học phí hiện nay dựa trên Quyếtđịnh 73/2000/QĐ- UB của của UBND Thành phố là thấp, không đủ đảm bảo chonhu cầu phát triển của các trường, ngân sách cấp chưa bù đắp được phần kinhphí từ quỹ xây dựng trường khi ngừng thu từ năm học 2006-2007, dễ dẫn đếnviệc các trường đặt thêm nhiều khoản thu không đúng quy định

Tình hình thu đóng góp xây dựng và thu khác

Thuộc nhóm này gồm các khoản thu về đóng góp xây dựng trường, cáckhoản hỗ trợ giáo dục Tiểu học; thu từ dịch vụ cho thuê trường lớp; thu học2buổi/ ngày…

Theo quyết đinh Quyết định số 73/2000/QĐ - UB của UBND thành phố

Hà Nội có qui định về mức thu đóng góp xây dựng trường và một số khoản thukhác như sau: mức thu đóng góp xây dựng trường cao nhất không quá 40.000

Trang 36

đồng/học sinh/năm (học sinh có cha mẹ làm nông nghiệp không quá 20.000đồng/học sinh/năm).Các khoản thu khác: thu học 2 buổi/ngày: Không quá70.000 đồng/học sinh/tháng Ngoài ra, miễn thu 100% đối với các khoản thukhác (thu đóng góp xây dựng trường, thu học 2 buổi/ngày) đối với học sinhnghèo tiểu học, THCS.

Theo qui định trên và dựa vào điều kiện thực tế của huyện tình hình thuđóng góp xây dựng trường và thu sự nghiệp khác được thể hiện cụ thể trongbảng sau:

Bảng 2.7: Tình hình thu đóng góp xây dựng và thu khác thuộc sự nghiệp

giáo dục huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008

Đơn vị: Triệu đồng Ngành học

2.2.2 Mô hình quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Mô hình quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệpgiáo dục nếu hợp lý sẽ là một trong các nhân tố có vai trò mang tính chất quyết

Trang 37

định góp phần nâng cao chất lượng quản lý chi ngân sách Nhà nước Hệ thốngngân sách nước ta chia làm 4 cấp (ngân sách TW, ngân sách tỉnh, ngân sáchhuyện, ngân sách xã) tương ứng với cơ chế phân cấp quản lý hành chính các đơn

vị hành chính Ngân sách Nhà nước huyện Từ Liêm là một cấp ngân sách và nó

có trách nhiệm quản lý chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS

- Chi thường xuyên về sự nghiệp giáo dục Tiểu học

- Chi thường xuyên về sự nghiệp giáo dục THCS

Trong thời gian qua công tác quản lý tài chính ngành giáo dục huyện TừLiêm đã có nhiều thay đổi tích cực theo hướng tăng cường tính chủ động nhiềuhơn trong việc sử dụng và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ công tácchuyên môn, nghiệp vụ của ngành giáo dục Thông qua cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối vớicác đơn vị sự nghiệp công lập qui định tại Nghị định 43/2006/NĐ- CP các cơ sởgiáo dục và các cấp chính quyền địa phương cũng đã quan tâm tới việc tổ chứchuy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, cá nhân cho sự nghiệp giáo dục

Việc thay đổi cơ chế quản lý tài chính tăng cường tính tự chủ cho các cơ

sở giáo dục từ đó nó thúc đẩy Phòng tài chính phải xác định rõ chức năng, nhiệm

Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Từ Liêm

THCSTiều học

Phòng giáo dục

huyện Từ Liêm

Trang 38

vụ và đổi mới phương thức quản lý đối với các trường Khi thực hiện tự chủ các

cơ sở giáo dục ở huyện Từ Liêm sẽ thực hiện công tác quản lý tài chính một cáchcông khai, minh bạch thúc đẩy sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước và nguồnngoài ngân sách Nhà nước một cách có hiệu quả hơn Mọi khoản chi sẽ được xácđịnh rõ khi xây dựng bản qui chế chi tiêu nội bộ của từng trường và gửi Kho bạcnhà nước để kiểm soát chi Từ đó làm cho việc quản lý đối với các cơ sở giáodục của Phòng tài chính sẽ thông thoáng, dễ dàng hơn và đạt hiệu quả cao hơn

(2a) Khi có nhu cầu chi tiêu, Phòng giáo dục huyện Từ Liêm lập giấy rút

dự toán kinh phí sau đó gửi sang Kho bạc huyện để rút tiền

Phòng giáo dục

huyện Từ Liêm

Kho bạc Nhà nước huyện Từ Liêm

Khối Tiểu học

Khối THCS(1)

(2a)

(3b)(3a)

Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Từ Liêm

Trang 39

(3a) Khi có nhu cầu chi tiêu, từng đơn vị thuộc khối Tiểu học đi rút tiềntại Kho bạc Nhà nước huyện (Khoản 02: giáo dục Tiểu học)

(3b) Khi có nhu cầu chi tiêu thì từng đơn vị thuộc khối Trung học cơ sở đirút tiền tại Kho bạc Nhà nước huyện (Khoản 03: giáo dục THCS)

Cấp phát dự toán kinh phí thì các trường phải ghi rõ giấy rút dự toán kinhphí sau đó Phòng tài chính chi ngân sách cho giáo dục Tiểu học và THCS theochương 022 loại 14 khoản 02, 03

Trong quá trình cấp phát kinh phí, Phòng tài chính kết hợp chặt chẽ vớiKho bạc Nhà nước huyện và Phòng giáo dục để tăng cường công tác quản lý đạtkết quả cao

2.2.3 Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm

Lập dự toán chi là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý chi nhưng lại cóvai trò hết sức quan trọng Dự toán chi sẽ là điều kiện đảm bảo việc sử dụngnguồn vốn ngân sách Nhà nước một cách có hiệu quả

Hàng năm căn cứ vào phương hướng và nhiệm vụ phát triển giáo dục củaHĐND - UBND huyện Từ Liêm, tình hình dự toán chi năm trước, các định mức,chế độ quy định, hàng năm các trường (đơn vị dự toán cấp 3) hưởng kinh phíngân sách Nhà nước tiến hành xây dựng dự toán chi của mình gửi phòng Tàichính - Kế hoạch huyện Từ đó phòng tài chính huyện Từ Liêm xem xét tính hợp

lý, hợp lệ của dự toán để lập dự toán cho toàn ngành giáo dục Sau khi lập xongphòng Tài chính - Kế hoạch huyện Từ Liêm gửi dự toán cho UBND huyện đểUBND và HĐND huyện phê duyệt Sau khi huyện phê duyệt thì phòng Tài chính

- Kế hoạch huyện sẽ gửi dự toán này lên Sở tài chính thành phố

Từ đó Sở tài chính kết hợp với Sở kế hoạch và đầu tư, Sở giáo dục xemxét và phê duyệt Khi dự toán chi ngân sách của huyện được Chủ tịch thành phốduyệt thì UBND trình HĐND huyện phê duyệt, UBND ra quyết định cho phòngtài chính thông báo dự toán kinh phí cho các trường, tài khoản của các trường tạiKho bạc nhà nước huyện lúc này đều là số tiền theo dự toán được duyệt

Trang 40

Khi thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghi định 43/2006/NĐ – CP thì việc lập

dự toán của các trường sẽ được lập ổn định trong vòng 3 năm:

Căn cứ vào kết quả phân loại và Quyết định về giao quyền tự chủ tài chínhcho các trường trong giai đoạn 2006 - 2008; Tình hình thực hiện dự toán năm

2006 và dự toán chi năm 2008 do đơn vị lập; Căn cứ vào dự toán chi ngân sáchnhà nước năm 2007 được Sở Tài chính thành phố giao Phòng tài chính thôngbáo dự toán kinh phí năm 2007 cho các trường như sau:

Chi hoạt động thường xuyên từ nguồn ngân sách nhà nước cấp: Dự toán kinh phí ngân sách nhà nước giao năm 2007, phải bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của các các cơ sở giáo dục được ổn định trong 3 năm (2006 - 2008) và được xác định như sau:

Kinh phí NSNN

giao năm 2007 =

Dự toán kinh phí NSNNgiao năm 2006 (1) +

Mức kinh phí tăngthêm năm 2007 (2)

Trong đó: (1) Dự toán kinh phí ngân sách nhà nước giao năm 2006 bảođảm chi phí hoạt động thường xuyên được ổn định 3 năm (2006 - 2008) theoquyết định của cấp có thẩm quyền giao quyền tự chủ tài chính cho các trường

(2) Mức kinh phí tăng thêm năm 2007 cho hoạt động thường xuyên từngân sách nhà nước của từng trường do Sở tài chính quyết định, trong phạm vi

dự toán ngân sách nhà nước được giao và các nhiệm vụ tăng thêm trong năm

2007 của các trường:

+ Chỉ tiêu học sinh, giáo viên tăng thêm trong năm học 2007 - 2008

+ Các chỉ tiêu pháp lý khác có ảnh hưởng đến chi thường xuyên theo cáclĩnh vực hoạt động giáo dục

+ Các yếu tố và nhiệm vụ khác được giao tăng

Bảng 2.8: Dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 – 2008

Đơn vị: Triệu đồng

Ngày đăng: 14/12/2012, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Chất lượng giáo dục văn hoá Tiểu học và THCS - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.3 Chất lượng giáo dục văn hoá Tiểu học và THCS (Trang 27)
Bảng 2.7: Tình hình thu đóng góp xây dựng và thu khác thuộc sự nghiệp  giáo dục huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.7 Tình hình thu đóng góp xây dựng và thu khác thuộc sự nghiệp giáo dục huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 (Trang 35)
Bảng 2.9: Về mức độ đầu tư cho giáo dục trong tổng chi thường xuyên  ngân sách huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 - 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.9 Về mức độ đầu tư cho giáo dục trong tổng chi thường xuyên ngân sách huyện Từ Liêm giai đoạn 2006 - 2008 (Trang 42)
Bảng 2.10: Tình hình chi thường xuyên cho giáo dục Tiểu học và THCS theo nhóm mục chi ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008. - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.10 Tình hình chi thường xuyên cho giáo dục Tiểu học và THCS theo nhóm mục chi ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 (Trang 44)
Bảng 2.11: Tình hình chi cho con người thuộc khối giáo dục Tiểu học và THCS huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.11 Tình hình chi cho con người thuộc khối giáo dục Tiểu học và THCS huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 (Trang 47)
Bảng 2.12: Tình hình chi nghiệp vụ chuyên môn cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.12 Tình hình chi nghiệp vụ chuyên môn cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 (Trang 51)
Bảng 2.13: Tình hình chi mua sắm, sửa chữa cho giáo dụcTiểu học và THCS  ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ 2006 – 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.13 Tình hình chi mua sắm, sửa chữa cho giáo dụcTiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ 2006 – 2008 (Trang 55)
Bảng 2.14: Tình hình các khoản chi khác cho giáo dục Tiểu học và THCS                              ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm
Bảng 2.14 Tình hình các khoản chi khác cho giáo dục Tiểu học và THCS ở huyện Từ Liêm giai đoạn từ năm 2006 – 2008 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w