1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI Tìm hiểu về khủng hoảng tài chính quốc tế

37 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về khủng hoảng tài chính quốc tế
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản N/A
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 187,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận có thể được coi là một công trình nghiên cứu Do vậy để hoàn thành một đề tài tiểu luận là một công việc không phải nhỏ (Tìm tài liệu trên nhiều phương tiện thông tin như giáo trình, sách báo[.]

Trang 2

Tiểu luận có thể được coi là một công trình nghiên cứu Do vậy để hoàn

thành một đề tài tiểu luận là một công việc không phải nhỏ (Tìm tài liệu trên nhiều phương tiện thông tin như giáo trình, sách báo, thông tin trên thư viện, internet,…để nghiên cứu).

Vì vậy, sau khi hoàn tất tiểu luận với đề tài “Tìm hiểu về khủng hoảng tài chính quốc tế”, nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn:

Cảm ơn trường Đại học công nghiệp TP hồ Chí Minh đã tạo môi trường tốt cho em nghiên cứu và học tập.

Cảm ơn Bộ phận thư viện đã tạo điều kiện cho em mượn sách và các tài liệu để em có thể học tập và làm việc một cách có hiệu quả.

Chân thành cảm ơn giảng viên ……… đã tận tình hướng dẫn nhóm chúng em trong quá trình thực hiện đề tài tiểu luận này.

Với những giới hạn về kiến thức và thời gian, trong quá trình tìm hiểu không tránh khỏi thiếu sót, mong cô và các bạn tận tình góp ý để chúng em hoàn thiện hơn nữa những kiến thức của mình.

Nhóm chúng em rất chân thành cảm ơn và mong nhận được ý kiến đóng góp của cô để đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất.

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦUCuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu dù đã đi qua nhưng hậu quả mà nó để lạicho nền kinh tế của nhiều nước là rất nặng nề, thậm chí đến lúc này nhiều nước vẫncòn đang vật lộn trong những khó khăn mà cuộc khủng hoảng qua đi vẫn còn để lại.Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn Cuộc khủng hoảng xuất phát từ Hoa Kỳ đã lanrộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suygiảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trê n thế giới.

Vậy do đâu mà cuộc khủng hoảng tài chính này lại có sức phá hoại ghê gớm nhưvậy? Nguyên nhân của nó là gì? Những hậu quả mà nó gây ra đối với các nền kinh tếthế giới và Việt Nam ra sao? Và các nước nói chung cũng như Việt Nam nói riêng đã

có những giải pháp gì để ứng phó với cuộc khủng hoảng này?

Xuất phát từ những thắc mắc trên, nhóm sinh viên chúng em đã tiến hành tìm hiểu đềtài tiểu luận “Tìm hiểu về khủng hoảng tài chính quốc tế”

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1.1 Khủng hoảng tài chính là gì?

1.1.1 Khái niệm

Khủng hoảng Tài chính là cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các thị trường chứngkhoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác Sự đổ vỡ trầm trọngcác bộ phận của thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngânhàng và tổ chức tài chính do sự sút giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuốicùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính về sự giảm sútnghiêm trọng các hoạt động kinh tế

Có thể nói:“Khủng hoảng Tài chính tiền tệ chính là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phậncủa thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chứctài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sựđông cứng và bất lực của thị trường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt độngkinh tế”

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tếtrong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Khủng hoảng tàichính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung Nhu cầu tiền mặt củangười dân hay của nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng vàthị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có thểsụp đổ Trong nền kinh tế thế giới hiện đại sự lây lan của khủng hoảng tài chínhthường đi kèm với sự khủng hoảng kinh tế kéo dài

1.1.2 Phân loại:

Có các loại khủng hoảng tài chính như sau:

Khủng hoảng tiền tệ (Currency crisis), còn được gọi là khủng hoảng tỷ giá hối đoáihay khủng hoảng cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sựgiảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan cótrách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi

ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối

Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis), Lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng chorằng tính bất ổn (dễ đổ vỡ) của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những thông tin bấtcân tương xứng, là tình trạng khi một bên trong mối quan hệ kinh tế hay giao dịch có

ít thông tin về phía bên kia

Khủng hoảng kép (Twin Crisis), Khủng hoảng kép xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ vàkhủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời với nhau

Khủng hoảng nợ nần : là cuộc khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát triển vàothập kỷ 80 thể kỷ XX Có nhiều khả năng đánh giá khả năng thanh toán nguồn vaynước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ thanh toán nợnước ngoài tức là tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trảtrong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặctrong năm trước đó Bình thường chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớnhơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn

Trang 6

1.2 Sơ lược về cuộc khủng hoảng

1.2.1 Dấu hiệu của cuộc khủng hoảng

Tuỳ theo mức độ và phạm vi, khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sauđây:

+ Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền

+ Tỷ gia hối đoái tăng đột biến và dây chuyền

+ Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, cầu tín dụng sụtgiảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm

+ Hệ thống ngân hàng bị tê liệt

+ Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng

+ Các hoạt động kinh tế bị suy giảm

1.2.2 Hậu quả và hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính, nói chung, thường gây ra những tác động lớn đối với cả xãhội Bởi kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nên khi nềnkinh tế bị tác động mạnh, nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng (cả tích cực lẫn tiêu cực)trong mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh của đời sống

Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộn trật tự

xã hội Trong tất cả các doanh nghiệp, tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằm duy trì sựhoạt động của doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động Khi gặp phải khủnghoảng tài chính, các doanh nghiệp khó có khả năng mở rộng đầu tư và phát triển, gây

sự đình trệ trong công việc; thậm chí còn có thể phá sản Sự phá sản của doanhnghiệp này sẽ tác động tới các doanh nghiệp khác, và cao hơn nữa là tác động tới toàn

bộ nên kinh tế, theo một hiệu ứng dây chuyền (tùy theo quy mô của doanh nghiệp).Không những thế, khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra những bất ổn về xã hội

do lượng người thất nghiệp gia tăng

Tuy nhiên, bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tích cực lênnền kinh tế Nó báo hiệu sự chấm dứt thế độc tôn của các “ông lớn” trên thị trường tàichính, góp phần làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế Đồng thời, khủng hoảng tàichính cũng buộc người ta người ta phải xem xét, sửa đổi các nguyên tắc đã quy địnhlên hệ thống tài chính từ trước tới nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thíchhợp để tạo ra theo kịp những biến đổi trong xã hội, từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn vàchủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng trong tương lai

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

2.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng trên quy mô toàn cầu

2.1.1 Nguyên nhân gián tiếp

Bong bóng tài chính và bất động sản cùng với giám sát tài chính thiếu thiện ở Hoa

Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dần tớimột cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2007 bùng phát mạnh mẽ vào cuối năm

2008 Thông qua quan hệ kinh tế tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiếtcủa Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới

Trang 7

Một số nguyên nhân bắt nguồn từ:

Khủng hoảng ngân hàng

Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng Vìngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khi khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽrất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ Sự rút tiền ồ ạt có thểdẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi củamình, trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạt lanrộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Cũng có thể hiện tượngtrên không lan rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn) do longại về sự thiếu hụt trong ngân sách Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân

tố gây ra khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng trên thị trường tài chính

Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do hai nguyên nhân chính: docác chính sách của Nhà nước và do sự tồn tại của các bong bóng đầu cơ Yếu tố đầutiên phải nói đến, đó chính là các chính sách của Nhà nước Khi nhà nước phát hànhtiền nhằm trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới

tỷ giá cố định Người dân sẽ mất lòng tin vào nội tệ và chuyển sang tích trữ bằng cácloại ngoại tệ Khi đó dự trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ

bỏ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những

“bong bóng” đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ Khi hầu hết những người tham gia thịtrường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tài chính (chẳnghạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đích đầu tư lâu dài, mà chỉmua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và thu lợi nhuận, điềunày đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao, vượt quá giá trị thực của nó Tình trạngnày xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính, do các nhà đầu

tư ngắn hạn kiểu trên luôn mua và bán theo xu hướng chung trên thị trường: họ muavào khi thấy nhiều người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán rakhi có nhiều người cùng bán, gây tình trạng rớt giá, họ không cần hiểu biết nguyên dokhi nào cần mua vào, khi nào cần bán ra nên gọi là “tâm lý bầy, đàn”

Khủng hoảng tài chính thế giới

Khi một quốc gia có đồng tiền mạnh đột ngột phá giá đồng tiền của mình hoặc khimột nước mất đi khả năng hoàn trả các khoản nợ quốc gia, gây khủng hoảng tiền tệ

Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế

Các tập đoàn thường vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kếhoạch đầu tư không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc khôngthanh toán được các khoản vay để đầu tư dẫn tới phá sản Do bị hiệu ứng dây chuyền

từ khủng hoảng chung, khi đó các doanh nghiệp không vay được vốn để đầu tư hoặccác dự án đầu tư không thu hồi được vốn do tình trạng khủng hoảng

2.1.2 Nguyên nhân trực tiếp từ Mỹ

Trang 8

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là

sự suy sụp của thị trường bất động sản:

Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàg và trả lại lãi lẫn vốntrong một thời gian dài (20-30 năm) sau đó, với lãi suất thả nổi (điều chỉnh tăng theothời gian) Do đó, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tình trạng của thị trườngbất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giánhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhàxuống thấp Có 3 yếu tố chính tạo bong bóng thị trường bất động sản

Thứ nhất, từ đầu năm 2001, đặc biệt là sau cuộc khủng bố 11 tháng 9, khi mà sau vụ

khủng bố giá các cổ phiếu mỹ sụt giảm ,để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dựtrữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng

hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản củaFed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm

2003 thì chỉ còn 1%

Hai là, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo có nhà ở của Chính

phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo được vay tiền dễdàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty đượcbảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp đổ vốnvào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàngthương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vaythế chấp, rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tưkhổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch

Ba là kế ước nhận nợ của người mua nhà trở thành một loại chứng khoán (chứng

khoán phái sinh), được ngân hàng thông qua người môi giới đưa vào giao dịch muabán lại trên thị trường (thị trường thứ cấp) Trên thị trường mua đi bán lại, nhiềungười đầu tư cá nhân thông qua người môi giới đã bỏ tiền ra mua loại chứng khoánnày mà họ không hiểu được nó là cái gì, chỉ biết hàng năm được tiền lãi

Vì vậy thị trường bất động sản trở nên rất xôi động, có rất nhiều người thu nhập thấphoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà Để có thể được vay, nhómngười này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được cho mượn dưới hình thứclãi suất điều chỉnh theo thời gian, khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùnvụt Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004

và trên 1.300 tỉ vào năm 2007( 10% GDP của MỸ) Fannie Mae đã mạnh tay hơntrong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối đầu với cạnh tranhnhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn như Lehman Brothers

Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất động sảnliên tục Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 đến

2005 Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên Hệ quả

Trang 9

là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ saunày vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Do đó, một bongbóng đã thành hình trong thị trường bất động sản.

Nhưng từ 2 năm trở lại đây, giá bất động sản không ngừng giảm xuống, giá trịcác căn hộ ngày càng thấp hơn các khoản tín dụng đã cấp Hạn mức tín dụng giảmxuống thì ngân hàng thu hồi nợ, nhưng người mua nhà không có khả năng thanh toán Cho vay dưới chuẩn - nguyên nhân của sụp đổ thị trường bất động sản và cuộckhủng hoảng tài chính Mỹ:

Từ nhiều năm qua, các ngân hàng đầu tư Mỹ đã nới lỏng tối đa chính sách tíndụng cho các công ty và cá nhân mua bất động sản trả chậm Làm nảy sinh nhữngdòng vốn vay giá rẻ và gia tăng một lượng lớn người đi vay tiền Trên thực tế, vốnvay rẻ sẽ làm mất đi ý thức phòng ngừa rủi ro của người đi vay Người đi vay dể dàngtrong việc định giá lại tài sản để tiếp tục một khoảng vay mới nhằm trả cho khoản vay

cũ Bên cạnh đó, việc cung cấp tín dụng dễ dàng như: không cần tài sản thế chấp, tỷ

lệ trả trước rất thấp, chỉ cần có mã số thuế Hoạt động cho vay này thật sự không đápứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn được vay đã làm giatăng rủi ro cho các ngân hàng, và bất động sản tăng giá họ sẽ được hưởng lợi Về phíangân hàng, tuy hình thức cho vay này rủi ro rất lớn, nhưng các ngân hàng vẫn chấpnhận để đổi lại một mức lãi suất rất cao Mặt khác các công ty tài chính cũng thựchiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi ro qua ngân hàng và nhàđầu tư thông qua một sản phẩm tài chính gọi là “mua lại các khoản nợ hay khoản phảithu”

Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho ngân hàng với một chiếc khấucao, ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt sẽ chứng khoán hoá các khoảnphải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay tiền với lãi suất rất cao Rõ ràng

là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên là các chứng khoán có mức độ xếp hạng tínnhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi càng cao, thậm chí có chứng khoán không có mức

độ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn được nhà đầu tư trên toàn thế giới chấp nhận do lãisuất siêu hạng

Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất động sản Mỹ

và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền đã xảy ra.Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bất động sảnkhông bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụt giá thê thảm,các ngân hàng không đủ khả năng trả các khoản nợ lâm vào tình trạng phá sản

Một số nguyên nhân khác:

- Mua bán khống

Trang 10

Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vaydưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một

áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ

sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ

sẽ hưởng trọn.Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (nakedshort sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu

“đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu

- Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ

Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu

tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàngnày trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền Danh mụccho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồlựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, cóthể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn

Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tàichính sang NH đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đãcung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế

2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệmchính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đãkhông làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm đểgiúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như làgiữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”

- Khủng khoảng niềm tin

Sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư của Mỹ đãlàm người dan Mỹ và tiêu dùng ảnh hưởng nghiẹm trọng, nhất là khi ở các nước pháttriển là một nền kinh tế tiêu dùng

Hệ thống các ngân hàng trong con mắt mọi người trở nên monmh manh khi mà batrong năm ông lớn tại thị trường phố Wall sụp đổ là Merrill Lynch, LehmanBrothers, Bearstearns

Thị trường tài chính dựa trêm nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xóimòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman Brothers là biểu tượng đánh dấu mức độ tincậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục Một ngân hàng tồntại hơn 158 đã cùng người Mỹ trải qua rất nhiều khó khăn, trải qua các cuộc suy thoáicùng nước Mỹ lại sụp đổ Quả thật là một cú sốc lớn đối với toàn bộ người dân Mỹ

2.2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng 2008

Trang 11

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ khủng hoảng thanh khoản trong hệthống ngân hàng Mỹ Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến sự đổ vỡ của hàng loạt địnhchế tài chính lớn, nhiều tổ chức tín dụng bị quốc hữu hoá và sự sụt giảm trên thịtrường chứng khoán trên khắp thế giới Nhiều nhà kinh tế coi cuộc khủng hoảng này

là một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ Đại khủng hoảng những năm 30thế kỷ trước Cuộc khủng hoảng này đã làm tiêu tan một lượng tài sản lớn ước tính cógía trị hàng ngàn tỉ USD

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ được đánh dấu bởi những mốc sự kiệnchính như sau:

* Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp

và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ

- quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản chovay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ

* Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tạichâu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dướichuẩn ở Mỹ Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từchính phủ

* Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủavây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấpNorthern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh

* Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợinhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5

tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11

* Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân làTập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úcsau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu Centro Properties đãtụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney

* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi vàvốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngânhàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòiquá lớn

* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD,nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát quan đếncuộc khủng hoảng cho vay cầm cố

* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock

Trang 12

* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân củacuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro.

* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan Chasevới giá 2 đôla một cổ phiếu

* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗtrước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu vàcác chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản

* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMacBancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới naysau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày

* 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD,nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thành mộttrong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu

* 7/9: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tậpđoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trườngnhà đất Mỹ

* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chínhmình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

* 14/9: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từchối đề nghị mua lại của Lehman Brothers

* 15/9: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lạisau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001 Lehman Brothers sụp

đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâutóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khảnăng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố

* 16/9: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thịtrường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băngcủa hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fed công bố kếhoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays củaAnh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD

* 17/9: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoànLloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tìnhtrạng bán khống

Trang 13

* 19/9: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạchmua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệthống tài chính.

* 20-21/9: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Hai ngân hàngGoldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đanăng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall

* 22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm hoạtđộng của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu vàTrung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley

* 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều traliên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gianlận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ

* 25/9: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đãsụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơ quan Bảohiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán cáctài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9

tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớnnhất trong lịch sử Mỹ

Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý

về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD

* 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ.Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảmgần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay

* 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25)với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhậpcho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạnmức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên250.000 USD…

Để đối phó với nguy cơ nền kinh tế thế giới lâm vào vòng xoáy giảm phát, Cục dự trữLiên bang Mỹ cùng với các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng cung tiền chonền kinh tế nhằm ngăn chặn việc suy giảm tiêu thụ trên toàn cầu Bên cạnh đó, Chínhphủ các nước cũng có các gói kích cầu bằng cách cho vay và chi để bù đắp việc cắtgiảm chi tiêu từ khối kinh tế tư nhân và hộ gia đình Riêng Mỹ có tất cả 2 gói kíchcầu có tổng trị giá là 1.000 tỉ USD trong năm 2008 và 2009

Cuộc khủng hoảng tài chính đã nhanh chóng dẫn tới hiện tượng đóng băng trên thịtrường tín dụng, đẩy hệ thống tài chính thế giới tới bờ vực phá sản Trước tình thế

Trang 14

này, Cục dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Châu Âu, cùng nhiều ngânhàng trung ương khác, đã có những phản ứng kịp thời mang tính chất gay cấn TrongQuý IV năm 2008, các ngân hàng trung ương đã mua lại tổng cộng là 2.500 tỉ USD

nợ công và các tài sản xấu từ các ngân hàng Đây được coi là một trong những độngthái mạnh mẽ nhất trong chính sách tiền tệ từ trước tới nay Chính phủ các nước Châu

Âu và Mỹ cũng đã tăng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng lên

1.500 tỉ USD dưới hình thức mua cổ phiếu ưu đãi tại các ngân hàng chính

Chính phủ các nước cũng cứu trợ các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau,đẩy nợ công lên cao Cho đến nay, các cơ quan Chính phủ Mỹ đã chi hoặc cam kếthàng ngàn tỉ USD dưới dạng tín dụng, mua tài sản, bảo đảm hay chi trực tiếp Tổnggiá trị cam kết là 11.000 tỉ USD, giải ngân thực tế là 3.000 tỉ USD, cụ thể :

- Chương trình cứu trợ đối với các tài sản xấu : tổng giá trị cam kết của

Chính phủ Mỹ là 700 tỉ USD, đã đầu tư thực tế là 300 tỉ USD;

- Các nỗ lực cứu trợ các ngân hàng của Cục dự trữ Liên bang Mỹ : tổng giá

trị cam kết là 6.400 tỉ USD, đầu tư thực tế là 1.500 tỉ USD;

- Các chương trình kích cầu : tổng giá trị cam kết là 1.200 tỉ USD, giải ngân

thực tế là 577,8 tỉ USD;

- Chương trình hỗ trợ Tập đoàn bảo hiểm AIG : tổng giá trị cam kết là 182 tỉ

USD, giải ngân thực tế là 127,4 tỉ USD;

- Chi cho việc thôn tính các ngân hàng gặp khó khăn của Công ty bảo hiểm

tiền gửi Liên bang : đã chi 45,4 tỉ USD;

- Các sáng kiến cứu trợ ngành tài chính khác : tổng giá trị cam kết là 1.700 tỉ

USD, giải ngân thực tế là 366,4 tỉ USD;

- Các sáng kiến ứu trợ ngành bất động sản khác : tổng giá trị cam kết là 745 tỉ USD,giải ngân thực tế là 130,6 tỉ USD;

Kết quả từ các gói cứu trợ là nền kinh tế Mỹ nói riêng, và nền kinh tế thế giới nóichung đã bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc từ năm 2009, và xu hướng này ngàycàng rõ hơn trong năm 2010 Theo phân tích tình hình thực tế hiện nay, cuộc khủnghoảng tài chính quốc tế đã cơ bản vượt qua thời kỳ xấu nhất, kinh tế thế giới bắt đầu

đi lên từ đáy, nhân tố chủ yếu chính là chỉ số khủng hoảng (tỉ lệ bất ổn) đã giảmxuống dưới 30% Theo báo cáo "Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010"

do Liên Hợp Quốc ban bố thì dự tính năm 2010, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới chỉ

Trang 15

là 2,4% Tăng trưởng âm của năm 2009 chuyển thành tăng trưởng thực sự vào năm

2010 là một chuyển biến tích cực quan trọng

Nhưng theo định nghĩa truyền thống của Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tỉ lệ tăngtrưởng kinh tế thế giới ở mức dưới 2,5% được định nghĩa là suy thoái kinh tế thế giới,

vì thế năm 2010, kinh tế thế giới vẫn nằm trong suy thoái hoặc bên bờ của suy thoái.Trong nghịch cảnh kinh tế thế giới như vậy, theo dự tính, năm 2010, các nước đangphát triển được coi là một chỉnh thể sẽ tăng tốc là 5,1%, trong đó tỉ lệ tăng trưởngkinh tế của nhóm kinh tế mới nổi là 6%, còn các nước phát triển chỉ khoảng 1,75%(dự báo của Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 1,3%)

2.3 Diễn biến thị trường chứng khoán

Ngày giao dịch tuần từ 29/9-3/10/2008 ngay sau khi bùng phát khủng hoảng

Mối quan tâm chính trong tuần từ 29/09/2008 đến 03/10/2008 là thông tin về kếhoạch gói giải cứu thị trường 700 tỷ của Chính phủ Mỹ và phản ứng của thịtrường sau quyết định của Quốc hội Mỹ

Kết thúc phiên giao dịch đầu tuần, cả thế giới chứng kiến sự mất điểm thảm hạicủa tất cả các TTCK lớn trên thế giới sau khi có kết quả Hạ viện Mỹ khôngthông qua kế hoạch giải cứu thị trường của Chính phủ Mỹ

Thị trường chứng khoán Mỹ: Dow Jones và S&P 500 có ngày giảm điểm mạnh

nhất trong lịch sử, còn Nasdaq có ngày giảm điểm mạnh nhất kể từ năm 2000.Trong phiên giao dịch đầu tuần này, Dow Jones đã giảm tới 777,68 điểm (gần7%) Các cổ phiếu khối tài chính dẫn đầu về biên độ giảm điểm, điển hình là cổphiếu của Wachovia (81,6%), National City (63,34%), Morgan Stanley(15,19%), Goldman Sachs (12,53%) và City Group (11,19%) Tuy nhiên, giảm

Trang 16

điểm trên diện rộng chính là cổ phiếu của khối công nghệ như: Nasdaq (9%),Apple (17,92%), Google (11,61%), Yahoo (10,78%), Microsoft (8,72%) vàDell (9,35%).

Biểu đồ 1: Chỉ số Dow Jones trong phiên giao dịch ngày thứ Hai

29/09/2008

Thị trường chứng khoán Châu Âu: Sụt giảm mạnh và xuống thấp nhất

trong vòng 3 năm qua Kết thúc ngày giao dịch đầu tuần, FTSE-100 giảm 269,7 điểm (5,3%), đóng cửa ở mức 4.818,77 điểm; DAX giảm 4,23% và CAC-400 rơi

5,

05

%

Thị trường chứng khoán Châu Á: Cũng đồng loạt mất điểm khi kết thúc

ngày giao dịch 29/09, trong đó thị trường Nhật Bản tiếp tục mất điểmphiên thứ ba liên tiếp Dẫn đầu về biên độ giảm điểm là các cổ phiếu khốingân hàng và cổ phiếu của các nhà xuất khẩu lớn như Sumitomo MitsuiFinancial Group mất 1,6%, cổ phiếu Mizuho Financial Group giảm 1,5%,Toyota giảm 3,2%, Honda Motor mất 3,9% Kết thúc ngày giao dịch,Nikkei-225 giảm 149,55 điểm (tương đương 1,26%), đóng cửa ngày giaodịch ở mức 11.743,61, thị trường cứ có 2 cổ phiếu giảm điểm thì có một cổphiếu lên điểm Cổ phiếu khối tài chính trên thị trường Hồng Kông giảmmạnh Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Hang Seng mất 801,41 điểm tươngđương 4,29%), đóng cửa ở mức 17.880,68 điểm

Các chỉ số khác như Kospi của Hàn Quốc cũng giảm 1,35% và StraitsTimes của Singapore giảm 2,35%

Tuần giảm điểm liên tục từ 29/09/2008 đến

03/10/2008

Sau phiên giảm điểm ngày 29/09/2008, TTCK đã chứng kiến một tuầnmất điểm nghiêm trọng trên toàn cầu Tất cả các chỉ số chứng khoán chủchốt trên thế giới đều liên tục mất điểm

Ngày

02/10:

Trang 17

Dow Jones giảm 3,22% xuống mức 10.482,85 điểm S&P 500 mất 4,08%,đóng cửa tại 1.114,28 điểm Nasdaq đóng cửa tại 1.976,72 điểm, giảm4,48% Trong phiên này, phần lớn các cổ phiếu tại SGDCK New Yorkcùng mất giá mạnh, cứ

Trang 18

5 mã giảm mới có 1 mã tăng giá Đáng chú ý trong phiên này là sự sụt giảm mạnhcủa cổ phiếu các tập đoàn lớn như: Cổ phiếu General Electric (GE) giảm tới9,67%, cổ phiếu American Express (AXP) mất 9,05%, Alcoa (AA) trượt

8,89%, Apple (AAPL) mất 8,27%, Intel (INTC) giảm

7,13%

Tại Châu Á và Châu Âu, các thị trường chủ chốt cũng đồng loạt giảm điểm.Tuy nhiên, chỉ số Hang Seng và và chỉ số Straits Times tăng nhẹ tương ứng1,08% và 0,2%

2.4 Hệ thống tài chính thế giới hậu khủng hoảng

Bên cạnh những chính sách đối phó mang tính chất tức thời kể trên, Chính phủ các nướccũng đã có những nỗ lực không nhỏ trong việc cải cách nền kinh tế, đặc biệt là hệ thốngtài chính vốn được chỉ trích nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng tài chính này Vào tháng

6 năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra một serie chính sách cải cách, baogồm bảo vệ người tiêu dùng, quản lý mức thù

lao cho lãnh đạo cao cấp doanh nghiệp, yêu cầu cao hơn về vốn đối với ngân hàng, tăngcường quản lý hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các loại chứng khoán, tài sảnphái sinh, tăng quyền lực cho Cục dự trữ Liên bang Mỹ

Ngày 21/7, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chính thức ký thành luật dự

thảo cải cách ngành tài chính sâu rộng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái những năm

1930, nhằm bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo sự ổn định kinh tế tốt hơn Đạo luậtmới dài 2.323 trang, mang tên "Bảo vệ người tiêu dùng và cải cách Phố Wall Dodd-Frank", trong đó Dodd-Frank là từ ghép tên của Thượng nghị sĩ Christopher Dodd và Hạnghị sĩ Barney Frank, hai nhà tài trợ chính của đạo luật này trong Quốc hội Mỹ

Dodd-Frank được xem là một bước ngoặt mang tính lịch sử, khi đánh giá lại toàn bộ cácquy định trong hệ thống tài chính Mỹ Đây là dự luật cải cách mạnh mẽ và sâu rộng nhất

kể từ thời kỳ Đại suy thoái những năm 1930 tới nay Đạo luật Dodd-Frank sẽ mang lạicho Chính phủ Mỹ những quyền lực mới để ngăn chặn các công ty có khả năng đe doạ tớinền kinh tế, thành lập một cơ quan mới bảo vệ người tiêu dùng và giám sát chặt chẽ hơnthị trường tài chính

Đạo luật đưa ra một loạt biện pháp cải cách thị trường Phố Wall, ngăn chặn nguy cơ cácthể chế tài chính lớn sụp đổ gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ, kiểm soát các khoản tiềnthưởng và ngăn chặn những khoản đầu tư rủi ro Đồng thời, tạo ra một cơ chế bảo vệngười gửi tiền tại các ngân hàng dưới sự giám sát của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)

Cụ thể, Dodd-Frank sẽ áp dụng các khoản phí và hạn chế mới đối với các ngân hàng lớn

Ngày đăng: 16/01/2023, 19:52

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w