1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP Ở NHÂN VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG NĂM 2022

59 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Căng Thẳng Nghề Nghiệp Ở Nhân Viên Điều Dưỡng Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Việt Yên Tỉnh Bắc Giang Năm 2022
Tác giả Hoàng Thị Kim Ngân
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thanh Tùng
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 916,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (0)
    • 1. Cơ sở lý luận (10)
      • 1.1 Khái niệm về căng thẳng và căng thẳng nghề nghiệp (10)
      • 1.2 Phương thức gây bệnh của căng thẳng (12)
      • 1.3 Các giai đoạn phản ứng của căng thẳng (12)
      • 1.4 Mức độ của căng thẳng (13)
      • 1.5 Nguyên nhân gây căng thẳng nghề nghiệp (13)
      • 1.6 Những ảnh hưởng của căng thẳng nghề nghiệp (14)
    • 2. Cơ sở thực tiễn (16)
      • 2.1 Tổng quan về ngành điều dưỡng (16)
      • 2.2 Một số nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp (22)
  • Chương 2 (0)
    • 2.1 Giới thiệu chung về Trung tâm Y tế huyện Việt Yên (24)
    • 2.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (25)
    • 2.3 Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên điều dưỡng Trung tâm Y tế huyện Việt Yên (29)
  • Chương 3 (0)
    • 3.1 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng (42)
    • 3.2 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở điều dưỡng khối lâm sàng (43)
  • KẾT LUẬN (48)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (51)
  • PHỤ LỤC (54)

Nội dung

Microsoft Word HoÀng Thỉ Kim Ngân BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH HOÀNG THỊ KIM NGÂN THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP Ở NHÂN VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC[.]

Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm về căng thẳng và căng thẳng nghề nghiệp

Khái niệm về căng thẳng:

Walter Cannon là người đầu tiên giới thiệu khái niệm về căng thẳng, mô tả nó như một phản ứng “cài đặt” sẵn của cơ thể trước các nhân tố gây hại, nhằm huy động sức mạnh để ứng phó hiệu quả.

Hans Selye định nghĩa “Căng thẳng là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tác động” Căng thẳng là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi chịu tác động từ môi trường, và trong nhiều trường hợp, nó có thể kích thích tính tích cực cũng như huy động sức mạnh để vượt qua khó khăn Tuy nhiên, các căng thẳng quá mức hoặc kéo dài đều có thể gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người.

Theo M Ferreri, thuật ngữ căng thẳng được dùng để chỉ nguyên nhân gây tác nhân công kích làm cho cơ thể khó chịu, cũng như hậu quả của những tác nhân gây kích thích mạnh Căng thẳng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hiệu quả công việc của cá nhân, đặc biệt khi bị tác động liên tục hoặc kéo dài Hiểu rõ về căng thẳng giúp chúng ta xác định các nguyên nhân và cách kiểm soát tốt hơn để duy trì trạng thái cân bằng, giảm thiểu rủi ro về sức khỏe.

Theo R.S.Lazarus và S.Folkman, căng thẳng là kết quả của sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực [20]

Căng thẳng là trạng thái xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng ứng phó bình thường của bạn, theo định nghĩa của S Palmer Hiểu rõ về nguyên nhân gây ra căng thẳng giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe và tinh thần Quản lý căng thẳng hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng làm việc của bạn.

Trong tâm lý học lâm sàng, căng thẳng được xem là một sang chấn tác động tiêu cực đến tâm lý con người, gây ra các chứng bệnh tâm căn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe toàn diện.

Trong tâm thần học, căng thẳng được xác định là tất cả những sự việc và hoàn cảnh trong đời sống xã hội, có ảnh hưởng đến tâm thần và gây ra những cảm xúc mạnh Các điều kiện sinh hoạt xã hội và mối quan hệ phức tạp giữa con người với nhau đóng vai trò chính trong việc gây ra căng thẳng tâm lý Hiện tượng căng thẳng xuất phát từ các tác động đa dạng trong môi trường xã hội, tác động sâu sắc đến cảm xúc và trạng thái tâm lý của con người.

Nguồn gốc của các yếu tố gây căng thẳng này có thể là các biến cố trong gia đình, nghề nghiệp và xã hội [8]

Khái niệm về căng thẳng nghề nghiệp:

Năm 1978, Terry Barbee và John Newman đã định nghĩa về Chủ nghĩa công thái học nghề nghiệp (CTNN) là sự tương tác giữa các điều kiện lao động và đặc điểm cá nhân của người lao động Định nghĩa này nhấn mạnh rằng những tương tác này có thể làm thay đổi các chức năng tâm lý hoặc sinh lý của người lao động, hoặc cả hai Hiểu rõ về CTNN giúp nhận diện tác động của môi trường làm việc đến sức khỏe tâm thần và thể chất của nhân viên, từ đó thúc đẩy các biện pháp nâng cao chất lượng và an toàn lao động.

Theo Viện Sức khỏe và An toàn Nghề nghiệp Quốc gia của Hoa Kỳ (NIOSH), CTNN được định nghĩa là những phản ứng có hại về mặt tâm lý và thể chất xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của người lao động, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hiệu quả làm việc của nhân viên.

Một số nghiên cứu cho rằng, CTNN bắt nguồn từ đặc điểm công việc khiến người lao động phải đối mặt với nhiều mối đe dọa như áp lực quá mức từ yêu cầu công việc hoặc thiếu hụt các nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu công việc trong thời gian ngắn, dẫn đến tình trạng làm việc quá tải Ngoài ra, sự không hài lòng về các yếu tố liên quan đến mong đợi tại nơi làm việc như mức lương hợp lý, cơ hội thăng tiến, và sự thỏa mãn trong công việc cũng góp phần vào quá trình hình thành CTNN.

Như vậy, có thể thấy CTNN là vấn đề rất dễ xảy ra do nhiều yếu tố tác động đến

Chúng ta cần chú trọng đến vấn đề CTNN và tác động của nó đối với người lao động để đảm bảo an toàn lao động Việc nhận biết và hiểu rõ các nguy cơ liên quan sẽ giúp đưa ra các biện pháp phòng ngừa phù hợp và hiệu quả Đầu tư vào công tác phòng chống CTNN là yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho người lao động.

 Căng thẳng nghề nghiệp trong nhân viên y tế:

Căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) là trạng thái căng thẳng tâm lý xuất hiện trong quá trình họ hoạt động trong lĩnh vực y tế và cuộc sống hàng ngày Điều này partly do ảnh hưởng từ những điều kiện khó khăn, phức tạp trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cũng như các tác động đến chính bản thân nhân viên y tế Ngoài ra, khả năng nhận thức và cách phản ứng của họ đối với các tác động này cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh lý, tâm lý và xã hội của NVYT.

1.2 Phương thức gây bệnh của căng thẳng

Phương thức gây bệnh của căng thẳng rất đa dạng và phức tạp[10]:

- Căng thẳng gây bệnh thường là những căng thẳng mạnh và cấp diễn hoặc không mạnh nhưng lặp lại nhiều lần

- Thành phần gây bệnh của căng thẳng là ý nghĩa thông tin chứ không phải cường độ của căng thẳng

Tính gây bệnh của căng thẳng phụ thuộc vào mức độ chuẩn bị về tâm thần và thể chất trước các tình huống căng thẳng Căng thẳng bất ngờ, không lường trước được, thường có khả năng gây ra các vấn đề sức khỏe cao hơn Vì vậy, việc duy trì sự chuẩn bị tốt về tinh thần và thể chất là yếu tố quan trọng để giảm thiểu tác động tiêu cực của căng thẳng đối với sức khỏe.

- Những căng thẳng gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh

- Căng thẳng tác động vào một cá nhân gây bệnh nhiều hơn khi tác động vào một tập thể

1.3 Các giai đoạn phản ứng của căng thẳng

Theo Hans Selye, phản ứng căng thẳng của cơ thể được phân thành ba giai đoạn chính dựa trên khả năng thích ứng trước các tác nhân gây căng thẳng Đầu tiên là giai đoạn báo động, khi cơ thể bắt đầu phản ứng để đối phó với stress; tiếp đó là giai đoạn thích nghi, đưa ra các phương pháp điều chỉnh nhằm duy trì trạng thái cân bằng; cuối cùng là giai đoạn kiệt quệ, khi khả năng thích ứng bị cạn kiệt, gây ra hậu quả tiêu cực cho sức khỏe.

Giai đoạn báo động là thời kỳ biểu hiện rõ rệt các biến đổi sinh lý và tâm lý khi cơ thể tiếp xúc với yếu tố gây căng thẳng, giúp đánh giá tình huống và bắt đầu phản ứng phù hợp Trong giai đoạn này, các thay đổi có thể diễn ra nhanh hoặc kéo dài, và nếu yếu tố gây căng thẳng quá mạnh, cơ thể có thể bị tổn thương hoặc tử vong Tuy nhiên, nếu cơ thể vượt qua được giai đoạn này, các phản ứng ban đầu sẽ chuyển sang giai đoạn ổn định, duy trì sự cân bằng để tiếp tục thích nghi.

Giai đoạn thích nghi là quá trình cơ thể tăng cường các cơ chế phòng vệ nhằm chống đỡ và điều hòa các rối loạn ban đầu, giúp lập lại cân bằng nội môi và phù hợp với môi trường Trong tình huống căng thẳng, cơ thể phản ứng qua hai giai đoạn chính là giai đoạn báo động và giai đoạn thích nghi Nếu giai đoạn thích nghi diễn ra thuận lợi, các chức năng tâm sinh lý sẽ được phục hồi hoàn toàn, còn nếu khả năng thích ứng suy giảm, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái kiệt quệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Cơ sở thực tiễn

2.1 Tổng quan về ngành điều dưỡng

Năm 1960, bà Phoebe từ Hy Lạp đã đi từng nhà để chăm sóc người ốm, được xem là người điều dưỡng tại gia đầu tiên trên thế giới Trong thời kỳ viễn chinh ở châu Âu, các bệnh viện được xây dựng để chăm sóc lượng lớn người hành hương bị ốm và có người tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, góp phần nâng cao vị thế của nghề điều dưỡng Theo Hội Điều dưỡng Mỹ, điều dưỡng là công việc chẩn đoán và điều trị các phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc các bệnh tiềm tàng, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Điều dưỡng là trung tâm của hệ thống chăm sóc sức khỏe, đóng vai trò trong việc cải thiện sức khỏe, phòng tránh bệnh tật và chăm sóc các bệnh nhân mắc các loại bệnh thể chất, tâm thần và tàn tật ở mọi độ tuổi Người điều dưỡng đã hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản và toàn diện về điều dưỡng, được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hành nghề trong nước Theo Hội Điều dưỡng quốc tế, điều dưỡng góp phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân cả trong các cơ sở y tế lẫn cộng đồng, đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện.

Chức năng điều dưỡng bao gồm nhận định, đánh giá tình trạng người bệnh và phản ứng của họ đối với bệnh tật nhằm đưa ra chẩn đoán điều dưỡng chính xác Điều dưỡng vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn để xây dựng kế hoạch chăm sóc người bệnh hiệu quả Tại Việt Nam, từ năm 1995, Bộ Y tế đã đổi mã ngạch đào tạo y tá thành điều dưỡng và năm 1997, đổi tên Hội Y tá – Điều dưỡng thành Hội Điều dưỡng, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về ngành điều dưỡng.

2.1.2 Nhiệm vụ của ngành điều dưỡng ở Việt Nam

Theo Thông tư số 31/2021/TT-BYT về “Quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện”, nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng bao gồm việc tiếp nhận và nhận định người bệnh (Điều 5) Điều dưỡng có trách nhiệm xác định tình trạng sức khỏe của bệnh nhân ngay khi tiếp xúc, đánh giá các dấu hiệu lâm sàng và tâm lý để đưa ra kết luận chính xác Quá trình này giúp đảm bảo chăm sóc đúng liệu trình và nâng cao chất lượng điều trị Vì vậy, việc tiếp nhận và nhận định người bệnh đóng vai trò quan trọng trong quy trình chăm sóc y tế, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và an toàn bệnh nhân.

1 Tiếp nhận, phân loại, sàng lọc và cấp cứu ban đầu: a) Tiếp nhận, phối hợp với bác sỹ trong phân loại, sàng lọc và cấp cứu người bệnh ban đầu; sắp xếp người bệnh khám bệnh theo thứ tự ưu tiên của tình trạng bệnh lý, của đối tượng (người cao tuổi, thương binh, phụ nữ có thai, trẻ em và các đối tượng chính sách khác) và theo thứ tự đến khám; hướng dẫn hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện khám bệnh và các kỹ thuật cận lâm sàng theo chỉ định của bác sỹ cho người bệnh đến khám bệnh; b) Tiếp nhận, hỗ trợ các thủ tục và sắp xếp người bệnh vào điều trị nội trú

2 Nhận định lâm sàng: a) Khám, nhận định tình trạng sức khỏe hiện tại và nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh; b) Xác định các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh; c) Xác định chẩn đoán điều dưỡng, ưu tiên các chẩn đoán điều dưỡng tác động trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người bệnh; d) Phân cấp chăm sóc người bệnh trên cơ sở nhận định tình trạng sức khỏe người bệnh của điều dưỡng và đánh giá về mức độ nguy kịch, tiên lượng bệnh của bác sỹ để phối hợp với bác sỹ phân cấp chăm sóc người bệnh; đ) Dự báo các yếu tố ảnh hưởng và sự cố y khoa có thể xảy ra trong quá trình chăm sóc người bệnh Điều 6 Xác định và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng

1 Các can thiệp chăm sóc điều dưỡng bao gồm: a) Chăm sóc hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt: theo dõi, can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt theo chẩn đoán điều dưỡng và chỉ định của bác sỹ; kịp thời báo bác sỹ và phối hợp xử trí tình trạng hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt bất thường của người bệnh; b) Chăm sóc dinh dưỡng: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp theo chỉ định của bác sỹ; theo dõi dung nạp, hài lòng về chế độ dinh dưỡng của người bệnh để báo cáo bác sỹ và người làm dinh dưỡng kịp thời điều chỉnh chế độ dinh dưỡng; thực hiện trách nhiệm của điều dưỡng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 13 Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện; c) Chăm sóc giấc ngủ và nghỉ ngơi: thiết lập môi trường bệnh phòng yên tĩnh, ánh sáng phù hợp vào khung giờ ngủ, nghỉ của người bệnh theo quy định; hướng dẫn người bệnh thực hiện các biện pháp để tăng cường chất lượng giấc ngủ như thư giãn, tập thể chất nhẹ nhàng phù hợp tình trạng sức khỏe, tránh các chất kích thích, tránh căng thẳng, ngủ đúng giờ; theo dõi, thông báo kịp thời cho bác sỹ khi có những rối loạn giấc ngủ của người bệnh để hỗ trợ và phối hợp hỗ trợ người bệnh kịp thời; d) Chăm sóc vệ sinh cá nhân: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, kiểm soát chất tiết, mặc và thay đồ vải cho người bệnh theo phân cấp chăm sóc; đ) Chăm sóc tinh thần: thiết lập môi trường an toàn, thân thiện, gần gũi, chia sẻ, động viên người bệnh yên tâm phối hợp với các chức danh chuyên môn trong chăm sóc; theo dõi, phát hiện các nguy cơ không an toàn, các biểu hiện tâm lý tiêu cực, phòng ngừa các hành vi có thể gây tổn hại sức khỏe cho người bệnh để kịp thời thông báo cho bác sỹ; tôn trọng niềm tin, tín ngưỡng và tạo điều kiện để người bệnh thực hiện tín ngưỡng trong điều kiện cho phép và phù hợp với quy định; e) Thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật: thực hiện thuốc và các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo chỉ định của bác sỹ và trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng trên nguyên tắc tuân thủ đúng các quy định, quy trình chuyên môn kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng; g) Phục hồi chức năng cho người bệnh: phối hợp với bác sỹ, kỹ thuật viên phục hồi chức năng và các chức danh chuyên môn khác để lượng giá, chỉ định, hướng dẫn, thực hiện kỹ thuật phục hồi chức năng cho người bệnh phù hợp với tình trạng bệnh lý

Thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng theo quy định nhằm giúp người bệnh phát triển, duy trì tối đa hoạt động chức năng và giảm thiểu khuyết tật Công tác quản lý người bệnh bao gồm lập hồ sơ quản lý bằng giấy hoặc điện tử, cập nhật hàng ngày cho tất cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú, đồng thời đảm bảo bàn giao đầy đủ thông tin, vấn đề cần theo dõi và chăm sóc, đặc biệt trong các ca trực Ngoài ra, công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe phối hợp cùng bác sĩ và các chuyên gia để tư vấn, hướng dẫn kiến thức về bệnh, cách tự chăm sóc, theo dõi, nhằm nâng cao ý thức hợp tác của người bệnh trong quá trình điều trị; đồng thời, thực hiện các quy định về an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, phục hồi chức năng Người bệnh cũng được hướng dẫn hoặc hỗ trợ tuân thủ nội quy, quy định trong quá trình điều trị nội trú, chuyển khoa, chuyển viện và ra viện, đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

2 Xác định các can thiệp điều dưỡng: a) Trên cơ sở các can thiệp chăm sóc quy định tại khoản 1 Điều này, chẩn đoán điều dưỡng, phân cấp chăm sóc, nguồn lực sẵn có, điều dưỡng xác định can thiệp chăm sóc đối với mỗi người bệnh; b) Xác định mục tiêu và kết quả can thiệp chăm sóc điều dưỡng mong muốn

3 Thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng: a) Thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng phù hợp cho mỗi người bệnh b) Phối hợp với các chức danh chuyên môn khác theo mô hình chăm sóc được phân công gồm: mô hình điều dưỡng chăm sóc chính; mô hình chăm sóc theo đội; mô hình chăm sóc theo nhóm hoặc mô hình chăm sóc theo công việc trong triển khai thực hiện các can thiệp chăm sóc; c) Đáp ứng kịp thời với các tình huống khẩn cấp hoặc thay đổi tình trạng người bệnh Dự phòng và báo cáo các sự cố ảnh hưởng đến chất lượng can thiệp chăm sóc điều dưỡng; d) Tư vấn cho người bệnh về cách cải thiện hành vi sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, kiến thức để tự chăm sóc bản thân và cùng hợp tác trong trong quá trình can thiệp chăm sóc điều dưỡng

4 Ghi lại toàn bộ các can thiệp chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh vào phiếu chăm sóc bản cứng hoặc bản điện tử theo quy định Bảo đảm ghi thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, rõ ràng, dễ đọc; sử dụng, bảo quản và lưu trữ phiếu chăm sóc theo quy định Điều 7 Đánh giá kết quả thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng

1 Đánh giá các đáp ứng của người bệnh và hiệu quả của các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo mục tiêu, kết quả chăm sóc theo nguyên tắc liên tục, chính xác và toàn diện về tình trạng đáp ứng của mỗi người bệnh

2 Điều chỉnh kịp thời các can thiệp chăm sóc điều dưỡng dựa trên kết quả đánh giá và nhận định lại tình trạng người bệnh trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng

3 Trao đổi với các thành viên liên quan về các vấn đề ưu tiên, mục tiêu chăm sóc mong đợi và điều chỉnh các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo khả năng đáp ứng của người bệnh

4 Tham gia vào quá trình cải thiện nâng cao chất lượng can thiệp chăm sóc điều dưỡng dựa trên kết quả đánh giá

2.1.3 Đặc trưng của người điều dưỡng

Người điều dưỡng có các phẩm chất cá nhân như đạo đức, mỹ học và trí tuệ [13],

[30] Điều này thể hiện qua các đức tính sau:

Người điều dưỡng có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, vì đối tượng phục vụ của họ là con người Mọi sự cẩu thả hoặc sơ suất đều có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân Do đó, điều dưỡng cần thấu hiểu sâu sắc trách nhiệm của mình và không ngừng rèn luyện kỹ năng để nâng cao ý thức trách nhiệm, đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Giới thiệu chung về Trung tâm Y tế huyện Việt Yên

Trung tâm Y tế huyện Việt Yên nằm tại trung tâm huyện Việt Yên, Bắc Giang, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Huyện Việt Yên, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên 171,35 km², chiếm 4,45% diện tích toàn tỉnh Địa phương gồm 15 xã, 2 thị trấn và 134 thôn xóm, khu dân cư, với dân số gần 206.000 người chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó còn có các dân tộc thiểu số sinh sống Huyện là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp lớn như Đình Trám, Quang Châu, Vân Trung, thu hút khoảng 111.000 công nhân Với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,7% mỗi năm, dự kiến đến năm 2025, dân số toàn huyện sẽ mở rộng khoảng 350.000 người, đòi hỏi các dịch vụ y tế ngày càng phát triển và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng.

Trung tâm Y tế huyện Việt Yên được thành lập ngày 13/12/2019 theo quyết định số 790/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Giang, qua việc hợp nhất ba cơ quan gồm Bệnh viện đa khoa huyện Việt Yên, Trung tâm Y tế Việt Yên và Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Việt Yên Việc sát nhập này nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế tại địa phương Trung tâm Y tế huyện Việt Yên hiện đóng vai trò trung tâm trong cung cấp dịch vụ y tế toàn diện, góp phần phát triển hệ thống y tế huyện nhà.

Trung tâm Y tế huyện Việt Yên là đơn vị sự nghiệp công lập hạng II, gồm hai trụ sở chính là Bệnh viện đa khoa huyện và Trung tâm y tế huyện cũ Chức năng chính của trung tâm là cung cấp dịch vụ y tế chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng, khám và chữa bệnh, phục hồi chức năng, dân số - kế hoạch hóa gia đình cùng các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật Trung tâm đảm bảo cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại địa phương.

Về tổ chức bộ máy: Gồm 01 Giám đốc, 04 Phó Giám đốc, 6 phòng chức năng,

17 khoa chuyên môn, 17 trạm y tế trực thuộc

Trung tâm hiện có tổng số nhân lực là 333/365 chỉ tiêu theo kế hoạch được giao hàng năm bởi UBND tỉnh Trong đó, khối điều trị gồm 175 cán bộ, bao gồm 40 bác sĩ, 65 điều dưỡng và 70 cán bộ khác, phản ánh sự đáp ứng đáng kể với chức năng và nhiệm vụ của trung tâm.

Bệnh viện có 1 khoa Khám Bệnh và 9 khoa Điều trị nội trú, với số giường kế hoạch được giao là 210 giường bệnh Tuy nhiên, số giường thực kê đã lên tới 250 giường bệnh, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Nhân viên điều dưỡng công tác tại Trung tâm Y tế huyện Việt Yên ít nhất 1 năm trở lên

Để đảm bảo chất lượng công việc, các điều dưỡng viên cần đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn rõ ràng, gồm là viên chức hoặc hợp đồng dài hạn từ 1 năm trở lên Họ phải làm việc tại các khoa lâm sàng và có sự đồng ý tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm hợp đồng thử việc, hợp đồng ngắn hạn dưới 1 năm, nhân viên làm việc tại khối hành chính hoặc xét nghiệm, những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt tại thời điểm thu thập dữ liệu.

2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Trung tâm Y tế huyện Việt Yên

- Thời gian: Từ đầu tháng 6 đến hết tháng 6 năm 2022 Thời gian thu thập số liệu được thực hiện vào tuần thứ 2 của tháng 5 năm 2022

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Chúng tôi đã chọn tất cả 60 nhân viên điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng của Trung tâm, trong đó đã thu thập đủ mẫu từ 60 trên tổng số 65 điều dưỡng lâm sàng Việc chọn mẫu toàn bộ nhân viên điều dưỡng giúp đảm bảo tính đại diện và chính xác trong nghiên cứu về công tác và nhiệm vụ của đội ngũ điều dưỡng tại trung tâm Điều này góp phần nâng cao độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu, phục vụ cho việc đưa ra các đề xuất cải tiến chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ tham gia của các đối tượng đạt 92,3%, trong khi số còn lại không đủ tiêu chuẩn lựa chọn, từ chối tham gia hoặc không tham gia do đang học hoặc nghỉ thai sản tại thời điểm nghiên cứu.

- Các biến số nghiên cứu

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Thu nhập bình quân trong tháng

- Tỷ lệ % NVĐD theo giới

- Tỷ lệ % NVĐD theo nhóm tuổi

- Tỷ lệ % NVĐD theo trình độ học vấn

- Tỷ lệ % NVĐD theo nhóm thâm niên công tác

- Tỷ lệ % NVĐD công tác quản lý

- Tỷ lệ NVĐD theo tình trạng hôn nhân

- Tỷ lệ % NVĐD theo nhóm thu nhập bình quân trong tháng

- Tỷ lệ NVĐDmắcCTNN theothâmniên công tác

- Tỷ lệ NVĐD mắc CTNN theonhóm tuổi

- Tỷ lệ % NVĐD mắc CTNN ở từng mức độ/ tổng số NVĐD tham gia nghiên cứu

- Tỷ lệ % NVĐD mắc CTNN ở từng nhóm thâm niên công tác/ tổng số NVĐD mắc CTNN

- Tỷ lệ % NVĐD mắc CTNN ở từng nhóm tuổi/ tổng số NVĐD mắc CTNN

3 Một số yếu tố liên quan đến CTNN của NVĐD

-Tỷ lệ đánh giá cơsởvật chất, trang thiết bị,bảo hộ lao động củabệnh viện theo cácmứcđộ

- Tỷ lệ đánh giá diện tích và tiếng ồn môi trường lao động theo các mức độ

- Tỷ lệ đánh giá về nguy cơ lây bệnh trong môi trường lao động theo các mức độ

Tỷ lệ đánh giá cho thấy công việc liên quan đến khối lượng quá sức chịu đựng và tốc độ làm việc quá nhanh, đòi hỏi sự tập trung cao độ nhưng thiếu thời gian nghỉ ngơi hợp lý Người lao động có trách nhiệm cao với các bệnh nhân nặng, gây áp lực lớn về mặt tinh thần và thể chất Đồng thời, công việc này thường gặp khó khăn trong việc thăng tiến do hạn chế về mức độ phát triển nghề nghiệp.

- Tỷ lệ đánh giá mối quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với người bệnh và người nhà người bệnh theo các mức độ

- Tỷ lệ đánh giá mức độ hài lòng với công việc của NVĐD

-Tỷ lệ % NVĐD đánh giá cơ sở vậtchất, trang thiết bị, bảo hộ lao độngcủa bệnh viện theo các mức độ

- Tỷ lệ % NVĐD đánh giá diện tích và tiếng ồn môi trường lao động theo các mức độ

- Tỷ lệ % NVĐD đánh giá về nguy cơ lây bệnh trong môi trường lao động theo các mức độ

Các nhân viên đánh giá cao về tần suất làm việc, cho rằng khối lượng công việc quá sức chịu đựng, tốc độ làm việc quá nhanh và yêu cầu tập trung cao độ mà không đủ thời gian nghỉ ngơi Họ cảm thấy trách nhiệm với người bệnh nặng nề, gây áp lực lớn, trong khi cơ hội thăng tiến nghề nghiệp vẫn còn hạn chế theo các mức độ công việc.

- Tỷ lệ % NVĐD đánh giá mối quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với người bệnh và người nhà người bệnh theo các mức độ

- Tỷ lệ % NVĐD hài lòng với công việc theo các mức độ

3 Mối liên quan giữa các yếu tố với tình trạng CTNN

-Mối liên quan giữa các yếu tố với tỷ lệ CTNN

- Tính OR giữa từng yếu tố liên quan với tình trạng CTNN: Có hay không CTNN

2.2.4 Công cụ và quy trình thu thập thông tin

- Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi tự điền gồm 3 phần

+ Phần A: Gồm 7 câu về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

+ Phần B: Gồm 7 câu đánh giá căng thẳng (trích từ bộ câu hỏi DASS 21)

+ Phần C: Gồm 16 câu gồm các yếu tố xuất phát từ môi trường lao động

Bộ câu hỏi DASS là bộ ba thang đo tự đánh giá giúp đo lường các trạng thái cảm xúc tiêu cực như trầm cảm, lo âu và căng thẳng DASS được thiết kế để xác định, hiểu và đo lường các cảm xúc phổ biến có ý nghĩa lâm sàng, phù hợp cho cả nhà nghiên cứu và các nhà lâm sàng chuyên nghiệp.

21 là bản rút gọn của bộ bat hang đo này, mỗi thang đo trong DASS 21 được rút gọn chỉ còn 7 câu

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 7 câu hỏi đánh giá về stress trích từ DASS 21

- Định nghĩa về tần suất sử dụng trong bộ câu hỏi:

+ Hiếm khí: Các trạng thái tồn tại dưới 25% thời gian

+ Thi thoảng: Các trạng thái tồn tại từ 25% đến dưới 50% thời gian

+ Thường xuyên: Các trạng thái tồn tại từ 50% đến dưới 75% thời gian

+ Gần như luôn luôn: Các trạng thái tồn tại từ 75% thời gian trở lên

- Cách tính điểm stress nghề nghiệp: Cộng tổng điểm của 7 câu hỏi về stress trong DASS 21, nhân hệ số 2 và chia theo các mức sau:

Mức độ stress Thang điểm

-Các bước tiến hành nghiên cứu:

Bước 1: Thiết kế bảng câu hỏi nghiên cứu

Bước 2: Đánh giá và hoàn chỉnh bảng câu hỏi nghiên cứu

Bước 3: Tiến hành nghiên cứu

- Thu thập số liệu: Phát vấn

- Phân tích số liệu: Sử dụng bảng tính Excel

- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều là tự nguyện

- Tất cả các thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được giữ kín

Nghiên cứu về Công Thức Trách Nhiệm Nghiệp (CTNN) của nhân viên điều dưỡng giúp ban lãnh đạo Trung tâm hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến công việc của nhân viên Kết quả này cung cấp thông tin để xây dựng các phương pháp hiệu quả nhằm hạn chế CTNN, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Việc nắm bắt chính xác về CTNN sẽ giúp lãnh đạo đưa ra các chiến lược phù hợp để cải thiện tinh thần và hiệu quả công việc của đội ngũ nhân viên điều dưỡng.

Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên điều dưỡng Trung tâm Y tế huyện Việt Yên

2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 2 1 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân bố theo nhóm tuổi và giới tính

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn đối tượng nghiên cứu là nữ giới (91.7%) và có độ tuổi ≥ 30 tuổi (75%)

Tình trạng hôn nhân Số lượng Tỷ lệ (%) Độc thân 5 8.3

Bảng 2 1 Phân bố về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm đối tượng đã kết hôn chiếm tỷ lệ lớn nhất, chiếm tới 71.7%, trong khi đó, các nhóm độc thân và ly hôn chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều Không có đối tượng nào trong nghiên cứu sống chung, điều này cho thấy xu hướng kết hôn phổ biến hơn so với các trạng thái khác trong mẫu khảo sát.

Biểu đồ 2 2 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn và thu nhập bình quân hàng tháng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn đối tượng tham gia có trình độ học vấn đại học, chiếm 58.3% Tuy nhiên, thu nhập hàng tháng của họ chủ yếu thuộc mức dưới 10 triệu đồng, với tỷ lệ lên đến 78.3% Điều này phản ánh rõ ràng về mức thu nhập trung bình của nhóm đối tượng, bất kể trình độ học vấn cao.

Biểu đồ 2 3 Phân bố về thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu

Nhóm đối tượng có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên chiếm đa số với tỷ lệ 88.4%, cho thấy kinh nghiệm làm việc lâu dài đóng vai trò quan trọng Thời gian công tác trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 11.5 năm, trong đó thấp nhất là 1 năm và cao nhất lên đến 28 năm, phản ánh sự đa dạng về mức độ kinh nghiệm trong nhóm nghiên cứu.

NVĐD làm công tác quản lý Số lượng Tỷ lệ (%)

Bảng 2 2 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo công tác quản lý

Nhận xét:Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm đối tượng không làm công tác quản lý là chủ yếu, chiếm 78.33%

2.3.2 Tỷ lệ mắc CTNN của điều dưỡng khối lâm sàng

Biểu đồ 2 4 Phân bố mức độ mắc CTNN của NVĐD

Không mắcNhẹVừa Nặng

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc CTNN là 41,7%, trong đó 15% biểu hiện ở mức độ nhẹ, 21,8% ở mức độ vừa, và 5% ở mức độ nặng Không có đối tượng nào ghi nhận biểu hiện ở mức độ rất nặng, cho thấy phần lớn các trường hợp đều có triệu chứng nhẹ đến trung bình.

Kết quả phân tích cho thấy, trong nhóm mắc CTNN, các đối tượng tuổi từ 30 trở lên chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là nhóm tuổi từ 30 đến trên 40, cùng với nhóm có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên, chiếm tỷ lệ lần lượt là 84% và 88% Điều này cho thấy rằng những người lao động trong độ tuổi trung niên và có thời gian làm việc lâu dài thường gặp vấn đề về CTNN hơn.

Bảng 2 3 Phân bố về tình trạng mắc CTNN của NVĐD có hay không làm công tác quản lý

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc CTNN chủ yếu ở đối tượng không làm công tác quản lý với tỷ lệ 60% Tuy nhiên, đáng chú ý là trong số các đối tượng làm công tác quản lý, có tới 76.9% (10 trong số 13 người) mắc CTNN, cho thấy nguy cơ bệnh cao hơn trong nhóm này, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chú trọng công tác phòng chống và kiểm soát CTNN đối với nhân viên quản lý để giảm thiểu rủi ro bệnh lý.

Tuổi Thâm niên công tác

2.3.3 Một số yếu tố liên quan đến CTNN của điều dưỡng lâm sàng

 Điều kiện môi trường sống

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số nhân viên đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị và bảo hộ lao động tại bệnh viện là đầy đủ, chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 56,7%, 53,3% và 50% Điều này cho thấy mức độ hài lòng về cơ sở vật chất trong bệnh viện khá tốt, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Diện tích môi trường lao động Số lượng Tỷ lệ (%)

Bảng 2 4 Mức độ đánh giá diện tích môi trường lao động của NVĐD

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số đối tượng khảo sát đánh giá diện tích môi trường làm việc không chật chội, chiếm tỷ lệ 63,3% Trong khi đó, tỷ lệ những người cho rằng không gian làm việc chật chội rất thấp, chỉ 8,4%, cho thấy phần lớn nhân viên hài lòng với không gian làm việc của mình.

Tiếng ồn môi trường lao động Số lượng Tỷ lệ (%)

Tương đối ồn ào 12 20 Ồn ào 6 10

Bảng 2 5 Mức độ đánh giá tiếng ồn môi trường lao động của NVĐD

Cơ sở vật chất Trang thiết bị bệnh viện bảo hộ lao động

Không đầy đủTương đối đầy đủ Đầy đủ

Nhận xét:Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn đối tượng nghiên cứu đánh giá môi trường lao động không ồn ào (70%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm đối tượng đánh giá nguy cơ lây bệnh trong môi trường lao động ở mức trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (41,7%), trong khi nhóm đánh giá có mức nguy cơ cao chiếm 33,3% và nhóm không có nguy cơ hoặc nguy cơ thấp chiếm 25%, phản ánh mối quan hệ nguy cơ lây bệnh trong lao động của nhân viên ĐD.

Biểu đồ 2.8 thể hiện mức độ đánh giá về tần suất công việc quá sức chịu đựng, với các yếu tố như tốc độ làm việc quá nhanh, yêu cầu phải tập trung cao độ và thiếu thời gian nghỉ ngơi hợp lý Nghiên cứu cho thấy nhiều nhân viên phản ánh công việc của họ thường xuyên vượt quá khả năng chịu đựng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và năng suất làm việc Việc làm việc với tốc độ cao và thiếu thời gian thư giãn tạo ra áp lực lớn, đặt ra bài toán cần cải thiện điều kiện làm việc để nâng cao hiệu quả và sự hài lòng của nhân viên Đây là vấn đề quan trọng trong quản lý nguồn nhân lực, đòi hỏi các nhà quản lý cần chú trọng đến cân bằng giữa cường độ công việc và chế độ nghỉ ngơi hợp lý.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nhân viên đại diện đánh giá công việc của mình quá tải về khối lượng, làm việc với tốc độ quá nhanh và phải tập trung cao độ liên tục Họ có ít thời gian nghỉ ngơi, chỉ thi thoảng (hơn 45%), trong khi đó, ít hơn 25% nhân viên nhận xét vấn đề này diễn ra thường xuyên, cho thấy tình trạng căng thẳng và quá tải đang ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của họ.

Không/Thấp Trung bình Cao

Khối lượng công việc quá sức chịu đựng

Tốc độ làm việc quá nhanh

Tập trung cao độ trong công việc

Không đủ thời gian nghỉ ngơi

Thường xuyênThi thoảngKhông/hiếm khi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số nhân viên điều dưỡng cảm thấy trách nhiệm của bản thân đối với người bệnh nặng nề, với tỷ lệ từ mức độ thi thoảng chiếm 41.7% đến mức độ thường xuyên là 25% Đồng thời, phần lớn nhân viên điều dưỡng cho biết họ cảm thấy không có khả năng thăng tiến trong công việc, chiếm tỷ lệ 46.7%.

 Mối quan hệ trong công việc

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn nhân viên điều dưỡng đánh giá mối quan hệ của họ với cấp trên, đồng nghiệp, người bệnh và người nhà người bệnh ở mức bình thường và tốt, chiếm hơn 80% Điều này cho thấy môi trường làm việc của nhân viên điều dưỡng khá tích cực, thúc đẩy sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc Mức độ đánh giá cao về các mối quan hệ xã hội nơi công sở góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc bệnh nhân Do đó, việc duy trì và củng cố các mối quan hệ này là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên điều dưỡng.

Trách nhiệm với bệnh nhân nặng nề

Không có cơ hội thăng tiến

Thường xuyên Thi thoảng Không/hiếm khi

Quan hệ với cấp trên Quan hệ với đồng nghiệp

Quan hệ với bệnh nhân/người nhà

Không tốtBình thườngTốt

 Sự hài lòng với công việc

Trong biểu đồ 2.11, kết quả nghiên cứu cho thấy gần một nửa đối tượng khảo sát (46.7%) cảm thấy hài lòng với công việc của nhân viên đối tượng (NVĐD) Ngoài ra, nhóm những người tương đối hài lòng chiếm tỷ lệ 40%, trong khi tỷ lệ những người không hài lòng là thấp nhất, chỉ 13.3% Những số liệu này thể hiện mức độ hài lòng về công việc của NVĐD khá tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả công việc.

2.3.4 Mối liên quan của một số yếu tố với tỷ lệ CTNN của điều dưỡng khối lâm sàng

 Một số yếu tố về phía cá nhân

Biến số Tình trạng CTNN

Bảng 2 6 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và CTNN của điều dưỡng

Nhận xét: Bảng trên cho thấy:

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công tác, nhóm tuổi và tình trạng CTNN của điều dưỡng (P>0,05) Mặc dù tỷ lệ mắc CTNN ở nhóm có tuổi ≥ 30 là 46,7%, cao hơn so với nhóm còn lại, nhưng sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 0,05.

Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng

3.1.1 Đặc trưng của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Trong nghiên cứu này, đối tượng chủ yếu là nữ giới, chiếm tỷ lệ gấp 11 lần so với nam giới Đặc điểm giới tính này phù hợp với đặc thù công việc điều dưỡng yêu cầu sự khéo léo, tỉ mỉ và sự kiên nhẫn cao.

Nhóm đối tượng trên 30 tuổi và có thâm niên công tác trên 5 năm chiếm tỷ lệ lớn lần lượt là 75% và 88,4%, phản ánh đặc điểm của một bệnh viện nhà nước đã được thành lập nhiều năm, có đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và gắn bó lâu dài với công việc.

Nhân viên điều dưỡng có trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất là 58.3%, trong khi đó, nhóm cao đẳng chiếm 25.7% và nhóm trung cấp chỉ 16%, phản ánh xu hướng nâng cao trình độ chuyên môn trong ngành điều dưỡng Sự gia tăng số lượng điều dưỡng có trình độ đại học trong những năm gần đây được thúc đẩy bởi yêu cầu chuẩn hóa năng lực điều dưỡng đạt từ cao đẳng trở lên, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi xác nhận tỷ lệ giới tính đồng đều, phù hợp với kết quả của Trần Thị Thu Thủy trong nghiên cứu về đối tượng điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Đức năm 20XX Các số liệu cho thấy sự cân đối về giới tính trong lực lượng điều dưỡng, góp phần nâng cao nhận thức về sự đa dạng giới trong ngành y tế Những phát hiện này giúp thúc đẩy các chiến lược tuyển dụng và đào tạo nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực y tế.

Năm 2015, tỷ lệ nữ điều dưỡng chiếm đến 77.8%, theo nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My tại Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng, tỷ lệ này lên đến 98.1% Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có trình độ trung cấp là 16%, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó, lần lượt là 64.5% và 77.8%.

3.1.2 Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến câu hỏi liệu có nhiều điều dưỡng bị CTNN hay không và mức độ căng thẳng mà họ trải qua thường xuyên là bao nhiêu Hiểu rõ về tỉ lệ điều dưỡng mắc CTNN cùng mức độ căng thẳng giúp đánh giá đúng tình hình và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến nhân viên y tế.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có tới 41,7% nhân viên điều dưỡng mắc CTNN, trong đó 15% ở mức độ nhẹ, 21,7% ở mức độ vừa và 5% ở mức độ nặng Tỷ lệ mắc CTNN trong nhóm điều dưỡng này cao hơn so với kết quả của các nghiên cứu trước đó, phản ánh sự cần thiết của các chương trình can thiệp để giảm thiểu tác động tiêu cực của CTNN đối với nhân viên y tế.

Trong nhóm điều dưỡng, CTNN chiếm khoảng 18% và mức độ căng thẳng chủ yếu là ở mức vừa và nhẹ, phản ánh sự tương đồng trong cảm giác căng thẳng của nhân viên y tế Tuy nhiên, có sự khác biệt do các chính sách mới gần đây như chính sách tự chủ, khoán theo khoa phòng, đặc biệt sau đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng của điều dưỡng viên.

Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp ở điều dưỡng khối lâm sàng

CTNN, còn gọi là "mất cân bằng giữa yêu cầu công việc và khả năng lao động," là hiện tượng xảy ra khi có sự chênh lệch giữa yêu cầu công việc và năng lực của người lao động Hiện tượng này xuất phát từ sự tương tác giữa các yếu tố và điều kiện lao động, ảnh hưởng đến chức năng tâm sinh lý bình thường của người lao động Việc hiểu rõ nguyên nhân và ảnh hưởng của CTNN giúp doanh nghiệp xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, giảm thiểu các rủi ro về sức khỏe tinh thần và nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung xác định các yếu tố liên quan đến CNTT tại điều dưỡng khối lâm sàng trung tâm y tế huyện Việt Yên Kết quả cho thấy, các yếu tố có ý nghĩa thống kê gồm tham gia công tác quản lý, thiếu trang thiết bị, môi trường làm việc chật chội và ồn ào, nguy cơ lây bệnh, khối lượng công việc quá tải, thiếu thời gian nghỉ ngơi, trách nhiệm nặng nề với người bệnh, mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp và mức độ hài lòng công việc thấp.

3.2.1 Yếu tố phía cá nhân

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa vị trí công tác và tình trạng CTNN của điều dưỡng Điều dưỡng làm công tác quản lý có nguy cơ mắc CTNN cao gấp 7,11 lần so với những điều dưỡng không làm quản lý (95% CI: 0,53-3,39, P

Ngày đăng: 16/01/2023, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Bộ Y tế (2021). Thông tư số 31/2021/TT-BYT, “Quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2021
26. ICN. Definition of Nusing. [online] Available at: http://www.icn.ch-we-are/icn- definition-of-nursing/ [Accessed 30/12/2016] Link
27. Lovibond P..Depression anxiety stress scale. [online] Available at: http://www2.psy.unsw.edu.au/dass/over.htm [Accessed 12/12/2016] Link
1. Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Liên Hương (2016). Tình trạng căng thẳng và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến căng thẳng ở điều dưỡng viên ở Bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2015. Tạp chí Y tếCông Cộng, 13(40), 20-25 Khác
2. Võ Văn Bản (2002). Thực hành điều trị tâm lý, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác
3. Ferreri M. (1997). Stress từ bệnh học tâm thần đến các tiếp cận trong điều trị, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, Hồ Chí Minh Khác
4. Zheng Zen B., Lin Yi L, (2004), Bệnh stress, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội Khác
5. Phạm Thị Thanh Hương (2004). Một số biểu hiện và mức độ stress của sinh viên trong học tập. Tạp chí Tâm Lý Học, (3), 58-63 Khác
6. Nguyễn Công Khanh (2000). Tâm lý trị liệu, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Viết Thiêm (2003), Rối loạn lo âu, các rối loạn liên quan với stress và điều trị học trong tâm thần, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
8. Đặng Phương Kiệt (2000). Stress và đời sống, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Trung Tần (2012). Stress của nhân viên y tế tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Trần Viết Nghị (2003). Các rối loạn liên quan với stress và điều trị học tâm thần, Bộ môn Tâm Thần, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
11. Nguyễn Văn Nhuận (2006). Stress và vấn đề vệ sinh tâm lý, Nhà xuất bản Y học Khác
12. Đặng Phương Kiệt (2004). Stress và sức khỏe, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Khác
13. Trần Thị Thuận (2008). Điều dưỡng cơ bản 1. Nhà xuất bản Y học Khác
16. Ngô Thị Kiều My, Trần Đình Vinh, Đỗ Mai Hoa (2015). Tình trạng stress của điều dưỡng và hộ sinh Bệnh viện phụ sản nhi Đà Nẵng. Tạp chí Y tế Công Cộng, (34), 57-62 Khác
17. Phan Thị Mỹ Linh (2005). Stress đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Sài Gòn: các yếu tố gây ra và hậu quả năm 2005. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế Công Cộng, Đại học Y tế Công Cộng, Hà Nội Khác
19. Chen W,-Q., Wong T,-W., Yu T,-S (2009). Influence of occupational stress on mental health among Chinese off – shore oil workers. Scand J Soc Med, 37(7), 766-773 Khác
20. Sun W., Wu H. (2001). Occupatinoal stress anh its related factors among University teachers in China. J Occup Health, (53), 280 – 286 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w