1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay.

203 12 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng Công nghệ Thông tin Trong Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Ở Trường Trung Học Phổ Thông Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Quang Thuận
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Như Hải
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục công dân
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay.

Trang 1

Nguyễn Quang Thuận

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội - 2023

Trang 2

Nguyễn Quang Thuận

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị

Mã số: 9.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Như Hải

Hà Nội - 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn của NGƯT.PGS.TS Nguyễn Như Hải Các số liệu khảo sát, thực nghiệm sưphạm là trung thực, chưa được công bố ở bất cứ công trình khoa học nào trước đó

Tác giả

Nguyễn Quang Thuận

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn:NGƯT.PGS.TS Nguyễn Như Hải đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trongsuốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành được Luận án

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy giáo, cô giáo côngtác trong Khoa Lý luận Chính trị - Giáo dục công dân, Trường ĐHSP Hà Nội đãgiảng dạy, tạo mọi điều kiện cho em có một môi trường học tập, nghiên cứu thuậnlợi

Em xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Phòng Sau đại học và Ban Giám hiệuTrường ĐHSP Hà Nội; Ban Chủ nhiệm Khoa Giáo dục Chính trị, Ban Giám hiệuTrường ĐHSP Hà Nội 2 cùng với các thầy cô, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận án

Con xin chân thành cảm ơn Cha, Mẹ hai bên cùng với những người thân tronggia đình đã động viên, giúp đỡ để con hoàn thành Luận án

Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2023

Tác giả

Nguyễn Quang Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

7 Những luận điểm cần bảo vệ 5

8 Những đóng góp của luận án 6

9 Kết cấu của luận án 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ …7

1.1 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 7

1.2 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 16

1.3 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh 23

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 28

2.1 Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông 28

2.2 Cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông 60

Tiểu kết chương 2 73

Trang 6

CHƯƠNG 3 : NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG 75

3.1 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông 75 3.2 Các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông 81

Tiểu kết chương 3 108

CHƯƠNG 4 : THỰC NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 109

4.1 Kế hoạch thực nghiệm 109

4.2 Phương pháp thực nghiệm và quá trình chuẩn bị 111

4.3 Triển khai thực nghiệm 120

Tiểu kết chương 4 137

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139

1 Kết luận 139

2 Kiến nghị 141

MỤC LỤC THAM KHẢO 143

PHỤ LỤC 156

Trang 7

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

GDKT&PL Giáo dục kinh tế và pháp luật

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh chương trình dạy học định hướng nội dung và

chương trình dạy học định hướng NL

Bảng 4.2 Thang đánh giá NL của HS sau khi ứng dụng CNTT trong

dạy học môn GDCD ở trường THPT

115

Bảng 4.3 Phân phối tần số điểm đánh giá NL của HS nhóm lớp thực

nghiệm và đối chứng trước khi có tác động sư phạm

120

Bảng 4.4 Mức độ PTNL của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

trước khi có tác động sư phạm

122

Bảng 4.5 Các tham số đặc trưng kết quả bài kiểm tra đánh giá NL đầu

vào của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng khi chưa có tác động sư

phạm

123

Bảng 4.6 Tổng hợp phân phối tần số điểm đánh giá NL của HS nhóm

lớp thực nghiệm và đối chứng trong bài kiểm tra số 1

124

Bảng 4.7 Mức độ NL của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng qua

kết quả bài kiểm tra số 1

125

Bảng 4.8 Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 1 126

Bảng 4.9 Tổng hợp phân phối tần số điểm đánh giá NL của HS nhóm

lớp thực nghiệm và đối chứng trong bài kiểm tra số 2

128

Bảng 4.10 Mức độ PTNL của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

qua kết quả bài kiểm tra số 2

129

Bảng 4.11 Các tham số đặc trưng của kết quả bài kiểm tra số 2 131

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Biểu đồ biểu diễn tần suất (%) phân loại kết quả bài kiểm tra

đầu vào nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng trước khi có tác động sư

phạm

121

Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn các mức độ PTNL của HS nhóm thực

nghiệm và đối chứng trước khi có tác động sư phạm

122

Hình 4.3 Biểu đồ biểu diễn tần suất (%) phân loại kết quả bài kiểm

tra số 1 của lớp thực nghiệm và đối chứng

125

Hình 4.4 Biểu đồ biểu diễn các mức độ PTNL của HS nhóm thực

nghiệm và đối chứng qua kết quả bài kiểm tra số 1

126

Hình 4.5 Biểu đồ biểu diễn tần suất (%) phân loại kết quả bài kiểm

tra số 2 của lớp thực nghiệm và đối chứng

129

Hình 4.6 Biểu đồ biểu diễn các mức độ PTNL của HS nhóm thực

nghiệm và đối chứng qua kết quả của bài kiểm tra số 2

130

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục Việt Nam hiện nay đang phát triển trong bối cảnh tình hình thế giới cónhiều sự thay đổi nhanh chóng và phức tạp Quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầuhóa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,… trong đó có giáo dục đã trởthành một xu thế tất yếu Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, nền kinh tế trithức ở các quốc gia ngày càng phát triển hết sức mạnh mẽ đã có những tác độngtrực tiếp đến sự phát triển các nền giáo dục trên thế giới

Sau 37 năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu quantrọng trên tất cả các lĩnh vực Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọichính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển,đường lối đổi mới không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phốimạnh mẽ về việc đổi mới và phát triển GD&ĐT Nghị quyết số 29/NQ-TW với địnhhướng đổi mới GD&ĐT là “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bịkiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học” [51, tr 3] Địnhhướng này đã thể hiện rất rõ về việc cần thiết thay đổi chương trình giáo dục từchương trình tiếp cận nội dung sang chương trình tiếp cận NL người học, hướngđến việc phát triển toàn diện ở người học cả về “đức” lẫn “tài” (PC và NL)

Trong cả hai Chương trình GDPT năm 2006 và 2018, môn GDCD đều giữ vaitrò chủ đạo đối với việc giúp HS trực tiếp hình thành, phát triển về ý thức và hành

vi công dân Hiện nay, cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục trongchương trình GDPT, việc dạy học môn GDCD theo chương trình năm 2006 và theochương trình năm 2018 đều được thực hiện theo định hướng phát triển ở HS nhữngphẩm chất cơ bản và NL chung, NL đặc thù của môn học Để đạt được các mụctiêu, các YCCĐ cho HS thông qua dạy học môn học này, đòi hỏi sự chung tay, nỗlực, cố gắng rất lớn của các cấp quản lý giáo dục, GV và HS Đồng thời, sự hỗ trợcủa CNTT có vai trò rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ mônnày

Trang 11

CNTT với tư cách là môi trường, phương tiện trực quan, là công cụ hỗ trợ choviệc dạy học, giáo dục đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình đổimới quản lý giáo dục, đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá trong dạy học Thực tếhiện nay đã có khá nhiều nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong dạy học nóichung và trong dạy học môn GDCD nói riêng nhưng các nghiên cứu này chủ yếunghiên cứu về vai trò của CNTT đối với việc giúp HS đạt được các mục tiêu về kiếnthức và tạo hứng thú học tập cho HS chứ chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể,chi tiết về vai trò của CNTT đối với việc hình thành, phát triển các NL của HS vànhững nguyên tắc, biện pháp cần phải đảm bảo trong quá trình ứng dụng CNTT trongdạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS

Bên cạnh đó, trong thực tiễn dạy học môn GDCD theo Chương trình GDPTnăm 2006 ở các trường THPT những năm vừa qua, GV bộ môn cũng đã được bồidưỡng, tập huấn khá nhiều về việc ứng dụng CNTT trong dạy học và nhiều GV đãtích cực ứng dụng CNTT vào trong QTDH hoặc định hướng cho HS ứng dụng CNTTvào việc học tập môn học này Tuy nhiên, mục đích ứng dụng CNTT của GV và của

HS trong QTDH môn GDCD cũng chủ yếu hướng đến mục đích giúp HS đạt đượccác mục tiêu dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình GDPT năm

2006

Hiện nay, mục tiêu dạy học môn GDCD đối với HS bậc trung học có sự thay

đổi theo Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH là các mục tiêu về “kiến thức”, “năng lực”,

“phẩm chất” Sự thay đổi này cũng tạo ra những khó khăn nhất định đối với GV trongviệc xác định các mục tiêu dạy học và cách thức để giúp HS đạt được các mục tiêu

đó, nhất là mục tiêu về NL Do đó, việc nghiên cứu vấn đề ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT sẽ góp phần hệthống cơ sở khoa học và tìm ra những biện pháp ứng dụng CNTT hiệu quả để có thểhình thành, PTNL của HS trong QTDH bộ môn này theo cả chương trình năm 2006

và năm 2018 Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở

Trang 12

trường trung học phổ thông hiện nay” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành Lý luận và

PPDH bộ môn Giáo dục chính trị

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra các biện pháp ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD để góp phần PTNL cho HS, nâng cao hiệu quả dạy họcmôn học này ở trường THPT

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu trong luận án là QTDH môn GDCD theo định hướngPTNL cho HS ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCDtheo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

ở nông thôn (THPT Yên Dũng 2)

- Thời gian tiến hành tìm hiểu, khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm

từ tháng 3/2020 đến tháng 10/2021

4 Giả thuyết khoa học

Giả thuyết khoa học trong Luận án là: Nếu GV vận dụng một cách hợp lý cácnguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng

Trang 13

PTNL cho HS ở trường THPT thì sẽ hình thành, phát triển được các NL cho HS Từ

đó, giúp HS đạt được các mục tiêu về NL mà GV đã đề ra

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến vấn đề ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

- Đề xuất những nguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính hiệu quả của nhữngnguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướngPTNL cho HS ở trường THPT

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận

Luận án chủ yếu sử dụng lý luận của PPDH Bộ môn Giáo dục chính trị và lýluận dạy học hiện đại để làm cơ sở, quan điểm cho việc tiếp cận, nghiên cứu vấn đềứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ởtrường THPT Việc sử dụng các cơ sở lý luận này sẽ giúp cho việc nghiên cứu luận

án đảm bảo tính khoa học, tính hiện đại, tính hệ thống, đồng thời đáp ứng đượcnhững yêu cầu cũng như tính đặc thù trong khoa học giáo dục ngành Lý luận vàPPDH bộ môn Giáo dục chính trị

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu lý luận như: Phân tích,tổng hợp, khái quát hóa, phân loại và hệ thống hóa, mô hình hóa, để thu thập, tổnghợp các thông tin lý luận từ nhiều nguồn tài liệu nhằm làm rõ những khái niệm công

cụ và những nội dung lý luận cơ bản trong luận án cũng như làm cơ sở để đề xuấtnhững nguyên tắc, biện pháp và mô hình thực nghiệm về ứng dụng CNTT trong dạy

Trang 14

học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT.

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Tác giả quan sát thái độ, hứng thú học tập, biểu hiện

NL của HS trong các giờ học môn GDCD ở trường THPT

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV, HS về vấn đề ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng các phiếu hỏi đối với GV, HS vềcác nội dung liên quan đến đề tài của luận án

- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tham vấn ý kiến của các nhà khoa học giáodục về nội dung đề tài, xây dựng bộ phiếu hỏi, nội dung khảo sát thực trạng, phântích số liệu khảo sát, kết quả thực nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm để phân tích, so sánh,đánh giá giữa các lớp dạy thực nghiệm và các lớp dạy đối chứng

- Phương pháp nghiên cứu về sản phẩm hoạt động của HS: Phương phápnày được sử dụng trong quá trình thực nghiệm sư phạm để nghiên cứu, đánh giácác sản phẩm, kết quả học tập của HS Từ đó, tác giả đưa ra những nhận định vềquá trình hình thành NL và phát triển về NL của HS

6.2.3 Các phương pháp khác

Luận án sử dụng một số phương pháp thống kê trong toán học để xử lý các sốliệu thu thập được trong quá trình tác giả điều tra, khảo sát thực trạng Bên cạnh đó,luận án sử dụng phần mềm thống kê SPSS để thống kê và phân tích những số liệutrong quá trình thực nghiệm sư phạm

7 Những luận điểm cần bảo vệ

- Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài luận án cho thấy vấn đề ứng dụngCNTT trong dạy học môn GDCD ở trường THPT đã bước đầu được một số tác giảnghiên cứu ở các góc độ khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới chủ yếu tậptrung vào việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD nhằm giúp HS đạt đượccác mục tiêu dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng chứ chưa nghiên cứu cụ thể cácnguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD nhằm giúp HS

Trang 15

đạt được các mục tiêu về phát triển NL.

- Nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của đề tài luận án cho thấy trong quá trìnhthực hiện Chương trình môn GDCD năm 2006 ở trường THPT, nhiều GV và HS đãứng dụng CNTT vào hoạt động dạy và học môn GDCD ở các mức độ khác nhaunhưng mục đích ứng dụng chủ yếu giúp HS đạt được các mục tiêu dạy học theochuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình môn GDCD năm 2016

- Trong quá trình ứng dụng CNTT để dạy học môn GDCD theo định hướngPTNL cho HS, GV cần đảm bảo được các nguyên tắc và biện pháp phù hợp để đạtđược các mục tiêu dạy học đã đề ra Các nguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT phải gắnvới việc định hướng hình thành, phát triển cho HS về những NL chung và NL đặcthù của môn GDCD trong toàn bộ quá trình chuẩn bị KHBD, tổ chức thực hiệnKHBD trên lớp và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

9 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục tham khảo và phần phụ lục, nộidung chính của luận án gồm có bốn chương:

- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề

- Chương 2: Cơ sở khoa học của việc ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD theo định hướng PTNL HS ở trường THPT

- Chương 3: Nguyên tắc và biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD theo định hướng PTNL HS ở trường THPT

Trang 16

- Chương 4: Thực nghiệm ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theođịnh hướng PTNL HS ở trường THPT.

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.1.1 Hướng nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trực tiếp

Đây là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả đề cập đến với các khía cạnhkhác nhau: Hướng dẫn sử dụng máy vi tính và các PMDH; ứng dụng CNTT nhằmphát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng của người học, nâng caohiệu quả, đổi mới HTTCDH, PPDH; ứng dụng CNTT để kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập của người học Cụ thể:

Ngay từ rất sớm, khi máy tính bắt đầu được đưa vào ứng dụng trong môi

trường giáo dục, John.J.Hirschbuhl đã xuất bản cuốn “Computers in Education” Trong

nghiên cứu này, tác giả đã giới thiệu cụ thể về cấu tạo của máy tính, một số chức năngchính của máy tính và những khả năng to lớn của việc sử dụng máy tính trong giáo dục[147] Cùng thời gian này, nhóm tác giả Timothy J Newby, Donald A Stepich,

Kames D Lehman, Kames Russel với nghiên cứu “Intructional Technology for Teaching and Learning” đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể về sử dụng công nghệ

trong dạy và học với nền tảng là sử dụng các chức năng cơ bản của máy vi tính[149]

Ngay sau đó, trong môi trường giáo dục ở trường Cao đẳng Sư phạm Preess,New York, Judith H Sandholtz và các cộng sự đã nghiên cứu và đề xuất việc giảngdạy của GV với công nghệ hướng đến việc coi sinh viên là trung tâm của QTDH

trong lớp học với cuốn “Teaching with Technology: Creating Student, Centered – Classrooms” [148]

Việt Nam tuy là một quốc gia bắt đầu có sự phát triển về CNTT chậm hơn sovới các nước phát triển trên thế giới song việc cập nhật, nghiên cứu về việc ứngdụng CNTT trong dạy học cũng sớm được một số tác giả chú ý đến và xuất bảndưới dạng sách, giáo trình Ban đầu, việc nghiên cứu về vai trò của CNTT trong dạyhọc chủ yếu được các tác giả tiếp cận dưới góc độ sử dụng CNTT nhằm mục đích

Trang 18

phát triển khả năng tự học của người học với nghiên cứu của một số tác giả như:Nguyễn Văn Đạo (2000) [53]; Tài liệu dịch của Lê Khánh Bằng (2001) [10];Nguyễn Cảnh Toàn (2001) [122], (2004) [123]; Nghiên cứu của Vũ Quốc Chung,

Lê Hải Yến (2003) [40]; đều khẳng định tự học có ý nghĩa và vai trò quan trọngđối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người Tự học với sự hỗ trợcủa CNTT là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơbản để người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng và hình thành thái độ; nhận định CNTT

có vai trò là công cụ, phương tiện quan trọng để người học tìm kiếm tri thức, làm đadạng, phong phú các hình thức học tập của người học

Nghiên cứu về công nghệ dạy học và các HTTCDH ở đại học, hai tác giả

Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2004) trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” đã khẳng

định công nghệ dạy học làm cho QTDH ở đại học được hiện đại hóa, khoa học hóa

và tối ưu hóa với sự tham gia tích cực của các PTDH hiện đại, đặc biệt là CNTT

dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên [68] Cũng theo hướng nghiên cứu

này, Nguyễn Đức Hỗ trong nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra những luận giải cụthể về công nghệ dạy học và vận dụng những công nghệ này vào thực hành kỹ thuậtđiều khiển lập trình [71] Tiếp cận dưới góc độ ứng dụng CNTT trong dạy học ởtrường phổ thông, tác giả Đào Thái Lai đưa ra những nguyên tắc chung và phươngpháp ứng dụng CNTT trong dạy học một số môn học [80]; Nguyễn Thị Côi [41],

Đỗ Hồng Thái [110], [111], Đỗ Hồng Anh [4] nghiên cứu về ứng dụng CNTT trongdạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông

Song song với sự phát triển nhanh chóng của CNTT, việc nghiên cứu về ứngdụng CNTT trong dạy học ngày càng thu hút được nhiều hơn các tác giả nghiên cứu

trực tiếp về vấn đề này Đỗ Mạnh Cường trong cuốn “Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” (2008) đã nghiên cứu từ những vấn đề khái quát như:

“Một số vấn đề tâm lý học có liên quan”; “Các mô hình dạy học với sự hỗ trợ củamáy tính” đến những nội dung cụ thể của ứng dụng CNTT trong dạy học: “Côngnghệ trong dạy học”; “Các đặc trưng của bài giảng Multimedia”; “Thiết kế dạy họctheo mô hình MNS” và một số nội dung, kỹ thuật nâng cao trong phần mềm

Trang 19

“giáo án dạy học tích cực điện tử”; giới thiệu một số phần mềm công cụ để thiết kếhoạt hình động (tư liệu điện tử) cho “giáo án dạy học tích cực”, “giáo án dạy họctích cực điện tử” [66]

Bên cạnh đó, trong nghiên cứu về lý luận dạy học hiện đại, hai tác giả NguyễnVăn Cường, Bernd Meier (2016) đã trình bày các vấn đề cơ bản của lý luận dạy họchiện đại, giới thiệu một số PPDH, KTDH hiện đại phát huy tính tích cực của HS.Song song với các vấn đề này, hai tác giả đã đề cập đến vai trò quan trọng củaCNTT trong việc thực hiện hiệu quả các PPDH, KTDH tích cực, phát huy khả năng

tự học của HS [43] Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về ứng dụng CNTT trongdạy học ở trường phổ thông của Lưu Lâm [82], của Lê Hồng Sơn [105], DươngTiến Sỹ [108] hoặc tiếp cận dưới góc độ ứng dụng CNTT là xu thế của thời đại củaQuách Tuấn Ngọc [95],

Việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học được các tác giả tiếp tụcnghiên cứu dưới góc độ ứng dụng trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của

người học Trong cuốn “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục”, các tác giả Nguyễn

Công Khanh, Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung (2014) đã đề cao vai trò của CNTT trongkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Cụ thể, các tác giả đã phân tích, hướngdẫn sử dụng phần mềm thống kê là Conquest và SPSS để phân tích các item trongđánh giá kết quả học tập của HS [80] Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT trongkiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông cũng được Phạm Đức Quang

Trang 20

trình bày trong nghiên cứu của mình [102].

Ngoài những nghiên cứu nêu trên, còn có một số nghiên cứu cụ thể về ứngdụng CNTT trong dạy học trực tiếp ở các bậc học với hình thức là các bài báo trêncác tạp chí hoặc quy mô của luận án tiến sỹ, đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước

Cụ thể:

Ở bậc Giáo dục mầm non, Tiểu học: Hai tác giả Nguyễn Ngọc Linh - Lê ThịThương đã nghiên cứu cụ thể về ứng dụng phần mềm ActivInsprire trong thiết kếtruyện tranh tương tác cho trẻ mầm non nhằm góp phần tăng cường tính trực quan,nâng cao hứng thú học tập của HS [83]; Tác giả Nguyễn Thị Chim Lang khẳng định

sự cần thiết phải sớm ứng dụng CNTT vào trong dạy học và cần rèn luyện kỹ năng

sử dụng CNTT nhằm phát triển các kỹ năng học tập của HS cuối cấp ở bậc Tiểu học[81]

Ở bậc THCS: Có nghiên cứu của Trịnh Thanh Hải về việc ứng dụng CNTTvào dạy học Hình học lớp 7 [59]; Lê Tùng nghiên cứu về ứng dụng CNTT vào dạyhọc môn Sinh học lớp 9 [137] và Bùi Khắc Tín nghiên cứu về ứng dụng CNTT vàodạy học môn Toán [120]

Ở bậc THPT: Cũng có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề ứng dụng CNTT trong

dạy học Trong đó tiêu biểu có nghiên cứu của Mai Văn Trinh trong dạy học Vật Lý[125]; Nghiên cứu của Đào Thị Việt Anh, Phạm Ngọc Sơn trong dạy học Hóa học[2], [106]; Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hưởng trong dạy học môn Lịch sử [77];Nghiên cứu của Đỗ Thùy Linh, Lê Thị Tâm trong dạy học Sinh học [85], [109]hoặc nghiên cứu về việc quản lý ứng dụng CNTT trong QTDH của Trần MinhHùng [74]

Ở bậc chuyên nghiệp: Tác giả Phạm Văn Hoằng nghiên cứu về ứng dụngCNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở các trường trung cấpchuyên nghiệp nói chung [69] và trong dạy học các môn Giáo dục chính trị nóiriêng [69], [70]; Nguyễn Thị Hạnh nghiên cứu về ứng dụng ICT trong dạy học Hóahọc hữu cơ [60]; Lê Thị Vân Anh xây dựng quy trình giảng dạy, học tập các mônkhoa học Mác - Lênin bằng bài giảng điện tử [1]; Nguyễn Minh Tuyền nghiên cứu

Trang 21

về giải pháp quản lý phòng học đa phương tiện tại Trường Cao Đẳng Sư phạm BắcNinh [138]; Nguyễn Thiện Triều – Nguyễn Bá Phu trên cơ sở nghiên cứu thực trạngứng dụng CNTT đã đề xuất một số biện pháp ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập của sinh viên trong Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đạihọc Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh [127].

Khi CNTT ngày càng phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định những ưuthế của mình đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục thì đồng thời cũng có nhiềuhội nghị khoa học, hội thảo khoa học về vấn đề này được tổ chức Tiêu biểu như:

Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục phổ thông

- công nghệ giáo dục” (2001) tổ chức tại Hà Nội; Hội thảo “Tích hợp ứng dụng ICT vào xây dựng và phát triển đề cương môn học trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh” (2005) do Trường Đại học Đà Nẵng tổ chức; Hội thảo

“Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông vào đổi mới dạy - học” (2006) tổ chức tại Hà Nội; Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục” (2007) tổ chức tại Huế; Hội thảo “Phát huy tiềm năng sáng tạo” (2008)

do Microsoft Partners in Learning tổ chức tại Hà Nội; Hội thảo “Đánh giá năng lực công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học của đội ngũ giáo viên các trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề” (2009) do Trường ĐHSP

Kỹ thuật TP HCM tổ chức; “Hội thảo - tập huấn về Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” (2015) do Cục Công nghệ thông tin tổ chức tại Đà Nẵng; “Hội thảo Quốc tế về ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập và giảng dạy Ngoại ngữ” (2017) do Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh tổ chức; Hội thảo “Cách mạng 4.0 và ứng dụng tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” (2017) do Hiệp hội các trường cao đẳng, đại học tổ chức; Hội thảo “Mô hình đại học 4.0 – nền tảng giáo dục thế kỷ XXI” (2017) tổ chức tại Trường ĐH Nguyễn Tất Thành; Hội thảo “Giáo dục trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0” (2017) do Trường ĐHSP Hà Nội tổ chức, Hội thảo

“Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo” do Bộ GD&ĐT tổ chức năm 2020…

Trang 22

Ngoài ra, còn có rất nhiều các hội thảo khoa học, hội nghị khoa học ở nhiều quy môkhác nhau về các chủ đề trong lĩnh vực giáo dục đều có các bài viết của các tác giảnghiên cứu về lĩnh vực ứng dụng CNTT trong giáo dục, cụ thể là trong đổi mớiPPDH; đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá; đổi mới và làm phong phú các

HTTCDH,… như Hội thảo Quốc gia “Phát triển đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam” (2015) do Trường Đại học Thương Mại tổ chức; Hội thảo Quốc gia “Nghiên cứu và giảng dạy Lý luận chính trị trong xu thế toàn cầu hóa” (2016) do trường ĐHSP Hà Nội tổ chức; Hội thảo

“Chính trị - xã hội trong thời kỳ hội nhập: những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2017) do trường ĐHSP Hà Nội 2 tổ chức; “Hội thảo Khoa học cán bộ trẻ các trường ĐHSP toàn quốc” được tổ chức luân phiên ở các trường ĐHSP với lần tổ

chức gần nhất vào năm 2022 tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

tổ chức,

Đánh giá chung, hướng nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học trực tiếp

đã sớm được các tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu Nội dung nghiêncứu cũng rất đa dạng, phong phú, gắn với QTDH ở các cấp khác nhau Trong đó,hầu hết các các nghiên cứu đều đưa ra được những cơ sở khoa học của việc ứngdụng CNTT trong dạy học trực tiếp; các thành tựu tiên tiến đương thời của CNTT

và những tiềm năng ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm làm phong phú, đa dạng,nâng cao hiệu quả sử dụng các HTTCDH, PPDH, phương pháp kiểm tra, đánh giákết quả học tập của người học, tích cực hóa hoạt động học tập của người học Bêncạnh đó, cũng có một số tác giả tiếp cận nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độnhững khó khăn, thách thức đặt ra đối với người dạy, người học và các lực lượngkhác khi ứng dụng CNTT trong dạy học

1.1.2 Hướng nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến

Cùng với sự phát triển của mạng Internet với các thế hệ Web, các ứng dụngdạy học trực tuyến, các nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học trực tuyến vàứng dụng CNTT trong dạy học kết hợp trực tiếp với trực tuyến xuất hiện muộn hơn

Trang 23

so với các nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong dạy học trực tiếp

Sớm tiếp cận vấn đề này, Đỗ Vũ Sơn (2010) trong nghiên cứu “Khai thác phần mềm Moodle vào dạy học trực tuyến học phần Bản đồ học ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” đã giới thiệu về phần mềm Moodle là một gói phần mềm để

tạo ra các trang chủ và các khóa học trên nền mạng toàn cầu và được cung cấp mộtcách miễn phí như là phần mềm mã nguồn mở trên cơ sở giấy phép của GNUPublic License [107] Nguyễn Thị Hương Giang (2016) trong luận án tiến sỹ

“Công nghệ dạy học trực tuyến dựa trên phong cách học tập” đưa ra ba thành tố

của công nghệ dạy học trực tuyến bao gồm PTDH trực tuyến, PPDH trực tuyến, kỹnăng dạy học trực tuyến và phân tích, xây dựng quy trình phát triển môi trường dạyhọc trực tuyến và quy trình dạy học trực tuyến [57] Phan Chí Thành (2018) khẳngđịnh giáo dục theo hình thức trực tuyến và việc xây dựng môi trường học tập theohình thức trực tuyến có thể giúp xóa đi mọi rào cản trong giáo dục, đem lại các cơhội giảng dạy và học tập cho các chủ thể có nhu cầu [115]; Nguyễn Văn Nghĩa -Phạm Xuân Tích (2018) tiếp tục có những nghiên cứu về dạy học trực tuyến dưới

góc độ đánh giá trực tuyến Trong nghiên cứu “Xây dựng hệ thống đánh giá trực tuyến kỹ năng lập trình của sinh viên các ngành điện và công nghệ thông tin Trường Đại học Giao thông Vận tải”, hai tác giả đưa ra những kết quả về xây dựng

hệ thống đánh giá trực tuyến kỹ năng lập trình cho sinh viên cho phép tự động đánhgiá tính đúng của một chương trình máy tính dựa trên việc kiểm tra kết quả chạycủa chương trình với kết quả mẫu [95]

Trong những năm vừa qua, dịch Covid-19 diễn ra phức tạp đã gây ảnh hưởnglớn đến hoạt động dạy học trực tiếp trên lớp Để hoạt động dạy học được diễn ra antoàn, việc chuyển hình thức dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến hoặc sang dạyhọc kết hợp trực tiếp với trực tuyến được coi là một giải pháp tối ưu cho các nhàtrường, các địa phương Trong giai đoạn này, có nhiều nghiên cứu của các tác giả

về dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp giữa trực tiếp với trực tuyến Tiêu biểu như: Nghiên cứu của Lê Bá Phương (2019) đã đề xuất kết hợp giữa hình thức dạyhọc trên lớp và dạy học trực tuyến nhằm tạo ra giải pháp nâng cao hiệu quả học tập

Trang 24

cho sinh viên, khẳng định việc kết hợp này có nhiều ưu điểm trong việc tối ưu thờigian học tập lý thuyết trên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp của sinh viên [100];Nghiên cứu của Nguyễn Lâm Đức, Lê Minh Thanh Châu (2020) đưa ra các yếu tốcần thiết để tổ chức dạy học trực tuyến: Lựa chọn PPDH tích cực; Chia nội dunghọc thành các hoạt động thành phần; Kết hợp các ứng dụng với thiết bị để triển khaidạy học; Xây dựng kịch bản để dạy học trực tuyến theo mô hình “lớp học đảongược” [56]; Lê Văn Toán – Trương Thị Diễm (2020) từ việc phân tích những ưuthế của E-Learning trong trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, nội dunghọc tập mang tính cá nhân hóa đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảđào tạo theo hình thức trực tuyến ở đại học trong bối cảnh sự phát triển của cuộccách mạng công nghiệp 4.0 [123]; Nguyễn Hoàng Trang và nhóm cộng sự (2020)khi nghiên cứu về dạy học kết hợp và tổ chức dạy học kết hợp tại trường THPT đãkhái quát các phương án dạy học kết hợp như “lớp học đảo ngược”, dạy học theo

“trạm”, dạy học dự án và khẳng định việc dạy học kết hợp này giúp khắc phục đượcnhững giới hạn về thời gian, không gian học tập trên lớp [124]; Trần Thị Bích Ngân

và các cộng sự (2020) đã tổng quan một số mô hình đào tạo trực tuyến sử dụngtrong bồi dưỡng kỹ năng dạy học trực tuyến cho GV như: Mô hình giao tiếp quatrung gian máy tính, mô hình hội thảo trực tuyến, mô hình trường học ảo, mô hìnhcộng đồng học tập trực tuyến và khẳng định hoạt động bồi dưỡng kỹ năng dạy họctrực tuyến cho GV có ý nghĩa rất quan trọng đối với GV nhằm đáp ứng được nhữngyêu cầu mới của giáo dục dưới sự thay đổi, phát triển của CNTT [93],

Những nghiên cứu nêu trên đã phản ánh rất nhanh chóng, kịp thời sự phát triểnmạnh mẽ của CNTT, những tiềm năng to lớn của CNTT đối với việc thay đổi các

mô hình dạy học từ dạy học trực tiếp trên lớp sang dạy học trực tuyến hoặc kết hợpgiữa dạy học trực tiếp trên lớp với dạy học trực tuyến Việc thay đổi mô hình dạyhọc này phản ánh sự chuyển mình khá nhanh chóng, linh hoạt của ngành giáo dụcnói chung trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn (như do dịch Covid-19 bùng phát)đồng thời cũng phản ánh xu thế phát triển giáo dục của thời đại là tăng cường ứngdụng những thành tựu, ưu thế của CNTT vào trong lĩnh vực này nhằm đạt được

Trang 25

hiệu quả các mục tiêu giáo dục đã đề ra.

1.1.3 Các hướng nghiên cứu khác

Bên cạnh hai hướng nghiên cứu nêu trên, việc nghiên cứu vấn đề ứng dụngCNTT trong dạy học còn được một số tác giả tiếp cận dưới các góc độ khác như:Nghiên cứu về CNTT như là một yêu cầu, là một NL thiết yếu đối với những ngườitham gia vào quá trình giáo dục; Nghiên cứu về các biện pháp ứng dụng CNTTtrong dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0; Nghiên cứu về ứngdụng CNTT trong việc xây dựng trường học thông minh, Tiêu biểu như nghiêncứu của Huỳnh Thái Lộc (2016) trên cơ sở nghiên cứu về một số biện pháp vềPTNL nghề nghiệp cho GV tiểu học đã coi việc PTNL ứng dụng CNTT trong dạyhọc của GV là một biện pháp then chốt giúp GV có thể đáp ứng được những yêucầu của việc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT [89]; Nghiên cứu của Vũ ThanhDung (2018) đưa ra một số biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổthông đáp ứng những yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như xác định rõnhững nội dung ứng dụng CNTT trong QTDH, làm tốt công tác về bồi dưỡng kiếnthức, kỹ năng ứng dụng CNTT cho GV, xây dựng môi trường thuận lợi, đảm bảo cơ

sở vật chất, trang thiết bị cho ứng dụng CNNTT trong dạy học [47]; Vương QuốcAnh và các cộng sự (2019) với nghiên cứu về trường học thông minh, vai trò củaICT trong trường học thông minh một số nước tiên tiến như Mỹ, Singapore, một sốtập đoàn tiên phong như Samsung tham gia xây dựng trường học thông minh theohướng “khắp nơi là trường học, không hạn chế về thời gian và không gian” [3, tr.107] Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất giải pháp ứng dụng ICT trong xây dựngtrường học thông minh ở Việt Nam;…

Nhìn chung, những nghiên cứu của các tác giả nêu trên về ứng dụng CNTTtrong dạy học đều là những nghiên cứu rất có chất lượng, cập nhật được các thànhtựu của CNTT trong mỗi thời kì Mặc dù các nghiên cứu này tiếp cận việc ứng dụngCNTT trong giáo dục dưới các khía cạnh, góc độ khác nhau nhưng hầu hết cácnghiên cứu này đều tập trung vào việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của CNTT đốivới việc đổi mới HTTCDH, PPDH, nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy tính tích

Trang 26

cực của người học, thu hút người học,…Các nghiên cứu này đã thể hiện quan điểmđúng đắn, cập nhật của các tác giả trước xu thế phát triển của giáo dục hiện đại gắnvới sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của CNTT ở hiện tại và trong tương lai.

1.2 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

1.2.1 Nghiên cứu về khả năng, yêu cầu, cách thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân

Ngay từ rất sớm, Vương Tất Đạt (1994) khi nghiên cứu về PPDH mônGDCD ở trường phổ thông đã đề cập đến việc sử dụng các PTDH trong dạy họcmôn GDCD như máy tính, máy chiếu,… nhằm truyền tải hiệu quả kiến thức, rènluyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS [53] Cũng theo hướng tiếp cận này, tác giả PhùngVăn Bộ (1999) khi nghiên cứu về PPDH môn GDCD cũng nhấn mạnh đến việc sửdụng các công cụ, phương tiện hiện đại để dạy học hiệu quả môn học này ở trườngTHPT [14]; Tác giả Hà Nhật Thăng (2007) đã trình bày vai trò, ý nghĩa của mônGDCD, những yêu cầu đặt ra đối với GV giảng dạy bộ môn này, trong đó có yêucầu về việc sử dụng các PTDH hiện đại, ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổimới PPDH, nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD [116]

Tác giả Đinh Văn Đức và các cộng sự (2009) khi biên soạn giáo trình

“Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” đã

dành một chương để nghiên cứu về kỹ thuật sử dụng PTDH trong dạy học mônGDCD (Chương 8), đặc biệt là nội dung về ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD Các tác giả đã đưa ra một số thuật ngữ cơ bản về ứng dụng CNTT và đề cậpkhả năng to lớn, tất yếu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD nhằmnâng cao hiệu quả dạy học bộ môn này và bắt kịp với xu hướng giáo dục của thờiđại [55]

Tác giả Vũ Đình Bảy (2010) cũng đã khái quát về khả năng ứng dụng CNTTvào QTDH môn GDCD ở trường THPT và giới thiệu đặc điểm, cấu tạo, cách sửdụng của máy vi tính, máy chiếu Projector, bảng thông minh, các phần mềm ứngdụng, sử dụng Internet, E-Learning trong dạy học môn GDCD [7] Cũng theo

Trang 27

hướng nghiên cứu này, trong tài liệu bồi dưỡng GV cốt cán môn GDCD củatrường ĐHSP Huế (2014) tác giả Vũ Đình Bảy cũng đã đi sâu vào đặc điểm, phânloại, vai trò của CNTT trong dạy học và hướng dẫn chi tiết việc ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD đối với GV [8].

Trong nghiên cứu về những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học mônGDCD ở trường THPT, tác giả Huỳnh Thị Bạch Mai (2013) trên cơ sở khẳng địnhnhững khả năng to lớn của việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD đã nhậnđịnh về thực trạng ứng dụng CNTT của GV môn GDCD ở trường phổ thông “Do nănglực về CNTT hạn chế nên phần lớn GV chưa có khả năng thiết kế bài giảng, vì thế việcgiảng dạy sử dụng CNTT thường được thực hiện theo nguyên mẫu, có GV còn nhầmlẫn khi nghĩ CNTT là PPDH” [130, tr 404] Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng GV bộmôn GDCD phải kiên trì, sáng tạo trong ứng dụng CNTT, phải có sự trao đổi, học tậplẫn nhau giữa các GV giảng dạy cùng bộ môn và giữa các GV ở các bộ môn khác.Cùng hướng nghiên cứu này, trong nghiên cứu của mình, tác giả Dương Văn Khoa(2017) đã nhận định sự cần thiết của việc tăng cường ứng dụng CNTT đối với GVGDCD và đề xuất một số biện pháp ứng dụng CNTT nhằm nâng cao trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ cho GV GDCD bao gồm: ứng dụng CNTT vào việc tìm kiếm thôngtin, cập nhật các nội dung kiến thức pháp luật, chính trị - xã hội, kỹ năng sống; Tăngcường các lớp tập huấn, bồi dưỡng trực tuyến; Ứng dụng hiệu quả CNTT vào việcgiảng dạy môn GDCD ở THPT; Tăng cường các cuộc thi dành cho GV qua mạng[132]

Hai tác giả Nguyễn Thị Hạnh và Nguyễn Thị Hương (2018) khi giới thiệu vềcách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên các lĩnh vực chính như: Công nghệ sinhhọc, kỹ thuật số và vật lí đã đưa ra yêu cầu về NL sử dụng thành tựu của phương tiện,

kỹ thuật trong đánh giá, phân loại người học đối với GV nói chung và GV bộ mônGDCD nói riêng: “Dưới làn sóng cách mạng công nghiệp lần thứ tư, GV có thể sửdụng những công cụ hỗ trợ tiên tiến để phát huy NL phân loại, đánh giá người học như

sử dụng trắc nghiệm tâm lí, thiết kế bảng khảo sát, thiết kế bài tập dưới dạng trựctuyến, hệ thống hóa, số hóa các số liệu thống kê bằng máy tính và mạng lưới Internet

Trang 28

tiện lợi” [131, tr 123].

Nghiên cứu về việc đổi mới đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm theo địnhhướng PTNL nghề nghiệp cho sinh viên ngành GDCD trong các trường ĐHSP, tác giảTiêu Thị Mỹ Hồng đề xuất cách thức tổ chức đào tạo và rèn luyện các kỹ năng nghiệp

vụ sư phạm cho sinh viên với sự hỗ trợ của CNTT Tác giả nhận định: “Chúng ta cóthể tận dụng sự phát triển của CNTT, mạng Internet, ghi âm, ghi hình để phục vụ choquá trình đào tạo nghề cho sinh viên ngành GDCD Cần có hệ thống băng đĩa ghi lạinhững tiết học được giảng dạy, tiết học ngoài giờ, hoạt động trải nghiệm để sinh viêncùng phân tích” [131, tr 220] Cũng với hướng nghiên cứu này, tác giả Doãn Thế Anh– Ngô Thái Hà cho rằng một trong những NL quan trọng của sinh viên ngành GDCD

là “NL sử dụng hiệu quả các PTDH môn GDCD theo hướng ứng dụng CNTT, tăngcường hoạt động trải nghiệm thực tế tạo điều kiện cho HS tự tiếp cận các nguồn thôngtin qua mạng Internet, tự khai thác các chủ đề theo sở thích của cá nhân” [131, tr 254].Tác giả Mai Thu Trang (2018) khi nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng đàotạo GV môn GDCD ở trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh đã coi việc tăng cườngứng dụng CNTT vào QTDH là một biện pháp hữu hiệu Tác giả nhận định: “CNTT đãgóp phần tích cực vào việc đổi mới PPDH của người dạy Các công cụ đa phương tiện

hỗ trợ người dạy trình diễn kiến thức phong phú, sinh động và hấp dẫn với sự trợ giúpcủa các phần mềm như PowerPoint, Prezi, ImindMap, ” [131, tr 172]

Tác giả Nguyễn Thị Toan (2018) trong nghiên cứu “Đề xuất khung năng lực giáo viên Giáo dục công dân từ việc tiếp cận lý thuyết về khung năng lực” xuất phát

từ việc phân tích khái niệm NL và khái quát lý luận cơ bản về khung NL, đặc thùcủa môn GDCD đã đề xuất khung NL đối với GV môn GDCD gồm 06 tiêu chuẩn,

17 tiêu chí Trong đó, đối với tiêu chuẩn về NL chung, tác giả đưa ra các tiêu chí về

NL CNTT gồm: “Có kiến thức và kỹ năng tin học đạt trình độ A” và “Có NL ứngdụng CNTT trong giáo dục, dạy học GDCD” [134, tr 62]

Cũng tiếp cận dưới góc độ đào tạo GV môn GDCD theo hướng tiếp cận NL đểđáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018, tác giả Dương Thị Thúy Nga chia

sẻ về “khung chuẩn đầu ra NL” của SV chuyên ngành GDCD gồm có 04 tiêu chí

Trang 29

Trong đó, tiêu chí về NL “sử dụng được CNTT trong hoạt động chuyên môn” được

cụ thể hóa với 02 chỉ báo: “Có khả năng sử dụng được các phần mềm thông dụngtrong dạy học môn GDCD và quản lý HS trung học; Sử dụng hiệu quả, sáng tạo cáchọc liệu, phương tiện, thiết bị dạy học trong học tập, nghiên cứu, dạy học mônGDCD ở trường trung học” [134, tr 88]

Nhìn chung, vấn đề khả năng, yêu cầu, cách thức ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD đã sớm được các tác giả nghiên cứu Các tác giả này chủ yếu lànhững giảng viên công tác trong bộ môn Giáo dục Chính trị ở các trường ĐHSP –

là những người trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo cho sinh viên ngànhGDCD, bồi dưỡng cho GV môn GDCD ở trường phổ thông Vì vậy, những nghiêncứu về khả năng ứng dụng CNTT, những hướng dẫn về ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD của các tác giả rất thực tế, cụ thể, phản ánh kịp thời xu hướngphát triển giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam, có giá trị rất lớn trong công tácđào tạo và bồi dưỡng GV môn GDCD ở trường phổ thông

1.2.2 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân

Việc đổi mới HTTCDH, PPDH và kiểm tra, đánh giá, phát huy tính tích cực,sáng tạo, chủ động của HS là hướng nghiên cứu của nhiều tác giả khi nghiên cứu vềviệc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD ở trường phổ thông

Báo cáo đề dẫn của Vụ GDTrH tại “Hội thảo đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp và hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân” (2009) do Bộ

GD&ĐT tổ chức tại tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá, thúc đẩy đổimới PPDH và đánh giá hiệu quả dạy học môn GDCD, xác định định hướng đổi mớiPPDH môn GDCD là “Ứng dụng hợp lý CNTT để nâng cao hiệu quả dạy học vàhướng dẫn HS tự học môn GDCD” [143, tr 8]

“Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo đức - công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam” (2013) diễn ra tại Trường ĐHSP Hà Nội đã thu hút được rất nhiều báo cáo

Trang 30

của các tác giả Trong đó, có nhiều báo cáo đã nêu lên vai trò, thực trạng ứng dụngCNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD; đề ra địnhhướng, giải pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD nhằm nâng cao hiệu quảdạy học bộ môn này Cụ thể:

Tác giả Đào Đức Doãn trong báo cáo của mình khi đánh giá về PPDH và kiểmtra, đánh giá trong quá trình giáo dục đạo đức – công dân cho HS của GV ở trường phổthông đã đưa ra nhận định: “Khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học của nhiều GVĐạo đức – GDCD còn yếu Bên cạnh một số ít GV có ý thức đổi mới PPDH và sửdụng các PTDH tích cực, nhiều GV thiếu một phông kiến thức sâu rộng, chưa cập nhậtđược những thông tin mang tính thời sự, Các PTDH như tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu,

đồ dùng trực quan, chưa được sử dụng nhiều” [130, tr 29];

Báo cáo của tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã đề xuất định hướng tăng cường sửdụng các PTDH mới cho GV dạy môn GDCD: “Phim ảnh, vô tuyến truyền hình, máy

vi tính, thiết bị đa phương tiện, cho phép đưa vào QTDH những nội dung diễn cảm,hứng thú, làm thay đổi phương pháp và các HTTCDH, tạo ra nhịp độ, phong cách,trạng thái tâm lý mới tốt hơn trong QTDH” [130, tr 355];

Báo cáo của tác giả Trần Thị Mai Phương đã đưa ra những nhận định về hạnchế của GV dạy môn GDCD trong dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bộmôn Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để khắc phục những hạnchế này là “tăng cường khả năng ứng dụng CNTT cho GV trong QTDH, kiểm tra,đánh giá kết quả học tập môn GDCD thông qua việc tăng cường sử dụng cácphương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học môn GDCD” [130, tr 359];

Báo cáo của tác giả Đinh Thị Thúy Kiều, Nguyễn Thị Thanh Tùng đã nhấnmạnh sự cần thiết phải ứng dụng CNTT, sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học mônGDCD và đưa ra một số gợi ý về sử dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy họcmôn GDCD [130, tr 441-451];

Tác giả Lưu Thu Thủy khi trình bày nội dung về đổi mới PPDH môn GDCD chorằng GV “phải chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả các tư liệu, thiết bị dạy học vàứng dụng CNTT trong QTDH” [130, tr 382] và “GV cần lưu ý sử dụng CNTT để thiết

Trang 31

kế các PMDH, nếu có điều kiện Việc sử dụng hợp lý các thiết bị, đồ dụng dạy học và

áp dụng CNTT trong QTDH môn GDCD sẽ giúp HS dễ hiểu bài hơn, học tập hứngthú, hiệu quả hơn” [130, tr 382];

Tác giả Tạ Thị Thúy Nga khi nghiên cứu về các biện pháp nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động của HS trong dạy học môn GDCD ở trường phổ thông đã đưa rabiện pháp đối với GV về chú trọng sử dụng các thiết bị và khẳng định: “GV cần tíchcực sử dụng CNTT trong QTDH môn GDCD để có thể nối dài các giác quan của HS,cung cấp cho HS những hình ảnh, âm thanh sống động, Qua việc nghe, nhìn nhưvậy, HS có thể tự nhận xét, so sánh, suy nghĩ và rút ra những kiến thức cần thiết, từ đónâng cao tính tích cực của HS trong học tập” [130, tr 427];

Nghiên cứu về phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn GDCD ở trườngTHCS, tác giả Trần Tuấn Anh chia sẻ kinh nghiệm về việc sử dụng mạng Internet đểtìm kiếm, lựa chọn những hình ảnh trực quan, câu chuyện minh họa cho bài giảng,những đoạn nhạc sinh động để minh họa cho phần giảng của GV [131]

Năm 2017, Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Huế đã tổ chức Hội thảo

Khoa học Quốc gia với chủ đề “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân” Trong đó, có một số báo cáo nghiên cứu cụ thể việc ứng

dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD như:

Báo cáo của tác giả Hoàng Trọng Đài chia sẻ về kết quả của việc sử dụng một sốvideo clip này trong giảng dạy môn GDCD lớp 12: “Các em HS rất vui khi tham giaquá trình tìm hiểu bài, hiểu ngay chuẩn mực hành vi pháp luật, sẵn sàng thực hiệnnhững chuẩn mực hành vi đã hiểu” [134, tr 105];

Báo cáo của tác giả Phạm Thị Thúy Hằng nhận định: “Khi đưa ICT vào nhàtrường sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục dẫn đến những thay đổi trong cảnội dung và PPDH Trong xu hướng chung đó, các ứng dụng của CNTT trong đóInternet – Website học tập góp phần rèn luyện khả năng tự học, tự kiểm tra, đánh giátích cực cho người học” [134, tr 188] Đồng thời, trong báo cảo của mình, tác giả đưa

ra những yêu cầu, cấu trúc, nội dung của website hỗ trợ HS tự kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập môn GDCD;

Trang 32

Báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Quang đã trình bày những ứng dụng của CNTT

để khai thác hệ thống thông tin, thư viện; ứng dụng của CNTT để khai thác và trìnhdiễn; ứng dụng của CNTT để khai thác khả năng tích hợp đa phương tiện trong thiết kếbài dạy học và giảng dạy Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra mười yêu cầu sưphạm trong ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD nhằm phát huy tính tích cực,sáng tạo của HS [134, tr 532-537];

Nghiên cứu của tác giả Vũ Đình Bảy về việc ôn tập môn GDCD để chuẩn bị cho

kỳ thi THPT Quốc gia đã đưa ra định hướng đổi mới cách thức ôn tập từ phía GV là

“ứng dụng ICT trong việc kết nối, mở rộng không gian học tập, ôn tập môn GDCD”[135, tr 41]

Ngoài ra, nhiều báo cáo còn lại trong Hội thảo đã đề cập khá toàn diện về các vấn

đề như thực trạng PPDH, kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn GDCD, những yêu cầu

và định hướng đổi mới PPDH, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD với sự

hỗ trợ, sử dụng các thành tựu của CNTT

Nghiên cứu về việc sử dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy môn GDCDlớp 11, tác giả Nguyễn Thị Hương Liên (2018) đã khẳng định vai trò rất quan trọngcủa CNTT đối với việc hỗ trợ tổ chức thực hiện hiệu quả một số PPDH tích cực như

sử dụng “bài tập slide”, bài tập tình huống, bài tập liên hệ thực tiễn, bài tập trả lờinhanh [84]

Hai tác giả Nguyễn Ngọc Dung – Nguyễn Thị Toan (2020) trong nghiên cứucủa mình về ứng dụng Blended Learning trong hoạt động bồi dưỡng PTNL cho

GV môn GDCD đã giới thiệu về B-learning, lợi ích của B-learning đối với ngườihọc: “tạo môi trường tích cực và chủ động hơn trong học tập và thông qua sựtương tác giữa người học với nhau, giữa GV và người học qua việc hướng dẫn của

GV ở cả trên lớp và qua mạng Mặt khác, các module học trực tuyến cho phépngười học được cá nhân hóa việc học tập của mình” [48, tr 217]

Có thể khẳng định rằng, vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD ởtrường phổ thông đã được nghiên cứu từ khá sớm và có bước phát triển song hànhcùng với sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của ICT Nội dung nghiên cứu về ứng

Trang 33

dụng CNTT trong dạy học môn GDCD khá đa dạng, phong phú: Về khả năng, cáchthức ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD; về đào tạo sinh viên ngànhGDCD, bồi dưỡng GV môn GDCD về NL ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD Đặc biệt, việc ứng dụng CNTT trong quá trình sử dụng HTTCDH, PPDH,

và kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập mônGDCD ở trường THPT đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở phạm vi, mức độ khácnhau Thông qua những nhận định sâu sắc của các tác giả, những nghiên cứu nàyvừa khẳng định vai trò hết sức quan trọng của CNTT đối với việc nâng cao chấtlượng, hiệu quả dạy học môn GDCD ở trường phổ thông vừa thể hiện tâm huyết củacác tác giả đối với hoạt động dạy học môn học này ở trường phổ thông

1.3 Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Tiếp cận theo quá trình thực hiện Chương trình môn GDCD ở trường THPT,hướng nghiên cứu này có thể được phân chia thành hai hướng là nghiên cứu về ứngdụng CNTT trong dạy học môn GDCD thuộc Chương trình GDPT năm 2006 vàChương trình GDPT năm 2018 theo định hướng PTNL cho HS

Đối với hướng nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD thuộcChương trình GDPT năm 2006 theo định hướng PTNL cho HS, có một số tác giảvới một số nghiên cứu tiêu biểu như:

Tác giả Đỗ Ngọc Thống (2013) khi nghiên cứu về định hướng đổi mới chươngtrình GDPT sau năm 2015 đã đề xuất một số định hướng của đổi mới GDPT nói chung

và môn Đạo đức - Công dân nói riêng Trong đó, tác giả nêu ra định hướng “đẩy mạnhứng dụng ICT trong dạy và học nhằm đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện chươngtrình môn GDCD theo định hướng PTNL của HS” [130, tr 24]

Tác giả Đào Đức Doãn (2013) khi nghiên cứu về thực trạng, giải pháp đối vớihoạt động giáo dục đạo đức – GDCD ở trường phổ thông Việt Nam đã tổng kết vềPPDH và kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn GDCD là “chú trọng sử dụng cácPTDH hiện đại (tranh ảnh minh họa, ti vi, máy chiếu, máy vi tính, ) và áp dụng CNTTvào QTDH” [130, tr 27-28] để góp phần định hướng NL của môn GDCD là “NL hiểu

Trang 34

sống và làm việc theo những chuẩn mực đạo đức, những quy định của pháp luật mộtcách tự giác, tự nguyện” [130, tr 31]

Cùng quan điểm với tác giả Đào Đức Doãn, trong nghiên cứu của tác giả DươngThị Thúy Nga, Đỗ Văn Khải (2013) trên cơ sở đưa ra những định hướng về PTNLcho HS trong dạy học môn Đạo đức - GDCD, đề xuất hình thức và PPDH, kiểmtra, đánh giá môn Đạo đức- GDCD ở trường phổ thông sau 2015, hai tác giả đãnhận định vai trò của CNTT đối với HS trong học tập môn GDCD là “CNTT sẽgóp phần hình thành và phát triển cho HS NL sử dụng ICT, NL thích ứng tích cựcvới những biến đổi của đời sống xã hội, NL học tập suốt đời” [130, tr 369]

Tác giả Lưu thu Thủy trong nghiên cứu về việc đổi mới PPDH môn GDCDsau năm 2015 theo định hướng PTNL cho HS nhận định: “Việc đổi mới chươngtrình môn GDCD sau 2015 theo định hướng PTNL cần phải đổi mới đồng bộ cả vềmục tiêu, nội dung chương trình, PPDH, PTDH và đánh giá kết quả dạy học mônhọc, trong đó đổi mới PPDH là một yếu tố quan trọng để thực hiện có hiệu quảmục tiêu PTNL cho HS” [130, tr 378] Trong các yêu cầu về đổi mới PPDH mônGDCD theo định hướng PTNL cho HS, tác giả chú trọng đến định hướng “Đổimới PPDH GDCD phải chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả tư liệu, thiết bịdạy học và ứng dụng CNTT trong QTDH” [130, tr 382]

Hai tác giả Vũ Đình Bảy và Hoàng Phi Hải (2015) với nghiên cứu về sử dụng

sơ đồ tư duy trong dạy học Bài 12: “Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình”

(GDCD lớp 10) nhấn mạnh đến vai trò của CNTT trong dạy học môn GDCD với sự

hỗ trợ của các phần mềm máy tính để thiết kế sơ đồ tư duy như Mind map, FreeMind, Visual Mind,… nhằm phát huy “NL tư duy sáng tạo” cho HS [131, tr 455-461]

Huỳnh Phi Bảo (2017) khi nghiên cứu về vấn đề đổi mới PPDH và kiểm tra,đánh giá môn GDCD theo định hướng PTNL đã đề xuất biện pháp “tăng cường sửdụng PTDH và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học” [134, tr 31] và nhận định “CNTT vừa

là nội dung dạy học vừa là PTDH trong dạy học hiện đại” [134, tr 31]

Sau một khoảng thời gian dài xây dựng và hoàn thiện, đến ngày 26/12/2018,

Trang 35

Bộ GD&ĐT mới chính thức ban hành Chương trình GDPT tổng thể và chương trìnhcủa các môn học Vì vậy, hướng nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD thuộc Chương trình GDPT năm 2018 theo định hướng PTNL cho HS chưathu hút được nhiều nhà nghiên cứu Vấn đề này mới chủ yếu được định hướng trongchương trình GDPT môn GDCD năm 2018 và một số tài liệu gắn với việc hướngdẫn tìm hiểu, triển khai Chương trình môn GDCD 2018 Có thể nêu ra một số côngtrình tiêu biểu như:

Chương trình môn GDCD năm 2018 trên cơ sở khái quát những nội dungchính như: “Đặc điểm môn học”; “Quan điểm xây dựng chương trình”; “Mục tiêuchương trình môn GDCD”; “YCCĐ đối với HS”, đã đưa ra “định hướng vềphương pháp giáo dục” nhằm hình thành, phát triển cho HS các phẩm chất và NLcủa người công dân và nhấn mạnh cần “tích cực sử dụng các phương tiện dạy họchiện đại nhằm đa dạng, cập nhật thông tin, tạo hứng thú cho HS” [33, tr 53] Bêncạnh đó, khi định hướng về thiết bị dạy học, Chương trình cũng xác định: “mônGDCD cần được trang bị các tư liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học phù hợp với đặctrưng của môn học và điều kiện thực tế như: tranh, ảnh, băng, đĩa, sách và tài liệutham khảo có nội dung giáo dục về đạo đức, kỹ năng sống, kinh tế và pháp luật;máy chiếu; tivi; ” [33, tr 59]

Trong nghiên cứu của tác giả Đào Đức Doãn và nhóm cộng sự vào năm 2019 vềhướng dẫn dạy học môn GDCD theo Chương trình GDPT 2018, nhóm tác giả đã đưa

ra những định hướng về PPDH của Chương trình môn GDCD năm 2018 nhằm hìnhthành, phát triển về phẩm chất, NL cho HS với sự hỗ trợ của các PTDH: “tạo điều kiệncho HS tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu qua các phương tiện thông tin (sách, báo, tạp chí,mạng Internet, ) thông qua đó, HS được hình thành, phát triển phẩm chất, NL; GV thuđược những thông tin cần thiết cho sự điều chỉnh kế hoạch, nội dung, PPDH, phươngpháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS” [46, tr 53]

Trong quá trình bồi dưỡng GV môn GDCD theo Chương trình ETEP, nộidung bồi dưỡng được cụ thể hóa trong 9 mô đun Trong đó, mô đun 9 bồi dưỡngcho GV chuẩn bị thực hiện giảng dạy môn GDKT&PL ở trường THPT đã khẳng

Trang 36

định vai trò của CNTT, học liệu số, thiết bị CNTT trong dạy học, giáo dục và giớithiệu, hướng dẫn GV sử dụng thiết bị CNTT, học liệu số và PMDH hỗ trợ hoạtđộng dạy học, giáo dục HS trong QTDH môn GDKT&PL ở trường THPT [35],…

Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đều đã khẳng định vai trò quan trọngcủa CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS Vấn đềtiếp cận, nghiên cứu của các tác giả khá đa dạng phong phú: Từ vấn đề sử dụngCNTT trong việc thực hiện Chương trình môn GDCD năm 2006 theo định hướngPTNL cho HS đến việc định hướng sử dụng CNTT trong dạy học Chương trìnhmôn GDCD năm 2018 nhằm đạt được những YCCĐ về phẩm chất, NL của mônhọc này; Nghiên cứu việc bồi dưỡng NL CNTT cho sinh viên ngành GDCD ởcác trường sư phạm và GV bộ môn GDCD ở các trường THPT Những nghiêncứu này là những tư liệu hết sức quý báu đối với tác giả trong quá trình nghiêncứu về việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNLcho HS ở trường THPT hiện nay

Tiểu kết chương 1

Thông qua việc tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có thểnhận thấy các tác giả đều có những nhận định sâu sắc về vai trò hết sức quan trọngcủa CNTT đối với giáo dục, dạy học nói chung và đối với việc nâng cao hiệu quảdạy học môn GDCD nói riêng; đều khẳng định ứng dụng CNTT là một xu thế, yêucầu tất yếu đối với quá trình đổi mới giáo dục Những khía cạnh cơ bản về ứng dụngCNTT trong dạy học môn GDCD như vị trí, vai trò của CNTT đối với QTDH mônGDCD, các hình thức, phương pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD,

đã được các tác giả nghiên cứu ở mức độ khác nhau, có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với tác giả trong quá trình nghiên cứu cơ sở khoa học của việc ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

Tuy nhiên, mặc dù các nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong giáo dục, dạy họcnói chung, trong dạy học môn GDCD nói riêng đã được tiếp cận ở nhiều góc độkhác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều tập trung nghiên cứu việc ứng dụng CNTT

Trang 37

trong dạy học nhằm giúp GV đạt được các mục tiêu đối với HS theo chuẩn kiếnthức và kỹ năng của bộ môn trong QTDH hoặc làm tăng tính trực quan, phát huytính sáng tạo, tích cực, chủ động của người học khi thực hiện theo Chương trìnhGDPT năm 2006 Trong khi đó, dạy học theo định hướng PTNL của người họcđang là một xu thế phổ biến của giáo dục trên thế giới, nhất là ở những quốc gia cónền giáo dục phát triển

Đặc biệt, ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu cụ thể vấn đề ứng dụng CNTTnhằm phát triển những NL cụ thể của HS trong dạy học các môn học thuộc chươngtrình GDPT 2006 và 2018, trong đó có môn GDCD ở trường THPT còn khá mới

mẻ, chưa được nhiều tác giả quan tâm, đầu tư nghiên cứu Do đó, nghiên cứu về vấn

đề này sẽ góp phần tìm ra những nguyên tắc, biện pháp để vận dụng, khai thác hiệuquả CNTT đối với quá trình hình thành, PTNL của HS trong QTDH môn học này ởtrường THPT Vì vậy, tác giả Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc

ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS

Thứ hai, khảo sát, đánh giá trực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học

môn GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

Thứ ba, đề xuất nguyên tắc, biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn

GDCD theo định hướng PTNL cho HS ở trường THPT

Thứ tư, tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các biện

pháp ứng dụng CNTT đã đề xuất trong Luận án

Trang 38

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG

2.1 Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông

2.1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

2.1.1.1 Quan niệm về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Trong quan niệm hiện nay, “ứng dụng” vẫn có thể vừa được coi là một động

từ, vừa được coi là một danh từ theo nghĩa chung nhất là “đem lý thuyết vào dùngtrong hoạt động thực tiễn” Đề tài luận án của tác giả được nghiên cứu theo nghĩachung nhất này

Với sự phát triển của ICT, ứng dụng còn được hiểu theo nghĩa khác Theotrang wikimaytinh.com, “ứng dụng (applications) được hiểu là một loại phần mềmcho phép người dùng thực hiện các tác vụ cụ thể” Các ứng dụng cho máy tính đểbàn (PC) hoặc máy tính xách tay (Laptop) thường được gọi là ứng dụng máy tínhtrong khi những ứng dụng dành cho thiết bị di động được gọi là ứng dụng di động.Ngoài ra, một số thiết bị công nghệ hiện nay cũng sử dụng ứng dụng như ti vi, ô tô,máy bay,… Trong quá trình tác giả nghiên cứu luận án, khi trình bày về một số ứngdụng, PMDH, quan niệm về ứng dụng sẽ được hiểu theo nghĩa này

* Quan niệm về CNTT

Trang 39

Theo Hoàng Phê, “công nghệ” được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa cũ,

“công nghệ” đồng nghĩa với công nghiệp; Theo nghĩa hiện nay, “công nghệ” là

“tổng thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tínhchất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sảnxuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” [96, tr 208] Bên cạnh đó, tác giả giải thíchkhái niệm “công nghệ cao” với nghĩa là “công nghệ dựa trên cơ sở khoa học hiệnđại có độ chính xác cao, hiệu suất kinh tế cao (như điện tử, tin học, sinh học phântử,…)” [96, tr 208]

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia giải thích “công nghệ (technology) là sựphát minh, sự thay đổi, sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹnăng nghề nghiệp, hệ thống và phương pháp tổ chức nhằm giải quyết một vấn đề,cải tiến một giải pháp đã tồn tại đạt một mục đích hay thực hiện một chức năng cụthể đòi hỏi hàm lượng chất xám cao”

Như vậy, có thể hiểu “công nghệ” là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹnăng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sảnphẩm “Công nghệ” là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc,nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tưcách là hoạt động con người, “công nghệ” diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ

Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo racác dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóanhư vậy là đặc thù chủ yếu của “công nghệ”

Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm giải thích về công nghệ, theo tác giả,

“công nghệ là tập hợp những phương tiện, giải pháp và cách thức tổ chức hoạt động của con người sử dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn để đạt mục tiêu có hiệu quả”.

Khi giải thích về “thông tin”, theo Hoàng Phê, “thông tin” được hiểu là mộtđộng từ mang ý nghĩa là “truyền tin cho nhau để biết” và là một danh từ mang ýnghĩa là “điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (nói khái quát)” hoặc “tin (kháiniệm cơ bản của điều khiển học)” [96, tr 953]

Trang 40

Từ điển tiếng Việt trực tuyến tratu.soha.vn cũng giải thích quan niệm về

“thông tin” dưới hai góc độ: Dưới góc độ động từ, “thông tin” là “truyền tin, báo tincho người khác biết” và dưới góc độ danh từ, “thông tin” là “điều hoặc tin đượctruyền đi cho biết” và “sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khácnhau, cho biết về thế giới xung quanh và những điều quá trình xảy ra trong nó”

Thông tin có ở khắp nơi và các nhu cầu thu thập, lưu trữ, truyền nhận, xử lýthông tin là phổ biến trong mọi hệ thống của tự nhiên và xã hội Khi kinh tế và xãhội càng phát triển thì vị trí của thông tin càng quan trọng, các nhu cầu khai thác, xử

lý và phổ biến thông tin càng trở nên cấp thiết Đặc biệt, “khi thông tin đã thực sựtrở thành một lực lượng vật chất có ý nghĩa và đóng vai trò như một hàng hóa caocấp, được sự thừa nhận của tất cả các quốc gia và được con người sử dụng thườngxuyên trong các hoạt động kinh tế - xã hội và trong nhiều mặt của cuộc sống cánhân, bước chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin sẽ là tất yếu” [118,

tr 14-15] Nền văn minh nhân loại hôm nay không thể tách rời với nền văn hóathông tin đang hình thành và phát triển

Như vậy, theo tác giả, “thông tin là hệ thống các tín hiệu mang những nội dung xác định để chuyển tải từ nơi này sang nơi khác Thông tin là nguồn gốc của

sự nhận thức và hiểu biết Nó có thể phát sinh, mã hóa, lưu truyền, xử lý biến dạng

và được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau” Đây là yếu tố quan trọng trong

cuộc sống của con người

Theo “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”, thuật ngữ “Công nghệ thông tin

-IT” được xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong một bài viết được xuất bản tại tạp

chí “Harvard Business Review” Hai tác giả là Leavitt và Whisler đã nhận định trong bài viết: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là CNTT (Information Technology - IT)”.

Theo Chính phủ Việt Nam, CNTT được định nghĩa là “tập hợp các phươngpháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuậtmáy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồntài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của

Ngày đăng: 16/01/2023, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w