1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài Dự Thi Tìm Hiểu 70 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Đắk Lắk Và 35 Năm Chiến Thắng Buôn Ma Thuột - Http://Ngoclinhson.violet.vn, Http://Ngoclinhson.co.cc

13 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Dự Thi Tìm Hiểu 70 Năm Lịch Sử Đảng Bộ Đắk Lắk Và 35 Năm Chiến Thắng Buôn Ma Thuột
Trường học Đại Học Tây Nguyên
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Bài Dự Thi
Năm xuất bản 2010
Thành phố Bảo Lộc
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 362,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài dự thi TÌM HIỂU 70 NĂM LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ ĐẮK LẮK VÀ 35 NĂM CHIẾN THẮNG BUÔN MA THUỘT http //ngoclinhson violet vn, http //ngoclinhson co cc http //ngoclinhson violet vn 1/13 BÀI DỰ THI (tham khảo đ[.]

Trang 1

BÀI DỰ THI (tham khảo - được tổng hợp, biên tập bởi NLS, 15/01/2010)

TÌM HIỂU 70 NĂM LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ ĐẮK LẮK

VÀ 35 NĂM CHIẾN THẮNG BUÔN MA THUỘT

Người tham gia dự thi:

Chức vụ:

Đơn vị:

Câu 1 Tỉnh Đắk Lắk được thành lập từ năm nào? Tỉnh Đắk Lắk hiện nay có

bao nhiêu huyện, thị, thành phố và tên gọi các huyện, thị, thành phố?

Trả lời.

Qua bao thăng trầm, biến cố nhập-tách, đến ngày 02/07/1923 tỉnh Đắk Lắk chính thức được thành lập khi toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định tách Đắk Lắk khỏi tỉnh Kon Tum

Hiện nay tỉnh có 15 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện

Đó là: Thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, huyện Krông Búk, huyện Ea Kar, huyện M'đrắk, huyện Krông Bông, huyện Krông Pắk, huyện Buôn Đôn, huyện Ea Suop, huyện KrôngANa, huyện CuKuin, huyện Ea H'leo, huyện Cư M'gar, huyện Krông Năng và huyện Lắk

Câu 2 Vì sao Bộ Chính trị lại chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu

của chiến dịch Tây Nguyên? Nêu tóm tắt diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/03/1975)?

Trả lời.

Buôn Ma Thuột là thị xã của tỉnh Đắk Lắk và cũng là thị xã lớn nhất ở Tây Nguyên, nằm trên trục đường chính hai quốc lộ 14 và quốc lộ 26, thuận lợi cho việc phát triển chiến đấu ra các tỉnh Tây Nguyên, xuống duyên hải miền Trung

và Nam Bộ Buôn Ma Thuột là vị trí chiến lược quan trọng ở nam Tây Nguyên nhưng lại tương đối cô lập xa các trung tâm quân sự lớn, hạn chế sự chi viện của đối phương Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận có địa thế rất thuận lợi cho tác chiến hợp đồng binh chủng, và ta chưa bố trí binh lực ở đây nên địch chủ quan,

sơ hở hơn so với ở Pleiku và Kon Tum Do đó một trận đánh lớn ở Buôn Ma Thuột sẽ tạo sự rung động mạnh mẽ về chiến lược làm đảo lộn thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên, uy hiếp lực lượng địch ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung, mở ra hướng tiến công quan trọng vào Sài Gòn Với những phân tích chiến lược như trên, ngày 08/01/1975, Bộ Chính trị đã quyết định chọn Buôn

Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên

Năm 1975, Tây Nguyên là chiến trường chính trong hoạt động mùa khô toàn miền Nam Tháng 09 năm 1974 Bộ tổng tư lệnh giao nhiệm vụ lần thứ nhất cho chiến dịch Tây Nguyên Cụ thể là sẽ mở chiến dịch tiến công lớn ở Nam Tây Nguyên, tiêu diệt một số lực lượng địch, giải phóng một số vùng đất đai, tạo điều kiện để mở thông đường chiến lược Hồ Chí Minh vào đến Nam Bộ, mục tiêu tiến công chủ yếu là quận lỵ Đức Lập (Đắk Mil)

Trang 2

Diễn biến của Chiến dịch Buôn Ma Thuột: Sáng ngày 05/03/1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21, ngày 08/03/1975 Trung đoàn 48 đánh chiếm quận lỵ Thuận Mẫn và căn cứ Cẩm Ga cắt đường 14, diệt tiểu đoàn bảo an, bắt 120 tên địch thu 200 súng Ngày 09/03/1975 sư đoàn 10 đánh quận lỵ Đức Lập, căn cứ núi lửa, cứ điểm 22, nhưng chiến sự kéo dài đến 10/03/1975 mới chiếm được quận lỵ và các cứ điểm Đắk Song, Đắk Sắc, diệt 1 tiểu đoàn của trung đoàn 53,

1 tiểu đoàn bảo an, bắt 100 tên địch, thu 14 pháo, 20 xe tăng, thiết giáp Đúng 02 giờ 03 phút sáng ngày 10/03/1975, từ các hướng, quân ta nổ súng tấn công vào thị xã Buôn Ma Thuột, mở đầu, đặc công đánh sân bay thị xã, khu kho Mai Hắc

Đế, lực lượng bộ binh đánh sân bay Hòa Bình, cùng thời gian này hoả tiễn H12, ĐKB và các cụm pháo tập trung bắn vào sư bộ 23 của địch Sáng 10/03 ở hướng Bắc, bộ binh ta có xe tăng phối hợp đánh vào Ngã Sáu và đánh chiếm tiểu khu Buôn Ma Thuột, hướng tây bắc lực lượng ta tiêu diệt sở chỉ huy địch ở khu kho Mai Hắc Đế, đánh chiếm các cứ điểm Chư Êbur, Chư Đluê…, phá hệ thống cứ điểm án giữ vòng ngoài thị xã Ở hướng tây quân ta đánh chiếm doanh trại tiểu đoàn quân y và áp sát căn cứ sư bộ 23, ở hướng nam ta đánh vào khu hành chính, khu tiếp vận, sở thú y, ty ngân khố, khu cư xá sỹ quan và đánh chiếm quận lỵ Hòa Bình Đến 10 giờ ngày 11/03/1975, quân ta đã làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột Ngày 28/03/1975 toàn tỉnh Đắk Lắk đã hoàn toàn giải phóng, chính quyền thuộc về tay nhân dân

Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã đi vào lịch sử là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất của cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nước của quân và dân ta, mở màn cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Câu 3 Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Đắk Lắk được thành lập vào thời gian

nào? tại đâu? Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh đã trải qua bao nhiêu kỳ đại hội, được tổ chức vào thời gian nào, tại đâu? Nêu tên các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy từ khi Đảng bộ tỉnh thành lập đến nay?

Trả lời.

Chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên ở Đắk Lắk được thành lập vào cuối năm 1940 tại Nhà Đày Buôn Ma Thuột, do các đồng chí hoạt động bí mật trong nhà tù đứng ra thành lập với 10 đồng chí Đến ngày ra tù (tháng 04/1945) chi bộ đã phát triển lên 150 đồng chí

Từ khi thành lập đến nay Đảng bộ Đắk Lắk đã trải qua 14 kỳ đại hội, cụ thể là:

- Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 08 năm 1960 tại vùng núi Chư Djũ, có 50 đại biểu Đồng chí Nguyễn Hồng Ưng (Vũ Anh Ba) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy

- Đại hội Đảng bộ lần thứ II được tổ chức vào tháng 08 năm 1963 tại EaĐrăh, vùng căn cứ Đông Djũ, đồng chí Nguyễn Liên (Bốn Đạo) làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ III được tổ chức vào tháng 07 năm 1966 tại vùng căn cứ phía nam của tỉnh (EaPlay, Đắk Tuôr), đồng chí Nguyễn Liên (Bốn Đạo) làm Bí thư

Trang 3

- Đại hội Đảng bộ lần thứ IV được tổ chức vào tháng 04 năm 1969 tại buôn Mnăng Đơng, vùng căn cứ phía nam của tỉnh, đồng chí Nguyễn Liên (Bốn Đạo) làm Bí thư và sau đó là đồng chí Võ Trung Thành (Năm Vinh)

- Đại hội Đảng bộ lần thứ V được tổ chức vào tháng 10 năm 1971 tại buôn Ngô vùng căn cứ phía nam của tỉnh, đồng chí Huỳnh Văn Cần làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ VI được tổ chức vào tháng 09 năm 1973 tại buôn

Ea M'đlan, vùng căn cứ phía bắc của tỉnh, đồng chí Huỳnh Văn Cần làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ VII được tổ chức hai vòng, vòng 1 từ ngày 12/11/1976 đến 20/11/1976; vòng 2 từ ngày 13/06/1977 đến ngày 19/06/1977 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Trần Kiên làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII được tổ chức từ ngày 07 đến ngày 10/11/1979 tại thị xã Buôn Ma Thuột đồng chí YNgông NiêKđăm làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ IX được tổ chức từ ngày 05 đến ngày 09/03/1983 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí YNgông NiêKđăm làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ X được tổ chức từ ngày 09 đến ngày 14/10/1986 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Huỳnh Văn Cần làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ XI được tổ chức 2 vòng, vòng 2 từ ngày 08 đến ngày 11/01/1992 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Huỳnh Văn Cần làm Bí thư, sau đó đồng chí AmaPui làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ XII được tổ chức từ ngày 05 đến ngày 10/05/1996 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Mai Văn Năm làm Bí thư và đến tháng 09/1999 đồng chí Nguyễn An Vinh làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14/12/2005 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Y Luyện Niê Kđăm làm Bí thư

- Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV được tổ chức từ ngày 31 đến ngày 02/02/2001 tại thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Niê Thuật làm Bí thư

Câu 4 Vai trò của Nhà Đày Buôn Ma Thuột trong thắng lợi của Cách mạng

tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk?

Trả lời.

Trong thắng lợi của các mạng tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk, Chi bộ Đảng Cộng Sản Nhà Đày Buôn Ma Thuột có vai trò là hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho tù nhân; đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt động cách mạng của từng người sau ra tù; tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột; tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng; bồi dưỡng lý luận cách mạng và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho những người sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách mạng; tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách mạng ở Đắk Lắk phát triển thêm một bước mới, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 đi đến thắng lợi

Trang 4

Câu 5 Hãy nêu các thành tựu nổi bật trên lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh

Đắk Lắk sau 35 năm giải phóng (từ 1975 đến nay), ý nghĩa của những thành tựu đó?

Trả lời.

Các thành tựu nổi bật trên lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk sau 35 năm giải phóng:

VỀ LĨNH VỰC KINH TẾ

Từ một nền kinh tế nhỏ bé, mang tính tự cung, tự cấp, đến nay nền kinh tế của tỉnh những năm vừa qua đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng trung bình của cả nước Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001 –

2003 đạt khoảng 9-0% Tổng GDP năm 2008 ước tính gấp 1,46 lần so với năm

2005, bình quân trong 3 năm đạt 12,68%/năm Thu nhập bình quân đầu người (theo giá trị hiện hành) là 10,98 triệu đồng Tỉ trọng nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 55,07% GDP, công nghiệp - xây dựng chiếm 15,94%, thương mại - dịch

vụ chiếm28,99% Trong 9 tháng đầu năm 2009 mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 11,16% Sản xuất nông - lâm - nghiệp các năm đều có bước phát triển khá và tương đối toàn diện Nhân dân không những đủ ăn mà còn dự trữ và đảm bảo an ninh lương thực trên phạm vi địa bàn tỉnh Năm 1975 tổng sản lượng lương thực có hạt là 61.532 tấn, đến năm 2008 tổng sản lượng lương thực

có hạt đạt 946.789 tấn Sau năm 1975 cả tỉnh chỉ có 200ha ruộng nước, 5000ha

cà phê, 3000ha cao su thì đến nay đã có trên 25.000 ha ruộng nước, 181.120ha

cà phê, 23.000ha cao su… Sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong tỉnh mà còn tạo ra nguồn nông sản hàng hóa lớn phục vụ cho xuất khẩu Trong chăn nuôi, hình thành nhiều trang trại có quy mô lớn, đàn gia súc gia cầm không ngừng được tăng lên cả về số lượng và chất lượng Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đã đạt được một số kết quả nhất định theo hướng tăng giá trị kinh tế, tiếp tục phát triển ổn định Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh hàng năm luôn vượt kế hoạch Năm 2008 thu được 844 tỉ đồng vượt 10,8%

so với kế hoạch, kim nghạch xuất khẩu tăng mạnh, đạt 700 triệu USD Hoạt động thương mại có nhiều chuyển biến tích cực góp phần thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng xã hội, thị trường nông thôn có sự phát triển đáng kể, cơ bản đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người dân Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ năm

2008 đạt 13.770 tỷ đồng

VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA XÃ HỘI

Hoạt động văn hóa thông tin được đẩy mạnh, bản sắc dân tộc được giữ gìn và phát huy Toàn tỉnh có trên 70% xã có nhà văn hóa và hầu hết các thôn, buôn có nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng Dịch vụ viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt đến 100% số xã trên địa bàn tỉnh Báo chí đưa đến người dân ngày càng nhiều và nhanh hơn, đã có 150/154 xã có báo Nhân Dân phát hành hàng ngày, 141/154 xã có điểm bưu điện văn hóa xã Thể thao và du lịch hoạt động đa dạng phong phú để tuyên truyền xây dựng đời sống văn hóa, nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật được tổ chức từ tỉnh đến cơ sở đã góp phần

Trang 5

cải thiện đời sống văn hóa cho nhân dân, phong trào thể dục thể thao ngày càng phát triển và đạt thành tích cao trong khu vực và toàn quốc

Ngành giáo dục phát triển khá cả về quy mô, chất lượng và số lượng, hệ thống giáo dục ngày càng phát triển Năm học 1975 - 1976 toàn tỉnh mới có 159 trường với 1 364 lớp, 58 297 học sinh, đến năm học 2008 - 2009 đã có 483 074 học sinh trong đó có 163 339 học sinh dân tộc, chiếm tỉ lệ 33,8% Đến nay không còn tình trạng học ca 3 Năm học 2009 - 2010 có 876 trường, 492 441 học sinh, tăng 14 trường, tăng 2 505 học sinh so với năm học trước Chất lượng đội ngũ quản lý giáo giáo dục và giáo viên ngày một nâng lên, chất lượng học tập của học sinh cũng ngày càng chuyển biến rõ rệt Có 12/14 huyện thị được kiểm tra công nhận đạt chuẩn về phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Công tác y tế bảo vệ sức khỏe nhân dân được chú trọng và đầu tư nâng cấp, mạng lưới y tế cơ sở được mở rộng đến thôn, buôn, đến nay có 100% số xã có trạm y tế, 75% trạm y tế xã phường có bác sĩ, 56% trạm y tế xã phường đạt chuẩn quốc gia Thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cho đồng bào thiểu số

Tỉnh đã triển khai nhiều chương trình dự án với nhiều nguồn vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch; các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm đã góp phần nâng cao trình độ sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân các đồng bào trong tỉnh; chương trình định canh định cư xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc được triển khai đồng bộ rộng khắp và đạt được những kết quả đáng khích lệ Tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 16%, hàng năm tạo việc làm mới cho hàng chục ngàn lao động cho đồng bào thiểu số

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng được giữ vững, hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, năng lực lãnh đạo và quản lý điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp ngày một nâng lên Hoạt động của mặt trận tổ quốc, của các đoàn thể quần chúng có nhiều chuyển biến tích cực Công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng có nhiều chuyển biến tốt, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các cơ sở Đảng được nâng lên Niềm tin của cán bộ đảng viên và nhân dân vào sự nghiệp đổi mới ngày càng được củng cố

Từ sau 35 năm giải phóng đến nay tỉnh Đắk Lắk đã thay da đổi thịt Buôn Ma Thuột từ một thị xã nhỏ bé nay đã trở thành một thành phố lớn phát triển và đầy tiềm năng

Câu 6 Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005-2010) đã

đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng, phát triển tỉnh Đắk Lắk Nêu tóm tắt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kinh tế xã hội, quốc phòng

-an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị?

Trả lời.

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Đại hội xác định phương hướng mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ 2006 - 2010:

“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, khắc phục mọi khó khăn, thách thức, huy động và

Trang 6

sử dụng tốt các nguồn lực, khai thác có hiệu quả các tiềm năng để tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển đô thị và nông thôn Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh và bền vững Gắn phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Phát triển văn hóa thực

sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, đảm bảo quốc phòng - an ninh”.

Từ mục tiêu tổng quát, Đại hội xác định tiếp tục thực hiện đồng bộ các chương trình có tính chất đột phá để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẻ và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị cao cấp trong tỉnh Tập trung xây dựng các chương trình như: phát triển thủy lợi, phát triển công nghiệp - tiêu thủ công nghiệp nông thôn, phát triển kinh tế buôn, thôn, phát triển chăn nuôi, chương trình giảm nghèo, chương trình đào tạo nhân lực…

Đại hội đề ra các chỉ tiêu chủ yếu cho đến năm 2010:

1 Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 11-12%/năm, trong đó nông ngiệp tăng 5-6%, công nghiệp - xây dựng 22-23%, thương mại - dịch vụ 18-19%

Cơ cấu kinh tế được xác định là: nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; trong

đó tỷ trọng nông - lâm nghiệp 48-49%, công nghiệp - xây dựng 20,5-21% và thương mại - dịch vụ 30,5-31%

2 Thu nhập bình quân đầu người đạt 850 USD (tính theo giá so sánh 1994),

từ 9-9,5 triệu đồng (tính theo giá hiện hành)

3 Phát triển cơ sở hạ tầng

- Thủy lợi: bảo đảm tưới chủ động cho trên 70% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới

- Giao thông: cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa toàn bộ các tuyến đường tỉnh, đường đến trung tâm xã, 50% hệ thống đường huyện, 25% đường xã

và liên xã

- Điện: 95% thôn, buôn trở lên có điện, trong đó 90-95% số hộ được dùng điện Mức tiêu thụ điện bình quân 350 KWh/người/năm

- Thông tin: 100% xã có hệ thống tin thông suốt, 100 người dân có 15 máy điện thoại

4 Nâng độ che phủ của rừng đạt 50% diện tích tự nhiên

5 Thu ngân sách: hàng năm huy động 11-12%GDP (theo giá hiện hành)

6 Phấn đấu giá trị xuất khẩu đạt từ 1.600 - 1.700 triệu USD, nhập khẩu trên

100 triệu USD

7 Huy động đầu tư toàn xã hội bình quân đạt từ 33-35%GDP, tăng bình quân hàng năm 18,5%

8 Giảm tỷ suất sinh hàng năm 1%; tốc độ tăng dân số tự nhiên đến năm 2010 còn 1,5%; dân số khoảng 1,91 triệu người (trong đó có 30% dân số thuộc khu vực thành thị), với gần 1 triệu lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,5% mỗi năm

9 Tất cả các trạm y tế xã có bác sỹ và đủ điều kiện làm việc; 85% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 25%

Trang 7

10 Giải quyết việc làm cho 170.000 lao động, đưa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến năm 2010 đạt 36%, trong đó đã qua đào tạo nghề là 28%

11 Tất cả các huyện, thành phố có trường dân tộc nội trú, có trung tâm giáo dục thường xuyên Phổ cập trung học cơ sở trong độ tuổi đạt 85-90%; phấn đấu phổ cập Trung học cơ sở vào năm 2008; 80 - 85% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo; 60% trường học được kiên cố hóa; 11% trường mầm non, 52% trường tiểu học, 18% trường Trung học cơ sở và 23% trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia

12 Phấn đầu đến năm 2010 có 85% hộ trở lên đại tiêu chuẩn quốc gia gia đình văn hóa các cấp, 30% xã, phường, thị trấn, 50% thôn, buôn, tổ dân phố, 80-85% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa; 100% buôn có nhà văn hóa cộng đồng vào năm 2007; 100% xã có trạm, đài truyền thanh vào năm 2006; phủ sóng phát thanh và truyền hình toàn tỉnh Quy hoạch đất để xây dựng hội trường, điểm sinh hoạt văn hóa - thể thao ở 100% thôn, buôn

13 Đến năm 2010 có 100% dân cư đô thị, 70% dân cư nông thôn được dùng nước sạch

14 Xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc; giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Xây dựng lực lượng vũ trang bảo đảm số lượng, có chất lượng toàn diện Giải quyết dứt điểm vấn đề Fulro bên trong, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, vượt biên, xâm nhập trái phép

15 Nâng cao lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong tình hình mới, đồng thời chăm lo xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; 100% thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ Đảng vào năm 2010; 75% số tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh; 90% đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm

vụ, trong đó có 35% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bình quân mỗi năm kết nạp

từ 2.500 - 3.000 đảng viên

NHỮNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh ta trở thành tỉnh có nền kinh tế đạt mức trung bình tiên tiến của cả nước

1 Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa -hiện đại hóa gắn với việc xây dựng nông thôn mới, cải t-hiện đời sống dân cư nông thôn

2 Đẩy nhanh tiến độ phát triển công nghiệp, góp phần tích cực chuyển dịch

cơ cấu và tăng trưởng nền kinh tế

3 Phát triển thương mại - dịch vụ theo hướng kinh tế mở, hội nhập, tận dụng

cơ hội phát triển thị trường trong nước và nước ngoài

4 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả quy hoạch, phát huy tối đa các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường

Làm tốt công tác quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực bảo quản cho định hướng phát triển lâu dài

Thực hiện chiến lược huy động các nguồn lực của tỉnh để phát triển kinh tế

-xã hội

Trang 8

Ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mà trọng tâm là thuỷ lợi, giao thông, điện, trường học, y tế với tỷ trọng lớn, trước hết là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, vùng xa

Tăng cường quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

5 Tiếp tục củng cố phát triển các thành phần kinh tế nhằm khai thác tối đa các nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

II Phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và các vấn đề xã hội

1 Tập trung tạo sự chuyển biến cơ bản về giáo dục - đào tạo phục vụ yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực

2 Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

3 Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho nền văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội

4 Ổn định mức tăng dân số hợp lý, tiếp tục thực hiện xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống và giải quyết việc làm cho người lao động

5 Thực hiện tốt chính sách dân tộc và các chính sách xã hội khác bảo đảm công bằng xã hội

6 Thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo

III Đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vẩn ổn định chính trị để phát triển kinh tế - xã hội

Các cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và các tổ chức trong hệ thống chính trị phải nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới Phát huy truyền thống cách mạng và sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc Làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, nêu cao cảnh giác

cách mạng, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại âm mưu "diễn

biến hòa bình", bạo loạn, lập đổ của các thế lực thù địch Bảo vệ vững chắc độc

lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tập trung xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu các lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm tốt công tác giáo dục chính trị huấn luyện quân

sự, chuyên môn nghiệp vụ sát với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu Xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, công tác tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu và bảo đảm chất lượng Đầu tư trang

bị, bảo đảm tốt hơn điều kiện sinh hoạt, học tập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho lực lượng vũ trang

Tiếp tuc bổ sung, hoàn chỉnh các phương án phòng thủ, kế hoạch phòng không nhân dân nhất là phương án phòng chống gây rối, biểu tình, bạo loạn, khủng bố ở cấp xã, huyện, tỉnh Tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, quan tâm đầu tư các công trình phòng thủ, quy hoạch, sắp xếp, bố trí dân cư phù hợp với thế trận phòng thủ, nhất là các điểm dân cư ở các biên

Trang 9

giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, tăng cường mối quan hệ hữu nghị với tỉnh Mondulkiri - Campuchia

Đẩy mạnh công tác phát động quần chúng, tuyên truyền giáo dục nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng Chủ động phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả các tình huống xảy ra ngay tại cơ sở, giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan đến an ninh nông thôn Nâng cao vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, phát động sâu rộng phong trào bảo vệ

an ninh Tổ quốc, xây dựng lực lượng cơ sở cốt cán ở thôn, buôn vững mạnh toàn diện

Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; kiềm chế tiến tới làm giảm vi phạm, tội phạm nhất là các tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm, tội phạm có tổ chức, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quốc phòng - an ninh, trật tự xã hội, đặc biệt là quản

lý nhân khẩu, hộ khẩu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố xét xử và thi hành án; xử lý kip thời, nghiêm minh, đúng pháp luật các loại tội phạm; giải quyết có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nhân dân Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và các cơ quan nội chính trong sạch, vững mạnh để hoàn thành nhiệm vụ; tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho cơ quan tư pháp

IV Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tích cực xây dựng chỉnh đốn Đảng; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện

1 Tiếp tục xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phát huy xã hội chủ nghĩa, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả

2 Tăng cường đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng nhân dân vững mạnh

3 Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Tổ chức Đảng và đảng viên

4 Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đi vào chiều sâu, làm chuyển biến mạnh mẽ về chất

Câu 7 Hãy viết về một tấm gương đảng viên tiêu biểu trong những năm đổi

mới ở địa phương hoặc nơi công tác, học tập mà ông, bà, anh, chị, đồng chí tâm đắc nhất; hoặc viết về suy nghĩ, cảm xúc của bản thân về lịch sử vẻ vang của Đảng bộ tỉnh qua 70 năm hình thành và phát triển

Tấm gương Đảng viên tiêu biểu trong những năm đổi mới mà tôi tâm đắc là đồng chí Y Ngông Niê Kđăm, sinh ngày 13/08/1922 tại buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk

Trang 10

Xuất thân trong một gia đình nông dân, quê hương có nhà tù giam giữ, tù đày những tù chính trị yêu nước của thực dân Pháp, đồng chí đã sớm ý thức được

"nước bị xâm lược, dân mất tự do", sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách

mạng trước cách mạng Tháng Tám năm 1945

Từ năm 1930 đến năm 1936 đồng chí theo học trường tiểu học Pháp - Đê

(Franco - Êđê) tại thị xã Buôn Ma Thuột Vào những năm cuối ở đây đồng chí

đã tham gia Ban lãnh đạo học sinh đấu tranh chống chế độ lao động quá sức đối với học sinh, đòi đủ cơm ăn hàng ngày, đòi tăng giờ học, đòi được học bằng tiếng mẹ đẻ thay thế cho tiếng Pháp, được cấp học bổng cho những học sinh giỏi, cuối cùng thực dân Pháp phải chấp nhận

Từ năm 1937-1940 đồng chí học tại trường Thành chung Quy Nhơn, tham gia

tổ chức hướng đạo sinh, học tiếng Kinh và tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, cứu đói ở miền Bắc, bị thực dân Pháp tình nghi đuổi về quê

Từ năm 1942-1945 đồng chí học y sỹ tại trường Y khoa Đông dương ở Sài Gòn, tham gia phong trào thanh niên yêu nước, một tổ chức Việt minh do những người cộng sản lãnh đạo

Năm 1945 đồng chí tham gia phong trào Việt minh, vận động tổng khởi nghĩa

ở tỉnh Đắk Lắk Ngày 24/08/1945 chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân, đồng chí được cử làm Phó chủ tịch UBND cách mạng tỉnh Đắk Lắk

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng giao nhiều trọng trách:

- Đầu năm 1946 làm Phó ban quốc dân thiểu số miền Tây Nam Trung bộ, phụ trách xây dựng cơ sở vùng địch hậu

- Cuối năm 1946 làm Phó giám đốc Nha dân tộc thiểu số Trung ương, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp quốc dân Việt nam

- Năm 1947-1948 đồng chí học tại Trường Đại học y khoa

- Năm 1950 đồng chí trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt nam và phục vụ trong quân đội Từ năm 1950-1951 đồng chí làm Đội phó Đội điều trị phục vụ chiến dịch trung du Năm 1952-1953 phục vụ chiến dịch tây bắc Năm 1954 đồng chí là Phân viện phó Phân viện 9 phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ

- Từ năm 1955-1967 đồng chí là giám đốc Trường dân tộc Trung ương

- Từ năm 1968-1975 đồng chí làm phó giám đốc, rồi giám đốc trường Học sinh miền Nam tại Quế Lâm (Trung Quốc), Bí thư Đảng ủy nhà trường Sau khi miền Nam được giải phóng, nước nhà thống nhất, đồng chí được điều về tham gia tỉnh ủy và làm Phó chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Đắk Lắk

Tháng 09/1976 đồng chí được cử làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, ủy viên Đảng đoàn Bộ Giáo dục

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) đồng chí được bầu là ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng, sau đó được cử giữ chức vụ Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Đắk Lắk

Năm 1979 đồng chí được bầu giữ chức Bí thư tỉnh ủy tỉnh Đắk Lắk

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (03/1982) đồng chí được bầu

là ủy viên BCH TW Đảng Sau đại hội V của Đảng, đồng chí được tỉnh ủy bầu giữ chức Bí thư tỉnh ủy tỉnh Đắk Lắk đến cuối năm 1986

Ngày đăng: 17/01/2023, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w