Song bên cạnh những con số tích cực trên, ngành nông nghiệp Việt Nam đượcđánh giá là tăng trưởng chưa bền vững, có quy mô sản xuất còn nhiều hạn chế,trình độ công nghệ chưa cao, công tác
Trang 1ĐẠI HỌC CỬU LONGKHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬNMÔN QUẢN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Đề tài:
KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI SÁNG TẠOHỢP TÁC XÃ GIAI ĐOẠN 2022-2025
GVKH: TS AO THU HOÀI
Vĩnh Long, tháng 12 năm 2022
Trang 2HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TẤN PHÁTĐịa chỉ ấp Phú Long B, xã Phú Qưới, huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long
KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Trang 3
MỤC LỤC
3.3.3 Kế hoạch đổi mới quy trình (sản xuất/cung cấp) 16
5.2 KPI VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CHO TỪNG BỘ PHẬN LIÊN QUAN 23
Trang 4CHƯƠNG I :GIỚI THIÊU CHUNG1.1 GIỚI THIỆU VỀ HỢP TÁC XÃ
1.1.1 Tên hợp tác xã a) Tên gọi đầy đủ: HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ - SẢN XUẤT - NÔNG NGHIỆP TẤN PHÁT
b) Tên viết tắt: HTX TẤN PHÁT 1.1.2 Địa chỉ trụ sở chính
Số 10B1/1 Ấp Phú Long B, Xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.1.1.3 Vốn điều lệ: 300 triệu đồng
1.1.4 Số lượng thành viên: 09 thành viên1.1.5 Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh Sản xuất và kinh doanh cây ăn quả; các loại rau, củ, quả Dịch vụ trồng,cung cấp cây giống và hoa kiểng các loại
1.1.6 Tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ tổ chức bộ máy của HTX Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức bộ máy của hợp tác xã đượcquy định tại điều 14, 15 điều lệ của hợp tác xã Dịch vụ - Sản Xuất - Nôngnghiệp Tấn Phát gồm:
1.1.7 Hội đồng quản trị gồm: 03 người, trong đó:
Ông: Lê Văn Tấn - Chủ tịch Ông: Nguyễn Quốc Dũng - Thành viên Ông: Đặng Phong Huy - Thành viên 1.1.8 Ban điều hành: Gồm 01 người, trong đó:
Ông: Nguyễn Quốc Dũng - Giám đốc
Do hợp tác xã mới thành lập, nên Hội đồng quản trị và Ban điều hànhđược ghép kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác
1.1.9 Các bộ phận giúp việc của HTX1.1.10 Kiểm soát viên: Ông Nguyễn Hoàng PhươngGIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM
HTX hiện đang triển khai Thu mua trái cây, rau củ quả từ người dân, đóng góixuất đi các siêu thị trong và ngoài tỉnh
Về kinh doanh của HTX: Thực hiện thu mua nông sản như: Mít, sầu riêng,chuối, mướp, dưa leo…
Trang 6BỐI CẢNH VÀ KỲ VỌNG
- Thuận lợi: Đất đai, thời tiết khí hậu thuận lợi cho sản xuất cây ăn quả, raumàu, 3 vụ lúa; sản xuất Lúa hàng hóa vẫn là ngành thu nhập chính của bà connông dân, là nghề truyền thống lâu đời nên người dân có nhiều kinh nghiệmtrong sản xuất, nhờ áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới như: 3 giảm
3 tăng; 1 phải 5 giảm và nguyên tắc 4 đúng nên năng suất Lúa ngày càng ổnđịnh với năng suất bình quân cả năm đạt khá cao từ 6,0 tấn/ha trở lên Xã có hệthống thủy lợi hoàn chỉnh bảo đảm chủ động tưới tiêu cho sản xuất, lại đượccác cơ quan chuyên môn hỗ trợ về kỹ thuật và các chính sách của các chươngtrình dự án;
- Khó khăn: Tuy lợi thế trong canh tác Lúa nhưng chi phí sản xuất luôn ở mứccao do sản xuất theo quy mô hộ gia đình một số khâu không có các dịch vụ hỗtrợ cung ứng đầu vào, đầu ra, tình hình sâu hại dịch bệnh diễn biến phức tạp,thiếu thông tin về khoa học kỹ thuật và thị trường Đường giao thông kết hợpthủy lợi chưa hoàn chỉnh nên khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa Việcliên kết sản xuất gắn với tiêu thụ còn nhiều bất cập, phức tạp, nên hiệu quảchưa cao
- Thời cơ kỳ vọng: Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ ưu đãi cho HTX, như
hỗ trợ thành lập mới, hỗ trợ nhân lực có trình độ Cao đẳng Đại học về giúpHTX, cho vay tiền mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nhằm giảm tổn thấttrong nông nghiệp, chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng… Chính quyềnđịa phương huyện xã ủng hộ và khuyến khích nông dân liên kết sản xuất gắnvới tiêu thụ xây dựng cánh đồng lớn theo chuỗi giá trị Nhiều doanh nghiệpcũng muốn hợp đồng trực tiếp với nông dân thông qua hợp đồng với hợp tácxã…xã Phú Quới đang được sự quan tâm đặc biệt của cấp ủy Đảng, chínhquyền đang phấn đấu xây dựng xã đạt chuẩn “Xã nông thôn mới” vào năm2022
về mô hình hợp tác xã kiểu mới nên còn e dè, ngại tham gia
Trang 7So sánh những thuận lợi, thời cơ với khó khăn, thách thức thì việc thành lậpHợp tác xã để tổ chức các hoạt động dưới đây là cần thiết, giúp người dân yêntâm sản xuất, có nhiều thời gian để chăm lo gia đình và tăng thu nhập và nângcao đời sống.
2.1.2 Môi trường chính trị
Xã Phú Quới thuộc huyện Long Hồ, gồm có 08 Ấp với tổng diện tích tự nhiêntoàn Xã là 12,38 km2, có 08 ấp, 175 tổ nhân dân tự, 3.249 hộ, 13.478 nhânkhẩu
Diện tích sản xuất nông nghiệp gần 879,07 ha, trong đó: Lúa là 638,59 ha/vụ;còn lại là diện tích trồng cây màu và cây lâu năm (20 ha) và ươm nuôi cá thủysản gần 23 ha; Người dân chủ yếu sống bằng nghề sản xuất 2 vụ Lúa (Hè Thu
và Đông Xuân) với diện tích xuống giống trên 1.276 ha/năm, đạt năng suất bình quân trên 6 tấn/ha/vụ, sản lượng trên 7.656 tấn/năm Về chăn nuôi có tổngđàn gia súc, gia cầm là 28.300 con, nhìn chung chăn nuôi gia súc có xu hướngtăng, nhưng gia cầm giảm do biến động giá cả của thị trường theo xu hướng bấtlợi cho người chăn nuôi Về công nghiệp và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, toàn
xã có nhà máy xay xát và 6 cửa hàng vật tư nông nghiệp
2.1.3 Môi trường xã hội Khi hợp tác xã được thành lập và đi vào hoạt động thì sẽ ký hợp đồng vớidoanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tiêu thụ cây ăn quả, rau màu …cho nên trongthời gian đầu việc vận động nông dân tham gia hợp tác xã và sử dụng các sản phẩm dịch vụ và bán sản phẩm cho hợp tác xã là hết sức khó khăn Nhưng dưới
sự hỗ trợ vận động tích cực của Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể xãhội và ban sáng lập sẽ dần dần làm cho người dân hiểu rõ hơn về lợi ích của môhình hợp tác xã và tham gia hợp tác xã ngày càng nhiều hơn
2.2 MÔI TRƯỜNG VI MÔ2.2.1 Các nhóm khách hàngHầu hết các lĩnh vực kinh doanh đều nhận ra tầm quan trọng trong việc coikhách hàng là trung tâm trong mọi hoạt động kinh doanh Đối với các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp trực tiếp sản phẩm dịch vụ cho ngườidùng cuối, việc quản trị khách hàng thường khá rõ ràng Tuy nhiên, đối với cácdoanh nghiệp hoạt động như một phần của chuỗi cung ứng, điển hình trongchuỗi cung ứng thực phẩm nói chung và những nhà sản xuất nông sản nóiriêng, khi họ không đóng vai trò là mắt xích liên kết trực tiếp với người tiêudùng, việc thấu hiểu khách hàng thường diễn ra khá khó khăn Quản trị quan hệkhách hàng đối với doanh nghiệp sản xuất nông sản
Trước tiên, chúng ta cần tái hiện lại mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm cơ bản.Chúng ta sẽ không đề cập đến những tiểu thương hoạt động theo mô hình tựnuôi trồng- tự bán hàng trực tiếp, vì hoạt động của họ không khác biệt nhiềuvới những doanh nghiệp cung cấp trực tiếp sản phẩm cho người dùng cuối.Chúng ta sẽ nhìn vào một mô hình phổ biến hơn của chuỗi cung ứng thực
Trang 8phẩm, nơi những doanh nghiệp trong chuỗi hoạt động riêng biệt hoặc chỉ sở hữu một phần của chuỗi cung ứng.
Trang 9
Hình 1: Mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm cơ bản
Để sản phẩm đến được với người tiêu dùng cuối, thông thường các nhà sảnxuất nông sản phải thông qua khá nhiều khâu trung gian, và chỉ những nhà bán
lẻ hoặc phân phối mới nắm bắt được thị hiếu và nhu cầu của người dùng cuối
Do đó, các nhà sản xuất nông sản hầu như có rất ít thông tin liên quan đếnngười tiêu dùng sản phẩm cuối cùng Khách hàng của họ chính là những nhà bán lẻ Các nhà bán lẻ đặt hàng, doanh nghiệp sản xuất nông sản thực hiện theođơn hàng và cố gắng làm thỏa mãn yêu cầu của những khách hàng doanhnghiệp này Đây là cách thức các nhà sản xuất nông sản quản trị quan hệ kháchhàng của mình, nhưng như chúng ta có thể thấy, nó không trực tiếp, toàn diện
và thiếu chủ động
Người dùng cuối: khúc mắc lớn nhất của các nhà sản xuất nông sản
Cho đến nay, ít doanh nghiệp sản xuất nông sản xác định được chân dungkhách hàng cuối sử dụng sản phẩm của mình Đa số dựa trên kinh nghiệm bảnthân và sự tư vấn của bên thứ ba để quyết định loại mặt hàng và thời điểm sảnxuất hàng hóa mà chưa thể chủ động ra quyết định điều chỉnh hoạt động sảnxuất kinh doanh dựa trên thống kê, phân tích dữ liệu
2.2.2 Đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh trong sản xuất cây ăn quả không có nhiều, không đáng ngại,nếu có hợp tác xã cung cấp theo phương thức “Mua tận gốc bán tận ngọn” vừađảm bảo số lượng, chất lượng Mặt khác, khi HTX ký hợp đồng mua trực tiếp
từ nông dân bán cho doanh nghiệp tại thành phố HCM và các tỉnh lân cận thì sẽgiảm áp lực giá cả, trúng mùa- mất giá Do vậy đây là điều kiện thuận lợi đểhợp tác xã tổ chức dịch vụ thu mua trái cây, rau màu trong xã
2.3 PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁOMục tiêu chung:
- Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất từ riêng lẻ (kinh tế hộ) thành mô hìnhkinh tế hợp tác (kinh tế tập thể), nhằm giảm chi phí sản xuất nâng cao thu nhậpgóp phần cùng chính quyền địa phương đạt tiêu chí 10, 11, 12 và 13 trong xâydựng nông thôn mới;
- Tổ chức họat động quản lý, điều hành hợp tác xã theo đúng bản chất và cácnguyên tắc theo luật hợp tác xã 2012
- Thực hiện sản xuất cây ăn quả, rau màu và các dịch vụ trong nông nghiệpnhằm hỗ trợ cho thành viên và nông dân những việc mà hộ riêng lẻ làm khônghiệu quả,
- Tiến tới tham gia liên kết vùng theo mô hình liên hiệp hợp tác xã về sản phẩm, nâng cao giá trị sản phẩm
Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2027 phấn đấu tổ chức sản xuất với diện tích khoảng 100 ha, trongđó: HTX đảm nhận khâu đầu ra nông sản cho 50% diện tích;
Trang 10- Hỗ trợ các hoạt động dịch vụ về thuốc bảo vệ thực vật
- Tăng thu nhập bình quân đầu người trong thành viên hợp tác xã mỗi năm lên10%, đảm bảo đạt và giữ vững tiêu chí 13 trong xây dựng nông thôn mới
CHƯƠNG 3:
KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI SÁNG TẠO3.1 MỤC TIÊU ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
3.1.1 Mục tiêu dài hạnTrong những năm qua, ngành nông nghiệp vẫn khẳng định vai trò là bệ đỡ củanền kinh tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là
cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân, góp phần quan trọng ổn địnhchính trị - xã hội và phát triển đất nước, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnhCovid-19 diễn biến phức tạp Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tăngtrưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 so với năm 2015đạt 13,4%, trong đó ngành nông nghiệp tuy đạt mức tăng 9,1% nhưng đónggóp cao nhất tới 7 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của khuvực này Giai đoạn 2016- 2020, giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp
và thủy sản chiếm từ 14-16% trong GDP, bình quân tăng 2,54%/năm, trong đónông nghiệp tăng 1,8%/năm, đóng góp 1,32 điểm phần trăm vào mức tăngchung cả khu vực Năm 2021, dù dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực tới mọilĩnh vực kinh tế - xã hội, song khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nềnkinh tế Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sảnlớn trên thế giới, với kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 48,5 t USD trong năm
2021 (số liệu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Song bên cạnh những con số tích cực trên, ngành nông nghiệp Việt Nam đượcđánh giá là tăng trưởng chưa bền vững, có quy mô sản xuất còn nhiều hạn chế,trình độ công nghệ chưa cao, công tác bảo quản chế biến kém phát triển, tổnthất sau thu hoạch còn cao, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị còn hạn chế, thịtrường bất ổn, năng suất lao động thấp, thu nhập của người nông dân vẫn còn bấp bênh Trong khi đó, ngành nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt vớinhiều thách thức như thu hẹp diện tích canh tác, biến đổi khí hậu…
Chính vì vậy, để phát triển bền vững, ngành nông nghiệp cần hòa nhịp và tíchhợp giá trị cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bằng nền nông nghiệp tri thức,nông nghiệp thông minh thông qua một trong những nguồn lực vô hình là đổimới sáng tạo (ĐMST) Ngày 28/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 150/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp vànông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
3.1.2 Mục tiêu ngắn hạn Những vấn đề cần giải quyết để tránh khúc mắc giữa nông dân và doanhnghiệp
Trang 11Thứ nhất, mọi khúc mắc nói chung thường xuất phát từ lợi ích, do vậy vấn đềquan trọng nhất là làm sao hài hòa được lợi ích của các bên Doanh nghiệpthường biết tính toán cho lợi ích xa hơn, rộng hơn, trong khi người nông dânluôn phải lo cuộc sống hằng ngày nên cách nhìn lợi ích có phần ngắn hạn vàhẹp hơn.
Để dung hòa khác biệt này, doanh nghiệp phải tự đặt mình vào vị thế của nôngdân, phải nghĩ một cách sòng phẳng xem lợi ích của nông dân cần được đảm bảo như thế nào, từ đó mới thuyết phục và xây dựng được lòng tin giữa hai bên
Thứ hai, giữa nông dân và doanh nghiệp ở nước ta có chênh lệch lớn về vị thế. Nông dân là người có đất thật đấy, nhưng chỉ là quyền sử dụng đất với quy môhạn chế và giá trị của đất trong nông nghiệp không được cao, trong khi doanhnghiệp có vị thế kinh doanh với nhiều cách thức khai thác mang lại giá trị lớnhơn Nhìn vào chuỗi giá trị thì điều này càng rõ Nông dân phần nhiều chỉ nắmkhâu sản xuất nông sản, còn doanh nghiệp là người nắm cả đầu vào lẫn đầu ratrong chuỗi giá trị, dẫn tới vị thế của doanh nghiệp cao hơn nhiều so với nôngdân Chính vì vậy doanh nghiệp cần có cách phân công hợp lý, thuyết phục, hỗtrợ nông dân để người ta có thể đi cùng với mình và có vị trí được nâng caodần trong cả chuỗi
Thứ ba, về tiếp cận các nguồn lực như thông tin, kiến thức, tri thức cần thiếttrên thị trường, nông dân không thể có điều kiện bằng doanh nghiệp, phần lớn
họ không biết cụ thể thị trường cần gì, giá cả trên thị trường biến động như thếnào, bán ở trong nước hay xuất khẩu có lợi hơn, v.v Họ cũng không thể nhanhnhạy như doanh nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn công nghệ, kỹ thuật haydịch vụ hỗ trợ Vì vậy, doanh nghiệp rất cần chia sẻ và hỗ trợ nông dân thựchiện cách làm phù hợp hoặc ứng dụng công nghệ mới, tổ chức lại quy trình sảnxuất, nâng cao năng lực của nông dân trong quản trị hộ sản xuất, tổ hợp tác hayhợp tác xã Nông dân cũng cần cố gắng học hỏi để có thể làm việc được vớidoanh nghiệp ngày một hòa hợp và bình đẳng hơn
Vấn đề cuối cùng là yếu tố pháp lý của việc hợp tác Lâu nay liên kết bốn nhàkhó thành công một phần bởi công cụ pháp lý không đảm bảo Khi xảy ra tranhchấp hợp đồng thường rất khó xử lý, vì cứ vướng giữa tình và lý Trên thực tế,nhiều khi doanh nghiệp phải chịu thiệt thòi hơn vì xã hội và Nhà nước nóichung thường đứng ra bênh vực người nông dân, kể cả khi người nông dân vi phạm hợp đồng – ví dụ đã tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp nhưng lại đem bán sản phẩm cho ai trả giá cao hơn chứ không bán cho người đã đầu tư chomình Rất cần có thể chế pháp lý nghiêm minh, bảo đảm sự tuân thủ các camkết trong hợp đồng, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên, như vậy mới cóthể tạo niềm tin lâu dài Bên cạnh đó cũng không thể thiếu thể chế pháp lý và
hệ thống giám sát cần thiết để thúc đẩy toàn ngành nông nghiệp phát triển theoyêu cầu mới, đảm bảo chất lượng, an toàn, truy xuất được nguồn gốc và có thể
Trang 12cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, chúng ta không chỉ bàn về các yếu
tố kỹ thuật và quy trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới có giá trị cao hơn,
mà còn cần xây dựng phương thức tổ chức mới Phương thức tổ chức mới làđiều hết sức quan trọng, bởi lâu nay chúng ta kêu gọi rất nhiều về hợp tác bốnnhà, nhưng trên thực tế sự hợp tác đó phần lớn không thực chất và kém hiệuquả Cần cách thức hợp lý, thông minh hơn, giúp cho các bên tham gia đứngvững và phát triển được trong điều kiện thay đổi của tự nhiên, của thị trường,của các yếu tố trong kinh doanh nông nghiệp cũng như sự phát triển của cáccông nghệ mới Chỉ với cách tiếp cận rộng như vậy, nông nghiệp Việt Nammới có thể thích ứng với bối cảnh mới với bao thách thức đang nảy sinh: vấnnạn biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn nước; tiến trình đô thịhóa cùng sự già hóa dân số làm cho nhân lực trong nông nghiệp bị cạnh tranh
dữ dội bởi các lĩnh vực khác; sự gia tăng tầng lớp trung lưu và nhu cầu thay đổicủa người tiêu dùng tạo nên đòi hỏi cao hơn về chất lượng, dinh dưỡng, độ antoàn, thay đổi cấu trúc bữa ăn…; những thách thức do cạnh tranh và hội nhậpquốc tế…
3.2 NHIỆM VỤ (SỨ MỆNH)Trong những năm gần đây, đóng góp của khu vực HTX ở xã Phú Qưới vàotăng trưởng kinh tế của thị xã có những chuyển biến tích cực, tăng dần cả vềgiá trị tuyệt đối và tương đối Tuy nhiên, mức đóng góp này còn rất nhỏ béchiếm 10,6% vào năm 2022
- Nhằm phát triển sản phẩm đặc sản ở mỗi địa phương (sản phẩm nông sản, đặcsản, thủ công mỹ nghệ) theo chuỗi giá trị; trong đó tập trung phát triển sản phẩm OCOP, sản phẩm có chất lượng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao để trở thành sản phẩm chủ lực của tỉnh, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh về điềukiện tự nhiên, thổ nhưỡng, nguồn giống, nguồn lực có sẵn về tài nguyên,nguyên liệu, mang tính độc đáo riêng biệt, có gia tăng giá trị và không ảnhhưởng xấu đến môi trường; sản phẩm có khả năng thành hàng hóa, sản lượng
ổn định, giá trị sử dụng cao, có tiềm năng phát triển sản xuất, mở rộng thịtrường, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước
- Hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm, bán hàng, xúc tiến và mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm đặc sản của tỉnh, ưu tiên hỗ trợ các hộ sản xuất, cơ sở,hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP, sản phẩm chủ lực của tỉnh Vĩnh Long nhằm nâng cao đời sống của nông dân ở nông thôn với thu nhập ổn định và ngày càng cao
- Phân bổ nguồn lực thực hiện các hoạt động phát triển sản xuất, xúc tiếnthương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đặc sản tỉnh có trọng tâm,trọng điểm; tập trung chủ yếu vào những sản phẩm đặc sản thuộc danh mục sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP của tỉnh
- Triển khai kế hoạch phải đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả Tổ chức triển khai
Trang 13thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, kết hợp lồng ghép các chương trình, kế hoạchcủa tỉnh có liên quan đã ban hành.
3.3 KẾ HOẠCH CHI TIẾT3.3.1 Kế hoạch sáng tạo sản phẩm mới
Từ kinh nghiệm các nước cho thấy, ĐMST trong nông nghiệp giúp thay đổiquy trình sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, nâng cao chất lượng,xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm, thay đổi quản trị sản xuất bằng nông nghiệp
số để tăng thu nhập cho nhà nông và tiếp cận các tiêu chuẩn của thế giới. Với những lợi ích trên, ĐMST trong nông nghiệp là câu chuyện được nhiều
bộ, ngành và địa phương quan tâm trong những năm gần đây
Thời gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động thúc đẩy các hoạt động kếtnối thông qua Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam (NIC) tại nhiều nước trênthế giới, nhằm tạo diễn đàn trao đổi về thực tiễn phát triển nông nghiệp, ứngdụng công nghệ và ĐMST trong hoạt động nông nghiệp của các nước tiên tiến
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cũng đã phối hợp cùngmạng lưới đổi mới sáng tạo nông nghiệp lớn nhất toàn cầu là Nhóm Tư vấn các
Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế - CGIAR nghiên cứu và triển khaicác dự án giúp phát triển bền vững nhiều lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chănnuôi và chuyển đổi hệ thống thực phẩm cũng như giúp nông nghiệp nước tathích ứng với biến đổi khí hậu
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục cùngCGIAR thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học là: Cải tiếntrong Nông học để Thâm canh bền vững và Thích ứng với Biến đổi Khí hậu(Eia); cải tiến Năng suất Chăn nuôi Bền vững vì Sinh kế, Dinh dưỡng và Hòanhập Giới (SAPLING); Sức khỏe Cây trồng và Phản ứng Nhanh để Bảo vệ Anninh Lương thực và Sinh kế; Cải thiện sức khỏe con người thông qua cách tiếpcận Một sức khỏe; Nâng cao Năng suất và Khả năng phục hồi
Để đẩy mạnh triển khai ĐMST trong thực tế, với sự tài trợ của Bộ Hợp tácKinh tế và Phát triển Liên bang Đức, cuối năm 2021, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn đã hợp tác với Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) thực hiện
dự án Trung tâm Đổi mới sáng tạo xanh trong nông nghiệp và thực phẩm Việt Nam (GIC Việt Nam), nhằm thúc đẩy và tăng cường năng lực áp dụng các giải pháp đổi mới sáng tạo và những mô hình kinh tế có tính cạnh tranh tại khu vựcđồng bằng sông Cửu Long
Chương trình của Dự án được thực hiện tại 6 tỉnh thuộc Đồng bằng sông CửuLong (gồm An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang và SócTrăng), trong thời gian 2020-2024, GIC Việt Nam sẽ hỗ trợ 20.000 nông hộ sảnxuất nhỏ cải thiện chất lượng sản phẩm nông sản nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn
Trang 14chất lượng của thị trường quốc tế, nâng cao thu nhập từ 15-20%.
GIC Việt Nam đồng thời thực hiện đào tạo 12.000 nông hộ cải tiến hệ thốngcanh tác theo hướng bền vững, áp dụng các giải pháp giảm thiểu các tác độngtiêu cực lên môi trường trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệuquả quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng cường khả năngthích nghi và chống chịu trước các tác động của biến đổi khi hậu của hai chuỗigiá trị nông sản chủ lực ở ĐBSCL là lúa gạo và xoài
Cụ thể, dự án đặt trọng điểm vào những ĐMST phù hợp với nhu cầu thịtrường như thúc đẩy các giống lúa có nhu cầu cao, các tiêu chuẩn nông nghiệpcải tiến, tuân thủ an toàn thực phẩm và chứng nhận chất lượng, cung cấp dịch
vụ cho các nông hộ nhỏ theo định hướng kinh doanh; triển khai các sáng kiếnnhằm giảm thiểu tác động môi trường trong nông nghiệp, giảm phát thải khínhà kính và tái chế rơm rạ và trấu; cải thiện quản lý vườn cây ăn quả và sứckhỏe cây trồng, giảm thất thoát sau thu hoạch được thực hiện thông qua môhình trung tâm xúc tiến phát triển xoài
Dự án GIC Việt Nam đã có sức lan tỏa đáng kể làn sóng ĐMST xuống các địa phương tại khu vực ĐBSCL Tại An Giang, tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp đổimới sản phẩm nông nghiệp và triển khai kế hoạch thực hiện dự án khu vực
“Các trung tâm đổi mới sáng tạo xanh”, góp phần phát triển nông thôn bềnvững
Cụ thể, tỉnh đã ứng dụng các giải pháp ĐMST, tăng hiệu suất canh tác, chấtlượng nông sản của 4.200 nông hộ tham gia dự án được cải thiện và bền vữngtrong chuỗi giá trị lúa gạo và chuỗi giá trị xoài; nâng thu nhập trung bình củanông hộ tham gia dự án tăng lên 15% trong chuỗi giá trị lúa gạo và tăng 20%trong chuỗi giá trị xoài Có 2.520 nông hộ được áp dụng các giải pháp đổi mớisáng tạo thông minh, nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu 70%doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) được hỗ trợ sẽ cải thiện 3/5 chỉ số làdoanh thu, số lượng khách hàng, các quan hệ kinh doanh được thiết lập, chi phísản xuất và đầu tư
Trong các năm 2022-2025, tỉnh sẽ thực hiện 4 hợp phần cốt lõi liên kết chặtchẽ với nhau: Phát triển hệ thống tìm kiếm, lựa chọn các ĐMST khả thi; tăngcường năng lực các tác nhân để thực hiện ĐMST; thúc đẩy áp dụng ĐMST chocác mô hình kinh doanh nông nghiệp bền vững; tư vấn chính sách và truyềnthông để nhân rộng áp dụng ĐMST
Trong chuỗi giá trị lúa gạo và chuỗi giá trị xoài, các giải pháp ĐMST sẽđược thực hiện là: Các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp canh tác bền vững (như
bộ tiêu chuẩn canh tác lúa bền vững SRP, VietGAP); cải thiện chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm bằng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp
và kiểm tra tồn dư hóa chất trong sản phẩm; cải tiến tổ chức sản xuất; giải phápthị trường; tận dụng phế phụ phẩm làm năng lượng sinh học (từ rơm rạ, trấu,rau, củ, quả dập nát ) theo hướng thân thiện môi trường
Trang 15Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, bằng cách sử dụng công nghệ thông tin,công nghệ internet vạn vật (IoT) trên quy mô nhỏ (như sáng kiến ứng dụng hệthống cảnh báo, dự báo thời tiết kết hợp với hỗ trợ ra quyết định cho hộ nôngdân, ứng dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng di động để hỗ trợ nôngdân quản lý và truy xuất nguồn gốc, tiếp cận thông tin thị trường, bán hàng trựctuyến, sàn giao dịch điện tử) Triển khai các khóa học khuyến nông, chuyểngiao công nghệ thông minh qua hình thức đào tạo trực tuyến và giải pháp hỗtrợ phát triển bền vững cho vùng và các tiểu vùng.
Nhằm thúc đẩy áp dụng ĐMST cho các mô hình kinh doanh nông nghiệp bềnvững, tỉnh An Giang đặt mục tiêu hợp tác chặt chẽ với khối tư nhân để tiếp cậnđược với các đối tác kinh doanh thương mại Tiến hành thử nghiệm các môhình liên kết giữa DN kinh doanh chế biến với các HTX lúa gạo và xoài vàđánh giá việc triển khai ứng dụng các kết quả ĐMST
Thử nghiệm các mô hình kinh doanh cho HTX lúa gạo và đánh giá trong sựliên kết chặt chẽ với các DN Tỉnh đồng thời sẽ hỗ trợ kết nối giữa các nhà sảnxuất với khách hàng ở địa phương, khu vực và quốc tế; hỗ trợ thương thảo hợpđồng đối với các sản phẩm có chất lượng và thực hiện lồng ghép các giải phápĐMST vào các chiến lược, chương trình và dự án của quốc gia và địa phương.Các giải pháp trên sẽ tạo ra các mô hình tại chỗ về đa dạng hóa canh tác lúagạo và nông thôn mới, cũng như tham vấn các cơ quan nhà nước hoàn thiệncác chính sách, qua đó thúc đẩy hiệu quả ĐMST trong nông nghiệp cả nước
Cũng trong năm 2021 vừa qua, Chương trình Thúc đẩy Đổi mới sáng tạo
và Đầu tư trong Công nghệ Nông nghiệp - GRAFT Challenge Vietnam 2021được phát động, giúp kết nối các doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp(AgriTech) hàng đầu với các đối tác và các nguồn lực hỗ trợ mở rộng quy môtrong ngành nông nghiệp Việt Nam Với sự tài trợ của Chính phủ Úc, thôngqua Chương trình Aus4Innovation, GRAFT hỗ trợ doanh nghiệp giải quyếtnhững thách thức cấp thiết của ngành nông nghiệp Việt Nam, bao gồm cảithiện chất lượng và chi phí nguồn nguyên liệu đầu vào, giảm thiểu tỉ lệ tổn thấtsau thu hoạch và xây dựng lòng tin của người tiêu dùng đồng thời giải quyếtcác thách thức cụ thể của từng nhóm ngành trồng trọt, thu hải sản và chănnuôi
Bên cạnh đó, Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam - Australia (NIC AU) vàTrung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cũng đang cùng nhau xây dựng, kết nối
và tìm kiếm các giải pháp nhằm tăng tốc quá trình chuyển đổi số trong nôngnghiệp Tại hội thảo với chuyên đề “Ứng dụng công nghệ 5.0 để đổi mới pháttriển bền vững ngành nông nghiệp và chuỗi cung ứng nhằm nâng cao chấtlượng, phân phối và giá trị nông sản một cách hiệu quả tuần hoàn” diễn ra vàotháng 5 mới đây, Chủ tịch Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam - Australia
Trang 16cho biết, NIC AU sẽ không ngừng trao đổi, tổng hợp, phân tích và kết nối đểtìm ra các giải pháp cho những vấn đề còn tồn đọng, cập nhật công nghệ 5.0nhằm tăng tốc quá trình chuyển đổi số của nông nghiệp Việt Nam NIC AUhướng đến 3 mục tiêu lớn: Kết nối các chuyên gia ở Úc và toàn cầu với cácdoanh nghiệp Việt Nam, quỹ đầu tư, viện nghiên cứu, trường đại học; cập nhậtcác chính sách đầu tư, định hướng phát triển từ phía nhà nước đến các chuyêngia và doanh nghiệp; kết nối và hỗ trợ tạo dựng thêm nhiều cơ hội đầu tư trong
và ngoài nước
Những kết quả trên mới chỉ là những bước đi đầu tiên và ĐMST vẫn là câuchuyện dài cần được chú trọng hơn nữa Ðể các yếu tố ĐMST đi vào thực tếsản xuất nông nghiệp, làm điểm tựa để ngành nông nghiệp phát triển bền vữngtrong bối cảnh mới rất cần hình thành hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn với sựtham gia không chỉ của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân màcòn là của nhiều chủ thể khác
Các cơ quan quản lý nhà nước cần đề ra cơ chế, chính sách mới hoặc mạnh dạnxóa bỏ các «giới hạn» cũ để mở đường cho các dự án, ý tưởng ĐMST đượcứng dụng rộng rãi Bên cạnh đó, cần sự tham gia góp ý từ các chuyên gia trongnước và quốc tế, nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp, nâng cao giá trịgia tăng, chất lượng nông sản Việt Nam Hy vọng rằng, trong thời gian tớiĐMST trong nông nghiệp sẽ đạt được nhiều kết quả hơn nữa để ngành nôngnghiệp Việt Nam theo kịp sự phát triển của khoa học - công nghệ, sự thay đổitrong nhu cầu thị trường và có tầm nhìn mới về sự phát triển và hội nhập vớiquốc tế./
3.3.2 Kế hoạch phát triển thị trường mới
Tập trung triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ các hộ sảnxuất, cơ sở, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đặc sản, trọng tâm làsản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực của tỉnh, nhất là các tham gia chương trìnhliên kết, hỗ trợ kết nối cung - cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản giữa các tỉnh,thành phố trong cả nước Ðồng thời, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, xúc tiếntiêu thụ các sản phẩm đặc sản của địa phương , cụ thể:
- Hỗ trợ xây dựng, hình thành chuỗi cửa hàng giới thiệu và bán các sản phẩmOCOP, sản phẩm chủ lực của tỉnh
Cụ thể: Gian hàng tại các siêu thị Big C, Coopmart và các chợ lớn trọng điểmtại thành phố Vĩnh Long; Điểm bán hàng tại các khách sạn, nhà hàng, khu dulịch; Mỗi huyện, thị xã ít nhất phải hình thành 01 Quầy giới thiệu và bán sản phẩm tại trung tâm huyện, thị xã
- Tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại cấp tỉnh hoặc các doanh nghiệp mangsản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực của tỉnh đến giới thiệu tại các thị trường
Trang 17trong nước và quốc tế.
- Lựa chọn, hỗ trợ tham gia phân phối sản phẩm đặc sản của tỉnh thông quahình thức thương mại điện tử, chuyển đổi số ngành thương mại; trên các trangmạng giới thiệu và bán sản phẩm nông sản, sản phẩm đặc sản hiện có; trên các
- Tổ chức kết nối giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và nhà phân phối nhằmđưa các sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực tỉnh vào các kênh phân phối
- Quảng bá danh mục sản phẩm đặc sản tỉnh trên các phương tiện thông tintruyền thông; duy trì, phát triển website sản phẩm đặc sản tỉnh Vĩnh Long.3.3.3 Kế hoạch đổi mới quy trình (sản xuất/cung cấp)
- Xây dựng danh mục sản phẩm đặc sản tỉnh để tập trung ưu tiên phát triểnTrên cơ sở các sản phẩm nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ và sản phẩm chủlực của các địa phương, xây dựng danh mục sản phẩm đặc sản của tỉnh, trong
đó tập trung ưu tiên các sản phẩm OCOP, công nghiệp nông thôn tiêu biểu, sản phẩm chủ lực, sản phẩm được cấp quyền sử dụng “Con dấu nhận diện sản phẩm đặc sản tỉnh” và “Con dấu nhận diện thủ công mỹ nghệ tỉnh ” Đồng thờisản phẩm phải đảm bảo: có khả năng phát triển thị trường, giá cạnh tranh vàsản lượng ổn định; có nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất
- Phát triển vùng nguyên liệu
- Triển khai chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm nông sản phù hợpvới lợi thế của địa phương, nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khíhậu; phát triển các nhóm cây trồng chủ lực ưu tiên Phát triển sản xuất nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩmtheo chuỗi giá trị
- Rà soát quy hoạch vùng trồng nguyên liệu dựa trên điều kiện tự nhiên, thổnhưỡng phù hợp với đặc tính tự nhiên của cây đặc sản
- Xây dựng các vườn ươm cây giống; sưu tầm, tuyển chọn cây trội, áp dụng các phương pháp nhân giống mới vào sản xuất phục vụ cho kế hoạch phát triểnvùng nguyên liệu
Trang 18- Xác định đối tượng cây trồng, vật nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế cao để tậptrung phát triển.
- Phát triển vùng nguyên liệu và các sản phẩm đặc sản gắn với chương trìnhmỗi xã một sản phẩm ở tỉnh
- Hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật để nângcao năng xuất chất lượng sản phẩm và thiết kế bao bì, nhãn hiệu sản phẩm
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất sản phẩm đặc sản xây dựng mô hình trình diễn kỹthuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, xử lý môi trường;ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất, chế biến các sản phẩm đặcsản tỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
- Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm thôngqua các việc tổ chức các khóa tập huấn nâng cao nhận thức của doanh nghiệp
về vai trò của thiết kế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;kết nối doanh nghiệp với các nhà thiết kế; tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng caonăng lực thiết kế, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu
- Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sản phẩm đặc sản tỉnh thiết kế mới
và cải tiến mẫu mã, kiểu dáng các sản phẩm có giá trị kinh tế, nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản làm hàng lưu niệm và quà tặng
- Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hệ sinh tháikhởi nghiệp đổi mới sáng tạo
- Hướng dẫn, hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất triển khai, thamgia Chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh
- Hỗ trợ phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất tiêu thụ nông sảntheo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu Đồng thời xây dựngcác mô hình liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản chonông dân giúp tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng giá trị sản phẩm và từng bước nâng cao thu nhập cho nông dân (Ưu tiên phát triển cácchuỗi giá trị thuộc các nhóm sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nôngthôn tiêu biểu trở thành sản phẩm chủ lực địa phương)
3.4 Kế hoạch
- Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóagắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị
Trang 19- Triển khai chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản phẩm phù hợp với lợi thế của địa phương, nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển cácnhóm cây trồng chủ lực ưu tiên Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị Tậptrung phát triển mạnh các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh vềdược liệu.
- Quy hoạch vùng trồng nguyên liệu dựa trên điều kiện lập địa phù hợp với đặctính tự nhiên của cây đặc sản Xây dựng các vườn ươm cây giống; sưu tầm,tuyển chọn cây trội, áp dụng các phương pháp nhân giống mới vào sản xuất phục vụ cho phát triển vùng nguyên liệu Phát triển vùng nguyên liệu và cácsản phẩm đặc sản gắn với chương trình mỗi xã một sản phẩm ở tỉnh
- Hỗ trợ phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất tiêu thụ nông sảntheo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu Đồng thời xây dựngcác mô hình liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản chonông dân giúp tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng giá trị sản phẩm và từng bước nâng cao thu nhập cho nông dân (Ưu tiên phát triển cácchuỗi giá trị thuộc các nhóm sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nôngthôn tiêu biểu trở thành sản phẩm chủ lực địa phương)
- Xây dựng một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệpthực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh giai đoạn 2021 – 2025 Trong đóquan tâm hỗ trợ các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp, sản phẩm đặc sản; hỗ trợ chuyển đổi các loại hình sản xuất hiệu quảthấp sang trồng nguyên liệu chế biến cây đặc sản; hỗ trợ đầu tư, tiếp nhận ứngdụng công nghệ hiện đại vào sản xuất; Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở ứngdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến để tạo ra các sản phẩm nông sảnthành hàng hóa thương hiệu
- Xây dựng và triển khai “Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Vĩnh Longgiai đoạn 2021-2025” Có giải pháp nâng hạng sao đối với sản phẩm OCOPcủa tỉnh
- Hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện cácquy trình, thủ tục trong việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toànthực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý
CHƯƠNG 4:
KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH4.1 CHI PHÍ
Tổ chức thực hiện Kế hoạch trên cơ sở lồng ghép các nguồn vốn sau:
- Nguồn khuyến công và xúc tiến thương mại;
- Nguồn khuyến nông, lâm, ngư;
Trang 20- Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Chương trình phát triển khoa học công nghệ, tài sản trí tuệ;
- Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, lồng ghép cácnguồn vốn hỗ trợ sản xuất từ Chương trình xây dựng nông thôn mới;
- Chương trình phát triển thương mại điện tử;
Thuhoạch vàchi khác
Thànhtiền
Trang 211.3 Doanh thu sản xuất 5 năm các sản phẩm (Bảng 3)
(5 năm từ 2022-2027)
Sản phẩm Năng suất
(Tấn/ha)
Số vụ(vụ/5 năm)
Đơn giá(Triệu/tấn)
Diện tích(Ha )
Thành tiền(Triệuđồng)
Dịchvụ
TổnglãiSầu riêng 6.000 2.500 8.500 3.750 2.425 6.175 2.250 75 2.325
Trang 22Khổ hoa 800 - 800 364 - 364 436 - 436Mướp
Thứ nhất: Chính phủ và các bộ/ngành liên quan cần có chính sách ưu tiên,cung cấp học bổng, kinh phí đào tạo và đầu tư cho các cơ sở đào tạo, trườngđại học để đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp ở một số ngành then chốt Điềunày sẽ giúp các cơ sở đào tạo thu hút tuyển sinh các ngành nông nghiệp trở lại,qua đó đóng góp một cách gián tiếp hay trực tiếp vào sự phát triển đội ngũngười làm nông chuyên nghiệp Nếu không, đất nước có thể sẽ thiếu hụt nguồnnhân lực này trong vài thập niên tới Các tổ chức kinh tế - xã hội cũng cần ýthức và có trách nhiệm xã hội trong việc đóng góp đào tạo nguồn nhân lựcnông nghiệp như cung cấp học bổng, tham gia hỗ trợ kinh phí đào tạo và đầu
tư, hỗ trợ phương tiện thực hành, thực tập cho các cơ sở đào tạo, trường đạihọc
Thứ hai: hướng nghiệp, giáo dục nông nghiệp cho học sinh phổ thông để thuhút giới trẻ yêu thích nghề nông nghiệp là con đường mang tính chiến lược dàihạn
Cách đây 12 năm (năm 2010), Tổ chức SEARICE (Southeast Asia RegionalInitiative for Community Empowerment - Sáng kiến Khu vực Đông Nam Á vềTrao quyền cho cộng đồng) đã tổ chức “Hội nghị vùng về kết hợp bảo tồn, pháttriển và sử dụng nguồn tài nguyên cây trồng vào giảng dạy trong trường học”trong bối cảnh giới trẻ xa rời nông nghiệp, nhiều trường đại học ở Thái Lan vàPhilippines không có sinh viên học các ngành nông nghiệp, trong khi cácngành kinh tế, máy tính, y tế và khoa học xã hội lại dư thừa Để khắc phục tình
Trang 23trạng trên, Thái Lan đã có sáng kiến hướng nghiệp rất sớm cho học sinh Đưagiáo dục nông nghiệp vào chương trình hướng nghiệp cho học sinh trung học(tổ chức cho các em sưu tập các nguồn gen cây trồng, mở lớp học trên đồngruộng ) Các nhà giáo dục tin rằng, những hoạt động hướng nghiệp đích thựcnày sẽ giúp cho học sinh quý trọng nông nghiệp, yêu quý quê hương và cótrách nhiệm với quê hương, cộng đồng Họ cũng tin rằng nhiều học sinh đượchướng nghiệp sẽ chọn ngành nông nghiệp và sau khi ra trường sẽ phục vụ cho
sự phát triển của quê hương họ Một số trường đại học của Philippines đã đưacác hoạt động bảo tồn và cải thiện nguồn gen cây trồng vào chương trình đàotạo chính quy Cách làm này giống như Trường Đại học Cần Thơ (do GS VõTòng Xuân khởi xướng) đã giúp sinh viên ngành trồng trọt sưu tập các giốnglúa bản địa Hiện nay Trường Đại học Cần Thơ đã có ngân hàng gen về giốnglúa với hàng ngàn giống quý hiếm được bảo tồn Nhiều thế hệ sinh viên rất tựhào và yêu nghề hơn vì đã được tham gia vào chương trình này
Thứ ba: đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn cũng là con đườnggóp phần hình thành đội ngũ người làm nông chuyên nghiệp Có thể nói đây làgiải pháp khả thi hướng đến tri thức hóa nông dân - phát triển đội ngũ ngườilàm nông chuyên nghiệp bởi vì nông dân được cung cấp kiến thức, kỹ nănglàm nông một cách trực tiếp Song song đó cần giải quyết các tồn đọng củacông tác đào tạo nghề nông thôn, quan tâm hơn về chất lượng, chú trọng việc
hỗ trợ xúc tiến việc làm, khởi nghiệp sau đào tạo Đào tạo nghề nông nghiệphướng đến nông dân chuyên nghiệp phải thay đổi “tư duy sản xuất nôngnghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp” Đào tạo nghề nông nghiệp tại địa phương cần định hướng chiến lược, ngành nghề nông nghiệp theo hướng nôngnghiệp công nghệ cao, có thể tập trung đào tạo các ngành sản xuất nông nghiệpsạch, nông nghiệp hữu cơ, tiến tới nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuầnhoàn, nông nghiệp gắn với du lịch
Thứ tư: xuất khẩu lao động nông nghiệp cũng là kênh phát triển đội ngũ ngườilàm nông chuyên nghiệp Hiện tại xuất khẩu lao động thiếu định hướng chongành nghề nông nghiệp, đặc biệt là lao động phổ thông Xuất khẩu lao độngcần có chiến lược tốt hơn để lực lượng lao động này học tập các kinh nghiệm,tiến bộ KH&CN để trở về phát triển kinh tế đất nước
5.2 KPI VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CHO TỪNG BỘ PHẬN LIÊN QUANĐặc biệt, người lao động làm việc ở nông thôn sẽ chịu những áp lực rất lớn.CMCN 4.0 thúc đẩy việc ứng dụng khoa học công nghệ (KH&CN) vào nôngnghiệp như: nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp4.0…, làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm, đồngthời giảm sức lao động con người Điều này cũng dẫn đến áp lực thiếu lao độngchất lượng cao và thừa lao động phổ thông, lao động tay chân Trong tương lai
Trang 24gần, lao động nông thôn có thể bị mất việc làm do sự phát triển của robot vàcông nghệ tự động hóa ứng dụng trong sản xuất.
5.3 TUYỂN DỤNGLao động nông thôn sẽ dịch chuyển dần sang những ngành/lĩnh vực mới, đòihỏi phải có định hướng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực và chính sách hỗ trợ phù hợp CMCN 4.0 sẽ làm mất dần những ngành nghề truyền thống sử dụngnhiều lao động, tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, gắn với đặctrưng của cuộc cách mạng này như: công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, sốhóa, máy tính, an ninh mạng… CMCN 4.0 là cuộc cách mạng số nhưng nhânlực chất lượng cao trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, tựđộng hóa của Việt Nam đang còn quá ít
Điều này cho thấy, nhu cầu về nguồn lực lao động trong các lĩnh vực trên là rấtcao Tuy nhiên, việc có kế hoạch, chiến lược để đáp ứng nhu cầu từ dịchchuyển nguồn lao động nông thôn là một thách thức lớn, vấn đề này hiện naychưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là việc đào tạo nguồn nhân lực laođộng nông thôn chất lượng cao đáp ứng cho nền nông nghiệp tương lai
5.4 YẾU CẦU VỀ PHỐI HỢP GIỮA CÁC BỘ PHẬNĐào tạo nghề nông nghiệp tại địa phương còn thiếu định hướng chiến lược,chưa theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; lao động được đào tạo thiếu cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn, các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp cũng như các dự
án KH&CN trong nông nghiệp
Thực tế cho thấy, mức độ chuyên nghiệp và chuyên môn hóa trong từng quytrình sản xuất hiện nay đã được bà con nông dân từng bước tiếp cận Theo cácđánh giá của ngành nông nghiệp, vấn đề đặt ra là cần xây dựng hệ sinh thái đểhình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp Một trong những phương phápnâng cao tính chuyên nghiệp chính là cách chia sẻ tri thức cho nông dân, bắtđầu từ những tri thức nhỏ như cách làm giống, cách thu hoạch, tiến đến hướngdẫn việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ điện tử cho người nông dân ápdụng Phải khẳng định rằng, không có tri thức thì không thể chuyên nghiệp,không có nông dân chuyên nghiệp thì không có một nền nông nghiệp chuyênnghiệp Đây là xu thế tất yếu của tiến trình chuyển đổi nông nghiệp trong bốicảnh hội nhập và phát triển
Liên kết các nhà khoa học, nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông…
5.5 ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
Trang 25Nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao
Có thể thấy, thách thức về đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng caotrong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn
ra mạnh mẽ là rất lớn Số lượng người học các ngành nông nghiệp ngày càng ít,giới trẻ có xu hướng chọn nơi làm việc ở thành thị hơn là nông thôn Xu hướngnày sẽ dẫn đến sự thiếu hụt nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao - độingũ người làm nông chuyên nghiệp trong tương lai Bên cạnh đó, CMCN 4.0cũng sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động
Một nghiên cứu của Emi Yasuda và cộng sự (năm 2021) về “Nghề nghiệp vàquan điểm về nghề nghiệp của sinh viên đang học tại Trường Đại học CầnThơ” đã khảo sát trên 1.800 sinh viên chưa tốt nghiệp và 600 sinh viên đã tốtnghiệp Kết quả cho thấy, số sinh viên mong muốn làm việc ở thành thị chiếm79,9%, số mong muốn về nông thôn chiếm 9,7%, chấp nhận đi nước ngoài là8,3% và chỉ có số ít sẵn sàng nhận công việc ở bất cứ đâu (2,1%)
Chọn nơi làm việc ở đâu cũng liên quan tới ngành nghề đang học và được địnhhướng từ đầu ngay khi chọn ngành, cụ thể sinh viên khối ngành kỹ thuật/nôngnghiệp có xu hướng làm việc ở thành thị (76,9%) thấp hơn sinh viên khốingành kinh tế, và làm việc ở nước ngoài (13,5%) cao hơn so với 2 khối ngànhcòn lại Điều này cho thấy hầu hết giới trẻ ngày nay, ngay cả được đào tạo vềlĩnh vực nông nghiệp đều có xu hướng làm việc ở thành phố, kể cả tìm kiếm cơ hội việc làm ở nước ngoài Điều này cũng cảnh báo cho sự thiếu hụt nguồn lựclao động nông nghiệp chất lượng cao ở vùng nông thôn
Xu hướng sinh viên nông nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường tự tạo việc làm,
tự khởi nghiệp với ngành nghề đã học để trở thành người làm nông chuyênnghiệp là rất hiếm hoi Khảo sát của Khoa Phát triển Nông thôn (Trường Đạihọc Cần Thơ) với 233 sinh viên sau khi ra trường 1 năm cho thấy, chỉ có 3%sinh viên tự tạo việc làm hay tự khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Kếtquả này cho thấy xu thế sinh viên được đào tạo bài bản, đội ngũ người làmnông chuyên nghiệp tiềm năng, tự tạo việc làm là rất thấp
Một trong những chính sách quan trọng của Chính phủ có ảnh hưởng và tácđộng sâu sắc đến lao động việc làm nông thôn là Quyết định số 1956/QĐ-TTgngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghềcho lao động nông thôn đến năm 2030” Quyết định này đã góp phần tích cựcnâng cao chất lượng lao động, tạo việc làm nông thôn, tăng thu nhập, giảmnghèo; tạo ra bước đột phá quan trọng làm thay đổi diện mạo nông thôn, đónggóp vào thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định trong công tác đào tạo nghề nhưng
để trở thành người làm nông chuyên nghiệp là một thách thức lớn Đào tạonghề tại các địa phương, đặc biệt là nghề nông nghiệp còn quan tâm số lượng
Trang 26hơn là chất lượng và bất cập trong hỗ trợ xúc tiến việc làm, khởi nghiệp Đàotạo nghề nông nghiệp hiện tại vẫn còn dựa trên nền tảng của nghề truyền thống, phương pháp truyền thống, chưa thật sự thay đổi “tư duy sản xuất nôngnghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”.
Đây là nhận định của các chuyên gia tại “Hội thảo Quản lý rủi ro trong nôngnghiệp và vấn đề vốn hóa đối với các hợp tác xã” do Dự án Phát triển Hợp tác
xã Việt Nam (VCED) phối hợp với Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Tp Hồ Chí Minh tổ chức ngày 19/2
TS Võ Thị Kim Sa, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Tp Hồ Chí Minh cho biết, sản xuất nông nghiệp tiềm ẩnrất nhiều rủi ro từ thời tiết, dịch bệnh đến bất ổn thị trường, giá cả
Trong những năm gần đây Việt Nam đã có những bước tiến tích cực trong việc phát triển các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp bao gồm cả bảo hiểmnông nghiệp và thúc đẩy tín dụng cho phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nhưng trên thực tế, chưa có nhiều nông dân và hợp tác xã biết và tham gia vàocác chương trình bảo hiểm để quản trị và giảm thiểu các rủi ro
Là người trực tiếp tham gia sản xuất, ông Nguyễn Văn Thạch, Thành viên Hộiđồng quản trị Hợp tác xã Bưởi da xanh tỉnh Bến Tre chia sẻ, sản xuất nôngnghiệp ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiêntai và bất ổn thị trường
Trang 27Hơn nữa, đa phần nông dân đều chỉ tập trung vào sản xuất, không có chuyênmôn về xây dựng thương hiệu và thương mại sản phẩm nên vẫn ở thế yếu, phụthuộc vào các thương lái Những thiệt hại đó người nông dân phải gánh chịunhư một phần quy luật tự nhiên chứ chưa có bất cứ giải pháp nào để kiểm soát.Theo ông Nguyễn Văn Thạch, nếu có chương trình bảo hiểm nông nghiệp chấpnhận chia sẻ rủi ro với người sản xuất trong việc đối mặt với các tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh thì hầu hết nông dân đều sẵn sàng tham gia.
Kết quả khảo sát của VCED tại một số địa phương cho thấy rủi ro thường trựcđối với hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam là do khí hậu và thiên tai;trong đó, các cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn ngày càngnhiều còn vật nuôi chịu thiệt hại lớn do dịch bệnh
Ngoài ra, biến động giá cả thị trường ở nhiều ngành hàng xảy ra thường xuyên
và khó dự báo cũng gây bất lợi cho người nông dân
Ông Jean Yves Drolet, cố vấn quản lý rủi ro trong nông nghiệp của Socodevi(Tổ chức phi lợi nhuận của Canada nhằm phát triển quan hệ quốc tế được thànhlập tại Việt Nam từ năm 2002) bày tỏ, tại Việt Nam, những thiệt hại do thiêntai, dịch bệnh chủ yếu được Chính phủ hỗ trợ theo sự vụ, trong khi người sảnxuất nông nghiệp và các bên liên quan chưa chủ động tham gia các biện phápquản trị rủi ro như tham gia bảo hiểm cho sản xuất
Cho đến nay, chỉ mới có hoạt động nuôi trồng thủy sản ở một số địa phươngđược tham gia thử nghiệm chương trình bảo hiểm nông nghiệp
Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam sớm triển khai các chương trình, sản phẩm bảo hiểm trong nông nghiệp nhằm chia sẻ rủi ro cho người sản xuất BàMelanie Dumont, Chuyên gia Bộ Kinh tế và Sáng tạo Quebec, Canada nhấnmạnh, tham gia bảo hiểm là giải pháp kiểm soát rủi ro, giảm thiểu thiệt hại hiệuquả ở nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kể cả nông nghiệp
Cụ thể, xây dựng chiến lược kết nối và chia sẻ rủi ro giữa tổ chức tài chính vớinông dân trên cơ sở thực hành quản lý tốt, phát triển tín dụng nông nghiệp, quỹ bảo lãnh cho vay, bảo hiểm mùa màng và xây dựng năng lực quản trị rủi ro chongười sản xuất
Khi đó, người nông dân được đảm bảo thu nhập và lợi nhuận ổn định ngay cảkhi xảy ra rủi ro về thiên tai hay biến động thị trường
Tuy nhiên, để triển khai được các chương trình bảo hiểm nông nghiệp trên diệnrộng cần sự tham gia tích cưc từ cơ quan quản lý nhà nước cũng như các hiệphội sản xuất ngành hàng; trong đó, cơ quan quản lý nhà nước là nơi nắm giữ
Trang 28nguồn dữ liệu nông nghiệp liên quan đến việc thiết kế các chương trình bảohiểm cho cây trồng, vật nuôi và cũng là đơn vị điều phối các nguồn quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp.
lệ sản xuất truyền thống Thành viên HTX sản xuất thiếu kiến thức và dè dặttrong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm giá Bên cạnh công cụ tài chính, cũng
có những công cụ khác để phòng tránh rủi ro nhưng khá hạn chế Rủi ro từcách sử dụng vốn của mình
Cụ thể:
- Rủi ro xảy ra khi HTX nông nghiệp bị mất an toàn về tài chính
An toàn tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán, nguyênnhân chủ yếu dẫn tới việc mất an toàn tài chính là do sử dụng vốn vay
HTX nông nghiệp vay vốn chủ yếu từ các thành viên và các chương trình hỗtrợ vốn của chính phủ, rất ít HTX nông nghiệp vay được vốn của các ngânhàng
Trong số những HTX nông nghiệp vay vốn vẫn phải trả lãi vay, nên họ rơi vàotình trạng gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản vay (rủi ro thanhtoán) Hoạt động kinh doanh không hiệu quả, nợ năm này qua năm khác, sốtiền vay nợ của HTX ngày càng tăng dẫn tới HTX mất khả năng thanh toán vàchỉ còn cách giải thể
- Rủi ro khi HTX nông nghiệp không thu hồi được các khoản nợ Hiện nay, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2016 trên 60% các HTX trong cảnước chưa thực hiện việc chuyển đổi theo Luật HTX 2012, trong đó hầu hết làcác HTX nông nghiệp có những khoản nợ đã trên 20 năm
Đối tượng nợ chủ yếu là các thành viên HTX, họ vay vốn của HTX để sản xuấtkinh doanh hoặc nợ tiền thủy lợi phí, các khoản tiền dịch vụ mà HTX cung cấpcho thành viên
Nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ khó thu hồi là do thiên tai, mất mùa,dịch bệnh những yếu tố khách quan gây ra là các khoản nợ hàng hóa, dịch vụ
từ thời bao cấp, những khoản nợ đã kéo dài hàng chục năm, tiền lãi đã vượt cả
số gốc ban đầu mà hộ thành viên đi vay, thậm chí chủ hộ vay vốn của HTX
Trang 29cũng đã mất nên việc thu hồi nợ là vô cùng khó khăn.
- Rủi ro xảy ra khi có sự biến động về giá cảRủi ro xảy ra khi có sự biến động của giá cả hàng hóa đầu vào và đầu ra làmgiảm sút lợi nhuận của HTX nông nghiệp
Giá nguyên vật liệu đầu vào của sản xuất nông nghiệp, giá vật tư nông nghiệp, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi biến động liên tục Khi giá đầu ra vànăng suất không đổi, HTX nông nghiệp nhập vật tư, hàng hóa đầu vào với giácao dẫn tới lợi nhuận của HTX bị giảm sút, thậm chí HTX còn phải gánh chịu phần chênh lệch do giá đầu vào tăng cao Hay trường hợp chi phí đầu vào củaHTX nông nghiệp cao, nhưng khi tiêu thụ sản phẩm giá lại giảm dẫn tới lợinhuận giảm, thậm chí lỗ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của HTX.Qua tìm hiểu thực tế, 100% HTX đều gặp phải rủi ro khi có biến động giá xảy
ra Cụ thể những HTX sản xuất nông nghiệp, HTX trồng cây ăn quả, HTXchăn nuôi, HTX thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề của biến động về giá.1.2 Rủi ro sản xuất
Thứ nhất, Các HTX đa phần sản xuất mà chưa xác định được nhu cầu thịtrường về số lượng và chất lượng sản phẩm Hầu hết, thành viên HTX đều sảnxuất tự phát, theo phong trào, chưa quy hoạch vùng sản xuất Sản lượng lớncùng chủng loại làm tăng tính cạnh tranh trực tiếp giữa những người nông dân;chất lượng không đồng đều khiến cho người mua không có thiện cảm tốt vớisản phẩm
Thứ hai, rủi ro xuất phát từ sự biến động của năng suất cây trồng, vật nuôi,những nguyên nhân dẫn tới biến động năng suất cây trồng và vật nuôi đó là dothiên tai, dịch bệnh, giống không đảm bảo chất lượng, áp dụng công nghệ,giống mới vào sản xuất
Qua tìm hiểu thực tế, t lệ HTX nông nghiệp gặp rủi ro khi áp dụng giống mớivào sản xuất không nhiều Số ít, HTX rủi ro do phân bón giả, giống kém chấtlượng gây ra Khi gặp phải rủi ro này hầu như các HTX mất trắng diện tíchcanh tác hay đàn vật nuôi, những HTX nông nghiệp làm dịch vụ thì bị mất uytín với thành viên, làm giảm số lượng hàng hóa ở vụ sau
1.3 Rủi ro bắt nguồn từ cơ sở vật chất, công nghệ của HTX nông nghiệpMột thực trạng đặt ra là cơ sở vật chất của HTX nông nghiệp nhìn chung cònnghèo nàn, lạc hậu Đa phần các HTX chưa có trụ sở riêng, một số mượn tạmnhà kho của ủy ban là trụ sở làm việc, máy móc thiết bị của HTX thô xơ, lạchậu, chưa được đầu tư mới do không có vốn,
Trang 30Vì vậy, kỹ thuật bảo quản sau chế biến rất thô sơ Các mặt hàng nông sản (loạiquả tươi) không giữ được chất lượng sau quãng đường dài di chuyển từ nơi sảnxuất đến bàn ăn do khâu bảo quản đông lạnh để vận chuyển sản phẩm chưađược đầu tư Ví dụ, mặt hàng dưa hấu xuất khẩu của Việt Nam được bảo quảnrất thô sơ, chỉ phủ rơm khi vận chuyển, dẫn đến không giữ được lâu và dễ bị épgiá.
Đồng thời, năng lực và chất lượng sản phẩm nông sản chế biến thấp, sản phẩmthô vẫn chiếm t trọng lớn Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình sản xuất kinhdoanh nhỏ lẻ, các cơ sở chế biến đang ở quy mô nhỏ và vừa, với nguồn lực hạnchế và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật thấp
1.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động HTX
So với các loại hình doanh nghiệp khác, nhìn chung trình độ học vấn của người blao động làm việc trong các HTX nông nghiệp rất thấp T lệ cán bộ quản lýHTx có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; t lệ cán bộ quản lý
có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; tỉ lệ cán bộ quản lý đạttrình độ cao đẳng, đại học bình quân đạt 8,455
Độ tuổi trung bình của cán bộ HTX nông nghiệp là trên 50 tuổi HTX nôngnghiệp không thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ có kiến thức về làm việc Đa phần cán bộ lãnh đạo của HTX sau một thời gian làm việc thể hiện được nănglực của mình lại được cơ cấu vào các vị trí trong chính quyền địa phương, haymột số cán bộ lãnh đạo mặc dù rất tâm huyết với sự nghiệp phát triển HTXnhưng do thu nhập từ HTX quá thấp không đáp ứng được mức sống tối thiểunên đành phải rời bỏ HTX đến với các xí nghiệp, công ty có mức lương caohơn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các HTX nông nghiệp còn gặp phải rủi ro về tai nạn lao động gây thiệt hại nặng nề về người và của Những tainạn mà người lao động của HTX nông nghiệp thường gặp phải như: tai nạn khidùng máy xay xát, máy tuốt lúa, máy cày, điện giật, ngộ độc hóa chất thuốc bảo vệ thực vật,
Hầu hết người vận hành máy móc nông nghiệp không được đào tạo về điềukhiển máy móc và không có trang bị bảo hộ cá nhân, người sử dụng máykhông có giấy phép hành nghề; máy móc không có trang bị bảo hiểm
Tai nạn do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sứckhỏe của người lao động Có khoảng 10 – 15% người lao động hiểu đúng, tùytheo từng vùng hướng dẫn sử dụng in trên vỏ thuốc bảo vệ thực vật, số còn lạihiểu sai hoặc không hiểu cách sử dụng và đa phần sử dụng một cách tùy tiện(dùng nhiều lần trong một vụ hoặc không đảm bảo cách ly theo quy định chotừng loại thuốc BVTV) dẫn tới lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm vượt hơn
Trang 31mức độ cho phép Như vậy, không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người laođộng mà nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe củangười tiêu dùng.
Một rủi ro xuất phát từ phía nguồn nhân lực của HTX nông nghiệp là do ngườilao động không tuân thủ đúng quy trình sản xuất, không tuân thủ theo lịch thờivụ
Nguyên nhân chủ yếu là do HTX và thành viên vẫn hoạt động sản xuất kinhdoanh theo phong tục, tập quán, kinh nghiệm, không quan tâm nhiều tới những
dự báo, dự đoán của cán bộ kỹ thuật nông nghiệp dẫn tới HTX và thành viên phải chịu hậu quả nặng nề về kinh tế
2 Rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài của HTX nông nghiệp2.1 Rủi ro từ phía đối tác kinh doanh
Rủi ro từ phía đối tác của HTX nông nghiệp xảy ra khi có sự phá vỡ cam kếtmua – bán hàng hóa, vật tư phục vụ sản xuất kinh doanh Cam kết đó có thểdưới hình thức là hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng "bằng miệng"
Hầu hết các HTX nông nghiệp chủ yếu làm dịch vụ đầu vào cho thành viênnhư phân bón; thuốc BVTV; giống, nhưng chưa đạt ở mức cao
Tuy nhiên, t lệ sử dụng dịch vụ đầu vào được thực hiện thông qua hợp đồnggiữa HTX và hộ thành viên còn thấp, hầu hết là hợp đồng "bằng miệng" Vìvậy, t lệ hộ phá hợp đồng khá cao (76,1% ) Đây là một thực trạng phổ biến ở nước ta hiện nay, thành viên ký hợp đồng với HTX vào thời điểm trước vụ sảnxuất, khi vào chính vụ giá nông sản tăng cao, tư thương hoặc các doanh nghiệpmua với giá cao hơn HTX nông nghiệp hoặc kèm theo các điều kiện hấp dẫntrước mắt khác nên thành viên đã cố tình phá vỡ hợp đồng để hưởng phần giáchênh lệch và lẩn tránh việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước của HTXtheo hợp đồng Do vậy, việc ứng trước nguyên vật liệu đầu vào sản xuất chothành viên, khách hàng của HTX nông nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro, khi rủi roxảy ra việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại mất nhiều thời gian và công sức.Hơn nữa HTX không có đủ nguồn hàng cung ứng cho đối tác kinh doanh làmmất uy tín và gây thiệt hại nặng nề cho HTX
Đối với khách hàng là các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cho HTX Một sốHTX nông nghiệp có hợp đồng tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp, mặt hàngnông sản tiêu thụ qua hợp đồng chủ yếu là lúa gạo, cà phê, chè, bông, hồ tiêu,thanh long Tuy nhiên, trong số HTX có hợp đồng tiêu thụ nông sản có HTXnông nghiệp gặp phải tình trạng doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồngnhư cam kết Gây thiệt hại nặng nề cho HTX nông nghiệp