Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một trong những nguyên nhân gây tàn tật và tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, dẫn đến gia tăng gánh nặng về kinh tế xã hội1. Các nghiên cứu (NC) dịch tễ học ước tính số ca mắc COPD trên thế giới ước tính khoảng 251 triệu (2016) và số ca tử vong là 3,15 triệu canăm. Tại Mỹ, COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 với chi phí điều trị lên tới trên 50 tỷ đô lanăm2. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ở người > 40 tuổi là 4,2% (2009)1. Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá tại các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở những nước phát triển, tỷ lệ mắc COPD được dự đoán sẽ còn tăng cao và ước tính đến năm 2030 có 5,8 triệu trường hợp tử vong hàng năm do COPD3. Đợt cấp COPD được xem như một biến cố nghiêm trọng trong diễn tiến tự nhiên của bệnh. Nó được đặc trưng bởi diễn biến xấu đi của triệu chứng COPD, dẫn đến việc điều trị cho bệnh nhân (BN) cần thay đổi so với thường ngày, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến triển lâm sàng và chất lượng cuộc sống của BN COPD. Chi phí điều trị bệnh COPD, đặc biệt là đợt cấp vẫn đang là vấn đề lớn, trong đó kháng sinh chiếm phần lớn chi phí trong đợt điều trị. Xét nghiệm PCT có vai trò chính trong quyết định chỉ định sử dụng kháng sinh, tuy nhiên PCT chỉ thực hiện được ở những bệnh viện, trung tâm y tế các có trang bị máy phân tích miễn dịch hoàn toàn tự động của Roche phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang. Vì vậy, ở những cơ sở y tế không triển khai được hoặc bệnh nhân không đủ điều kiện để xét nghiệm PCT, để đánh giá tình trạng nhiễm trùng, bác sĩ thường sử dụng các yếu tố như: Sốt, chỉ số bạch cầu, Xquang phổi.
TỔNG QUAN
Tổng quan về đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.1.1 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng ngừa và điều trị hiệu quả Các triệu chứng chính của COPD gồm các vấn đề hô hấp kéo dài và giới hạn luồng khí, do các bất thường của đường thở và phế nang Nguyên nhân chủ yếu của COPD là do tiếp xúc với các phân tử hoặc khí độc hại, nổi bật nhất là khói thuốc lá và thuốc lào, cùng với ô nhiễm không khí và khói chất đốt Các bệnh đồng mắc và các đợt cấp tính làm tăng nặng của bệnh, khiến điều trị và quản lý bệnh gặp nhiều thách thức.
1.1.1.2 Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Hiện nay có nhiều định nghĩa về đợt cấp COPD Các định nghĩa đang được sử dụng bao gồm:
Theo Anthonisen và cộng sự (1987) xác định đợt cấp COPD nổi bật với ba triệu chứng chính bao gồm: khó thở tăng, số lượng đờm tăng và đờm nhầy mủ Đây là những dấu hiệu quan trọng để nhận biết và chẩn đoán đợt cấp của bệnh lý hen suyễn mãn tính này Việc hiểu rõ các triệu chứng này giúp nâng cao hiệu quả điều trị, giảm thiểu các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân COPD.
- Theo Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ và Hội Hô hấp châu Âu (American
An acute exacerbation of COPD is characterized by a sudden worsening of core symptoms such as cough, shortness of breath, and sputum production beyond normal daily variations, necessitating an adjustment in the patient's ongoing treatment According to the Thoracic Society/European Respiratory Society (ATS/ERS, 2004), these exacerbations significantly impact disease management and patient quality of life Recognizing and promptly addressing COPD exacerbations are crucial for preventing further deterioration and optimizing long-term outcomes.
- Theo định nghĩa của Chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease - GOLD) (2018):
“Đợt cấp COPD là tình trạng cấp tính làm nặng thêm tình trạng hô hấp của
BN và đòi hỏi phải thay đổi thuốc điều trị thường ngày trên BN COPD” 6
Nhìn chung các định nghĩa về đợt cấp COPD trên đều có hai điểm chính: + Diễn biến xấu đi so với bình thường của triệu chứng COPD
+ Cần có sự thay đổi so với điều trị hàng ngày của BN
Theo một nghiên cứu tại Mỹ, đợt cấp COPD là nguyên nhân gây ra khoảng 1,5 triệu ca cấp cứu, 762.000 trường hợp nhập viện và 119.000 ca tử vong hàng năm Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân COPD điều trị nội trú tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai chiếm 25,1%, trung bình mỗi bệnh nhân COPD gặp từ 0,5-3,5 đợt cấp mỗi năm Nghiên cứu của Seemungal và cộng sự theo dõi trên 101 bệnh nhân COPD cho thấy mức độ đợt cấp có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và tiên lượng của bệnh nhân.
BN trong 2,5 năm cho thấy có 91 BN gặp ít nhất một đợt cấp và trung bình là
Các nghiên cứu cho thấy trung bình mỗi bệnh nhân gặp từ 2,4 đợt cấp mỗi năm, với khoảng 1,32 đến 3,84 đợt Tuy nhiên, một lượng lớn các đợt cấp (lên tới 2/3 tổng số đợt) không được báo cáo hoặc thống kê do người bệnh chủ quan hoặc tự chữa khỏi tại nhà Tần suất các đợt cấp tăng lên theo tuổi và mức độ tắc nghẽn đường thở của bệnh nhân Một nghiên cứu theo dõi 132 bệnh nhân trong 3 năm do Donaldson và cộng sự thực hiện đã chỉ ra rằng.
BN COPD mức độ nặng (FEV1 10,0 Đáp ứng viêm hệ thống sâu do NK huyết nghiêm trọng hoặc sốc NK
Bạch cầu là thành phần không thể thiếu trong máu, có chức năng phát hiện và tiêu diệt các yếu tố lạ gây bệnh trong toàn bộ cơ thể Các loại bạch cầu được phân chia dựa trên chức năng và nhiệm vụ, trong đó bạch cầu đa nhân trung tính đóng vai trò quan trọng trong các bệnh lý nhiễm khuẩn Xét nghiệm bạch cầu thường được thực hiện kết hợp trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu, nhằm xác định số lượng, trạng thái và các bất thường của bạch cầu để chẩn đoán chính xác các vấn đề về sức khỏe.
Bạch cầu đa nhân trung tính có chỉ số bình thường từ 4-10 G/L Mức tăng của bạch cầu này thường phản ánh tình trạng nhiễm trùng, phản ứng tăng sinh tủy xương, hoặc các bệnh lý tăng sinh tủy ác tính mãn tính Ngoài ra, bạch cầu trung tính có thể tăng khi người bệnh sử dụng corticoid hoặc gặp phải stress Ngược lại, mức giảm của loại bạch cầu này thường gặp trong các trường hợp nhiễm virus, sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, suy tủy hoặc do tác dụng của hóa chất.
X-quang phổi được thực hiện trong phòng chụp chuyên biệt, sử dụng thiết bị tia X gắn vào cần kim loại lớn để chụp hình Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn cởi bỏ trang sức, phụ kiện kim loại và mặc áo mỏng trước khi đứng trước tấm phim X-quang hoặc đầu thu đặc biệt để ghi lại cấu trúc lồng ngực Quy trình này giúp chẩn đoán chính xác các vấn đề về phổi và hệ hô hấp.
Các hình ảnh của phổi, đường thở, mạch máu, hạch bạch huyết, tim và xương sườn thể hiện rõ trên phim chụp X-quang, giúp chuẩn đoán chính xác các tình trạng liên quan đến phổi Trong giai đoạn sớm của COPD hoặc khi không có khí phế thũng, hình ảnh X-quang phổi thường vẫn bình thường, không có dấu hiệu bất thường Tuy nhiên, ở giai đoạn muộn, X-quang phổi thường cho thấy các biểu hiện như hội chứng phế quản hoặc khí phế thũng, giúp nhận diện rõ hơn các tổn thương liên quan đến bệnh.
X-quang phổi giúp phát hiện nhiều bệnh lý phổi đồng mắc hoặc biến chứng của COPD, bao gồm u phổi, giãn phế quản, lao phổi, xơ phổi, tràn khí màng phổi, suy tim, cũng như các bất thường về khung xương lồng ngực và cột sống Các hình ảnh trên X-quang có thể cho thấy cơ hoành hạ thấp, nhìn thấy cơ hoành hình bậc thang, khoang liên sườn giãn rộng cùng với các bóng khí hoặc kén khí, đặc biệt nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính trên 16mm Ngoài ra, hình ảnh còn thể hiện các đặc điểm như quá sáng của hai bên phổi, cơ hoành quá sáng, cùng các dấu hiệu khác giúp chẩn đoán chính xác các bệnh phổi liên quan.
Sốt là tình trạng tăng thân nhiệt vượt quá mức bình thường do rối loạn trung tâm điều nhiệt dưới tác động của các yếu tố gây hại, thường do nhiễm khuẩn hoặc các yếu tố không nhiễm trùng như bệnh hệ thống và ung thư Đây là phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân gây nhiễm trùng như vi khuẩn và virus, hoặc do các bệnh lý nội khoa phức tạp Bản chất của sốt phản ánh sự mất cân bằng giữa quá trình sinh nhiệt và quá trình thải nhiệt của cơ thể.
- Nhẹ: Trên 37,4 độ C đến < 38 độ C
- Cao: Trên 39 độ C đến 41độ C
Nguyên nhân gây sốt: Sốt do nhiễm khuẩn, Sốt không do nhiễm khuẩn và Rối loạn điều hòa thân nhiệt
Hầu hết các bệnh do virus gây ra đều bắt đầu một cách đột ngột với triệu chứng chính là sốt cao liên tục, kéo dài từ 2 đến 7 ngày, thậm chí có trường hợp sốt kéo dài đến 10 ngày Tuy nhiên, cũng có một số loại virus như virus Epstein-Barr gây nhiễm kéo dài nhiều ngày, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe người bệnh.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Sốt không do nhiễm khuẩn:
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
+ Các bệnh hệ mô liên kết: Lupus ban đỏ hệ thống, Viêm khớp dạng tháp, Viêm động mạch, Viêm tắt tĩnh mạch, Viêm nút quanh động mạch,…
Đối tượng nghiên cứu
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Bệnh nhân COPD đợt cấp
- Bệnh nhân thực hiện đủ cận lâm sàng: Tổng phân tích tế bào máu, PCT, Xquang phổi
- Không bao gồm nhiễm trùng bệnh viện và BN không muốn tham gia NC
Các bệnh nhân có các bệnh lý tim mạch đã được chẩn đoán rõ ràng trước khi khởi phát COPD, bao gồm suy tim, bệnh cơ tim giãn nở, viêm cơ tim, cùng các vấn đề khác như gù vẹo cột sống, tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi, suy thận, suy gan và ung thư giai đoạn cuối.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh
- Thời gian: Từ tháng 1/2021 đến tháng 9/2022.
Thiết kế nghiên cứu
Các bước tiến hành nghiên cứu:
+ Sàng lọc nhóm BN đủ tiêu chuẩn tham gia NC
Chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn, bao gồm khảo sát các thông tin hành chính, lý do nhập viện, bệnh sử, tiền sử bản thân và gia đình Quá trình này còn bao gồm khám các triệu chứng lâm sàng và đánh giá kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng để đảm bảo chẩn đoán chính xác và toàn diện.
+ Xử lý số liệu và phân tích kết quả và viết báo cáo.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện Sử dụng cỡ mẫu toàn bộ, chọn tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn và không thuộc vào tiêu chuẩn loại trừ.
Các biến số nghiên cứu
Tính theo năm sinh dương lịch, chia làm 2 nhóm: 30 lần/phút; co kéo cơ hô hấp; không rối loạn ý thức; tình trạng giảm oxy máu cải thiện khi thở oxy với FiO2: 35 - 40%; PaCO2: 50 - 60mmHg
2.7.3 Suy hô hấp cấp - Có dấu hiệu đe doạ tính mạng
Nhịp thở trên 30 lần/phút, co kéo các cơ hô hấp phụ và rối loạn ý thức cấp tính là những dấu hiệu cảnh báo suy hô hấp nặng Tình trạng giảm oxy máu có thể cải thiện khi bệnh nhân thở oxy với FiO2 trên 40% Ngoài ra, các dấu hiệu như PaCO2 > 60mmHg hoặc có toan hoá máu với pH dưới 7,25 cũng chỉ ra mức độ nặng của rối loạn trao đổi khí cần được can thiệp y tế kịp thời.
Từ lúc vào viện đến lúc ra viện.
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được đã được mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS 23 để xử lý Tỷ lệ hoặc số lượng của nhóm độc lập được trình bày bằng phần trăm (%) hoặc số n, nhằm thể hiện các đặc điểm của từng nhóm một cách rõ ràng Sự khác biệt giữa hai nhóm được kiểm định bằng kiểm định χ2 hoặc kiểm định χ2 hiệu chỉnh để đảm bảo tính chính xác của kết quả Đối với các biến không chuẩn, dữ liệu được xử lý bằng các hàm phi tham số để phù hợp với đặc điểm phân phối của số liệu.
Sai số và cách khắc phục
Sai số trong quá trình thu thập thông tin BN, hỏi tiền sử, bệnh sử, tư vấn làm PCT không thành công.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng Độ tuổi Số lượng(nX) Tỷ lệ %
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhóm tuổi
Nhận xét: Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 65 tuổi chiếm tỉ lệ 87,9% Tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 71,88 ± 8,44 tuổi
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về giới
Nhận xét: Nam chiếm 89,3%, nữ chiếm 10,7%
3.1.3.1 Tiền sử hút thuốc lá
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tiền sử hút thuốc lá
Nhận xét: Tỷ lệ tiền sử hút thuốc lá trong COPD chiếm tỷ lệ 87,9%
3.1.3.2 Số lần nhập viện trong năm
Bảng 3.2 Số lần nhập viện trong năm Đặc điểm Nam Nữ Tổng % p
Số lần nhập viện vì đợt cấp COPD nhiều nhất/năm (Mean ± SD)
Nhận xét: Tỷ lệ nhập viện 2-3 lần/ năm chiếm tỷ lệ cao 75,8% Số lần nhập viện của nam và nữ không có sự khác biệt với p>0,05
Bảng 3.3 Các triệu chứng cơ năng
Nhận xét: Khó thở là triệu chứng gặp ở hầu hết BN 96,6% Ho chiếm 93,1% và khạc đờm chiếm 89,7%
Bảng 3.4 Đặc điểm triệu chứng ho, khạc đờm Đặc điểm Số lượng (nX) %
Ho có đờm Đờm vàng 12 20,7 Đờm đục 22 37,9 Đờm trắng 10 17,2 Đờm xanh 12 20,7
Nhận xét: Trong số 54 BN có ho thì ho có đờm chiếm 96,6%, trong đó khạc đờm đục chiếm tỷ lệ nhiều nhất (37,9%), ho khan ít gặp nhất với 3,4%
3.1.5 Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3.5 Số lượng và phân nhóm bạch cầu
Số lượng bạch cầu Lúc vào viện Tỷ lệ % Lúc vào viện Tỷ lệ %
Nhận xét: Khi vào viện, tỷ lệ có bạch cầu thì tăng trên 10 G/L chiếm
(55,2%), số lượng bạch cầu trung bình trên 10 G/L Lúc ra viện tỷ lệ bạch cầu từ 4-10 G/L chiếm tỷ lệ ưu thế 93,2%
Bảng 3.6 Số lượng bạch cầu trung tính
Bạch cầu trung tính (NEU) n Tỷ lệ %
Nhận xét: Tỷ lệ số lượng bạch cầu trung tính ≥80% chiếm tỉ lệ 43,1%
Nồng độ Lúc vào viện Lúc ra viện n Tỷ lệ n Tỷ lệ
Nồng độ PCT máu trung bình của bệnh nhân khi nhập viện là 0,621±1,421 ng/ml, cho thấy sự biến động đáng kể trong mức độ PCT Phân tích tỷ lệ, có đến 70,7% bệnh nhân có mức PCT dưới 0,25 ng/ml khi nhập viện, đây là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất Trong khi đó, chỉ khoảng 20,7% bệnh nhân có nồng độ PCT trên 0,5 ng/ml, phản ánh phổ biến mức độ PCT phù hợp với tình trạng bệnh Đặc biệt, khi ra viện, tất cả bệnh nhân đều có nồng độ PCT dưới 0,25 ng/ml, cho thấy điều trị đã giúp kiểm soát tốt tình trạng viêm nhiễm.
Bảng 3.8 Đặc điểm Xquang phổi
X ngực Viêm phổi Tỷ lệ %
Nhận xét: 51,6% bệnh nhân có viêm phổi.
BÀN LUẬN
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có tuổi trung bình là 71,22 ± 8,44, tuổi lớn nhất là 92 tuổi, nhỏ nhất là 53 tuổi Kết quả này tương tự với kết quả
Các nghiên cứu đều ghi nhận tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu, trong đó Trần Việt Hùng (2020) báo cáo là 71,67±9,5 tuổi dành cho nhóm đợt cấp COPD, trong khi đó Huỳnh Trung Nghĩa (2020) có tuổi trung bình thấp hơn là 68,85±9,85 tuổi Trần Thúy Hường (2019) báo cáo tuổi trung bình của nhóm là 63±7, còn Nguyễn Mạnh Thắng (2017) ghi nhận là 67,8±9,1 tuổi Các dữ liệu này thể hiện sự dao động về độ tuổi trung bình trong các nghiên cứu về bệnh nhân COPD, phản ánh đa dạng về nhóm mẫu nghiên cứu.
Nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 87,9%, trong khi nhóm dưới 65 tuổi ít gặp hơn, chỉ chiếm 12,1% Theo tác giả Trần Viết Hùng, độ tuổi thường gặp nhất nằm trong khoảng 60-79 tuổi, chiếm đến 75%, còn nhóm ít gặp nhất là 50-59 tuổi, chỉ với 5%.
Bệnh COPD là bệnh mãn tính phổ biến liên quan nhiều đến yếu tố thuốc lá và ô nhiễm môi trường Hút thuốc lá là yếu tố chính, với mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào thời gian hút và lượng thuốc lá tiêu thụ hàng năm Do đó, nhóm tuổi từ 65 trở lên thường gặp bệnh COPD hơn, phù hợp với các kết quả nghiên cứu của chúng tôi.
Nam chiếm 89,3% trong tổng số bệnh nhân COPD, tỷ lệ nam/nữ gần 9/1, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về giới trong nhóm bệnh này Hút thuốc lá đặc biệt liên quan chặt chẽ đến bệnh COPD, trong đó nam giới hút thuốc lá phổ biến hơn nhiều so với nữ giới Nữ giới ít khi hút thuốc lá, nên tỉ lệ mắc bệnh COPD ở nữ thấp hơn đáng kể Các yếu tố này cho thấy ảnh hưởng lớn của thuốc lá đến nguy cơ mắc COPD, đặc biệt là ở nam giới.
Theo Huỳnh Trung Nghĩa (2018) có nam/nữ tỷ lệ 7/3, tỷ lệ này thấp hơn NC của chúng tôi 19
4.1.2 Đặc điểm về tiền sử
4.1.2.1 Tiền sử hút thuốc lá
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có 5,4 triệu người trên toàn thế giới tử vong do hút thuốc chủ động và khoảng 600.000 người chết do hút thuốc thụ động Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh COPD, với 20-25% người hút thuốc phát triển triệu chứng trong tương lai, người hút thuốc cao gấp 10 lần so với người không hút Việt Nam có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao nhất thế giới, hơn 50% trưởng thành, trong khi tỷ lệ nữ hút thuốc chỉ 1,4% Điều tra tại Việt Nam cho thấy 23,8% người trưởng thành (tương đương 15,3 triệu người) đang hút thuốc, với tỷ lệ này chiếm 48,6% trong nam và 51,4% trong nữ, đồng thời đứng trong nhóm 13 quốc gia có tỷ lệ hút thuốc cao nhất thế giới.
Theo kết quả NC của chúng tôi tỷ lệ hút thuốc chiếm 87,9% NC của các tác giả khác cũng cho thấy tỷ lệ hút thuốc cao, Nguyễn Mạnh Thắng
Năm 2017, nghiên cứu của Trần Việt Hùng ghi nhận rằng 96,7% bệnh nhân có tiền sử hút thuốc, cho thấy phần lớn người mắc COPD đều có thói quen hút thuốc Hút thuốc là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh COPD, do đó, sau điều trị đợt cấp, việc tư vấn cai thuốc lá và thuốc lào là những biện pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả trong công tác phòng ngừa Các hoạt động này cần được chú trọng và thúc đẩy để giảm tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện sức khỏe người bệnh.
4.1.2.2 Tiền sử số lần nhập viện
Tỷ lệ nhập viện do COPD 2-3 lần mỗi năm chiếm tới 75,8%, chủ yếu do các đợt cấp của bệnh Các đợt cấp này thường liên quan đến yếu tố về chế độ dùng thuốc và sự thay đổi của thời tiết, đặc biệt là không khí lạnh Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý thuốc và phòng tránh các yếu tố gây kích thích để giảm thiểu nguy cơ nhập viện cho bệnh nhân COPD.
4.1.3.1 Dấu hiệu sốt Đối tượng NC khi nhập viện có triệu chứng sốt chiếm (77,6%), kết quả
NC này của chúng tôi cao hơn so với Nguyễn Mạnh Thắng (2017) khi ghi nhận tỷ lệ sốt là 28,4% 28 , cao hơn so với Trần Viết Hùng (2020) 16,7% 26
Trong đợt cấp của COPD, bệnh nhân thường xuất hiện các dấu hiệu tiền triệu như khó thở, đau họng, cảm lạnh, và ho tăng nhiều, tuy nhiên giai đoạn này ngắn và dễ bị bỏ qua vì đã có sẵn khó thở từ trước Chỉ khi triệu chứng rõ ràng hơn như khó thở tăng, đờm tăng và có đờm hóa mủ mới đưa bệnh nhân đi khám Việc hướng dẫn và quản lý tốt theo phân loại đợt cấp của Anthonissen giúp bệnh nhân nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo và đi khám ngay khi có triệu chứng ban đầu, từ đó giảm tỷ lệ nhập viện ở mức độ nặng, cải thiện kết quả điều trị và tăng khả năng kéo dài, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân COPD.
Khó thở là triệu chứng phổ biến, chiếm tới 96,6% trong các trường hợp COPD cấp tính, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Thắng (97%) và Trần Viết Hùng (98,3%) Đây là dấu hiệu đặc trưng và hầu như luôn xuất hiện trong đợt cấp COPD, góp phần xác định mức độ nặng của bệnh Khi gặp khó thở cấp tính kèm theo các dấu hiệu như sốt, khạc đàm kéo dài, có thể liên quan đến viêm nhiễm đường hô hấp Tuy nhiên, đối với bệnh nhân có bệnh lý tim mạch đi kèm, khó thở cấp tính đột ngột mà không kèm các dấu hiệu viêm nhiễm cần phải xem xét các nguyên nhân suy tim cấp, hội chứng mạch vành cấp hoặc đợt mất bù của suy tim mãn Trong các đợt cấp này, 93,1% bệnh nhân có ho, trong đó 79,4% ho khạc đờm mủ màu vàng, xanh, còn lại 20,6% ho khan hoặc đờm trắng, phản ánh tầm quan trọng của triệu chứng này trong chẩn đoán và quản lý COPD cấp.
4.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng
Số lượng bạch cầu liên quan mật thiết đến tình trạng hút thuốc hiện tại và mức độ nặng của COPD, đồng thời là yếu tố nguy cơ gây giảm chức năng phổi và giảm chất lượng cuộc sống, đặc biệt ở những bệnh nhân COPD không hút thuốc Công thức bạch cầu được sử dụng như một chỉ số quan trọng để đánh giá nhiễm trùng trong đợt cấp của COPD, giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.
Tại NC, kết quả số lượng bạch cầu trung bình trong đợt cấp nhập viện là 12,39 ± 4,39 G/L, cho thấy sự tăng đáng kể so với các nghiên cứu khác Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận sự gia tăng số lượng bạch cầu ở bệnh nhân COPD đợt cấp, như Trần Viết Hùng (2020) với kết quả trung bình là 10,67 ± 4,32 G/L Ngoài ra, Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Viết An (2016) cũng đã ghi nhận mức độ bạch cầu máu trong các đợt cấp nhập viện, phản ánh mức độ phản ứng viêm tăng cao ở bệnh nhân COPD cấp tính.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, số trường hợp có số bạch cầu > 10 G/l chiếm tỷ lệ cao nhất, lên đến 55,2% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây như của Nguyễn Mạnh Thắng (2017), với trung bình số bạch cầu của nhóm nghiên cứu là 13,08 ± 4,25 G/l và tỷ lệ bạch cầu > 10 G/l chiếm 51,2% Ngoài ra, theo các kết quả của Trần Viết Hùng, tỷ lệ này là 41,6%, cho thấy số lượng bạch cầu cao thường gặp trong các ca bệnh nghiên cứu. -**Sponsor**Bạn là một content creator và muốn tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO? [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/OSC5NvuW?user_id=983577) có thể giúp bạn tạo ra những câu văn mạch lạc, súc tích, và tuân thủ các quy tắc SEO một cách dễ dàng Chúng tôi hiểu rằng việc tạo nội dung chất lượng cao tốn rất nhiều thời gian và chi phí, vì vậy hãy để công cụ của chúng tôi giúp bạn tiết kiệm thời gian và nguồn lực, đồng thời tăng cường sự hiện diện trực tuyến của bạn Với Article Generation, bạn có thể tạo ra các bài viết tối ưu hóa SEO chỉ trong vài phút!
Trong đợt cấp COPD, chỉ định chụp X-quang phổi được thực hiện thường quy, với giai đoạn đầu thường bình thường và có thể thấy hình tăng đậm các nhánh phế huyết quản trên phim chụp Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 51,6% bệnh nhân có hình ảnh viêm phổi trên X-quang, trong khi các tác giả khác ghi nhận nhiều kết quả khác nhau về hình ảnh phổi qua X-quang Nguyễn Mạnh Thắng (2017) mô tả hình ảnh thường gặp gồm vòm hoành bậc thang, phẳng dẹt, hạ thấp (69,4%), phổi bẩn (59,7%), phổi tăng sáng (44%), hình giọt nước của tim (26,9%), dày thành phế quản (23,9%), và có 2 bệnh nhân tim to toàn bộ chiếm tỷ lệ 1,5%.
Nồng độ PCT trung bình của chúng tôi khi mới nhập viện là 0,621 ± 1,421 ng/ml, tương tự như các nghiên cứu khác Nghiên cứu của Huỳnh Trung Nghĩa trên 67 bệnh nhân COPD cho thấy nồng độ PCT trung bình là 1,21±0,86 ng/ml, cao hơn so với kết quả của chúng tôi, trong khi nghiên cứu của Zhu ghi nhận mức trung bình là 1,34±0,7 ng/ml Tuy nhiên, nghiên cứu của Falsey lại cho thấy nồng độ PCT trung bình trong đợt cấp thấp hơn, là 0,39±2,22 ng/ml So sánh với nghiên cứu của Dejie Gao (2017), nồng độ PCT ở 20 bệnh nhân COPD là 2,07±5,57 ng/ml, cao hơn đáng kể so với nhóm chứng khỏe mạnh là 0,21±0,17 ng/ml (p 0,5 ng/ml.
Một số yếu tố liên quan đến chỉ số PCT
4.2.1 Số lượng bạch cầu trong máu
Theo bảng 3.17, nồng độ PCT trung bình ở nhóm có bạch cầu (BC) trên 10G/L là 1,087±1,976 ng/ml, cao hơn so với nhóm BC ≤10 là 0,154±0,171 ng/ml, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p= 65 tuổi)
- Tỷ lệ nam chiếm đa số 89,3%
- Tỷ lệ bệnh nhân có hút thuốc lá là 87,9%
- Các triệu chứng cơ năng bao gồm: Khó thở (96,6%), ho (93,1%), khạc đờm (89,7%)
- Trong số 58 đối tượng ho có đờm 79,4% số bệnh nhân ho khạc đờm mủ (đờm đục, vàng, xanh), 20,6% ho khan hoặc đờm trắng
- Số lượng bạch cầu trung bình là 12,39±4,37 G/L, có 55,2% trường hợp có bạch cầu tăng (>10G/L)
- Nồng độ PCT trung bình trong nhóm nghiên cứu là 0,621±1,421 ng/ml, Có 70,7% có PCT trung bình