1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI TẬP LỚN MÔN : LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

29 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Lớn Môn : Lịch Sử Văn Minh Thế Giới
Người hướng dẫn PTs. Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trường học Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Văn Minh Thế Giới
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 336,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ – DU LỊCH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ – DU LỊCH

-🙞🙞🙞 -

BÀI TẬP LỚN MÔN : LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

Sinh viên thực hiện : Lê Trần Nhật Lệ

Lớp : QTKSD2020B

Mã sinh viên : 220001630_

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thanh Thủy

Mã học phần : 20TRAO12

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ – DU LỊCH

-🙞🙞🙞 -

BÀI TẬP LỚN MÔN : LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

Sinh viên thực hiện : Lê Trần Nhật Lệ

Lớp : QTKSD2020B

Mã sinh viên : 220001630_

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thanh Thủy

Mã học phần : 20TRAO12

Trang 3

Câu 1: Trình bày tư tưởng Phật giáo Tại sao Phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới? Phân tích những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam.

Trả lời:

Trước tiên chúng ta nên tìm hiểu xem Phật giáo là gì và có nguồn gốc như thế nào.

 Phật giáo là gì?

Theo nhiều quan điểm lý luận, Phật giáo là một hệ thống triết học (nói ngắn gọn

là tôn giáo) bao gồm các tư tưởng, giáo lý về thế giới quan, nhân sinh quan cùng các phương pháp thức tỉnh, rèn dũa, tu tập con người Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

là người đầu tiên sáng lập ra đạo Phật và có công rất lớn trong việc phát triển cũng như truyền bá đến với mọi người

 Phật giáo có nguồn gốc từ đâu?

Đạo Phật ra đời vào những năm đầu thế kỷ VI (trước Công Nguyên) do vị thái tửTất Đạt Đa của một quốc gia tại Tây Bắc Ấn sáng lập Sau này Ngài mới đổi niênhiệu thành Thích Ca Mâu Ni

Chuyện kể rằng, khi xưa Tất Đạt Đa là vị thái tử được vua cha yêu chiều, cuộcsống vương giả, giàu có từ bé Ông cũng là người được định sẵn sẽ kế nhiệm ngaivàng, cai quản đất nước Tất Đạt Đa có một người vợ xinh đẹp và một người contrai thông minh, kháu khỉnh

Tuy nhiên, nỗi lòng canh cánh về sự thống khổ của nhân gian chưa bao giờngừng cháy trong trái tim của Người Ngài được sinh ra trong hoàn cảnh cũng hếtsức đặc biệt mang dấu hiệu của một vĩ nhân Tương truyền, phụ mẫu của người là

Ma Gia, khi mang thai đã nằm mơ thấy một con voi sáu ngà cùng với lời tiên triđứa bé trong bụng sau này sẽ là một vị vua anh minh hoặc một nhà hiền triết tài

ba, lỗi lạc

Cho đến năm 29 tuổi, Ngài đã từ bỏ cuộc sống giàu sang, phú quý, tự mìnhbước chân đi tìm con đường cứu khổ chúng sinh, khám phá triết lý sống của cuộcđời Từ lúc đó, Tất Đạt Đa dành tất cả công sức, thời gian của mình đi trải nghiệm,chu du cảm nhận cuộc sống đau khổ của nhân gian Những kiến thức Ngài tích lũyđược trong suốt quá trình đó đã trở thành tiền đề cho sự ra đời, phát triển của mộtloại tôn giáo lớn nhất hành tinh sau này - đạo Phật

Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “Tam Tạng”, Gồm 3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới và con người

a Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan:

Trang 4

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung của 3

phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên

Vô ngã (không có cái tôi chân thật)

Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các môn phái triết họctôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sángtạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con ngườikhông phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2yếu tố là “Sắc” và “Danh” Trong đó, Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm nhậnđược, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí; Danh là yếu tố tinh thần, không cóhình chất mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ýmuốn để hành động) và thức (sự nhận thức)

Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn” Ngũ uẩn bao gồmsắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức),chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tạicủa sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãimãi Do đó, không có “Bản ngã” hay cái tôi chân thực

Vô thường (vận động biến đổi không ngừng)

Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn biến đổi Các sự vật,hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng,không nghỉ theo chu trình bất tận là “sinh – trụ – dị – diệt” Nghĩa là sinh ra, tồntại, biến dạng và mất đi

Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi khôngngừng.Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là biếnđổi, hư hoại, đều là vô thường” Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong mộttrạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đếnbiến dị rồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vât,hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằngkhông phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi

là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ

mà chết là điều kiện của một sinh thành mới

Duyên (điều kiện cho nguyên nhân trở thành kết quả)

Bàlamôn Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhấtđến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên là điềukiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trởthành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ nhưvậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-

Trang 5

Quả”, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh Nhân và quả làhai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không có nhân thì khôngthể có quả, nếu không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy.

Hạt lúa được gọi là “nhân” khi gặp “duyên” là điều kiện thuận lợi về không khí,nước, ánh sáng, nhiệt độ…thì nhân sẽ phát triển thành “quả” là cây lúa

Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học Phậtgiáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sáng tạo racon người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người được cấu thành từcác yếu tố vật chất và tinh thần Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trìnhliên hệ, vận động, biến đồi không ngừng Nguyên nhân của sự vận động , biến đồinằm trong các sự vật Đó là quan điểm biện chứng về thế giới tuy còn mọc mạcchất phát nhưng rất đáng trân trọng Và đó cũng là quan điểm duy vật biện chứng

về thế giới

b Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan:

Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết

“Tứ Diệu Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý tuyệt diệu đòi

hỏi mọi người phải nhận thức được Tứ diệu đế là:

Như vây, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc củahoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Về phương triết học, khổđau là một thực tại như thực đối với con người khổ đế là một chân lý khách quanhiện thực khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng lọat nhân duyên được tạo tác từtâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hìnhthái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, conngười không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải

đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó

Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do đó, conngười ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác.Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới Phật ví

Trang 6

sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nướcbiển.

Nhân đế (hay Tập đế):

Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là tụ hợp, kết tậplại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãnđược trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân

hồi Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do “thập nhị

nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người.

12 nhân duyên gồm:

1 Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không sáng suốt.

Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ.Trong mười hai nhân duyên, vô minh là căn bản Nếu không thấu hiểu Tứ diệu đếcũng được gọi là Vô minh

2 Duyên hành: là ý muốn thúc đẩy hành động.

3 Duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối.

4 Duyên danh sắc: sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm

giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)

5 Duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan

cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để thiêu hủy,đón nhận

6 Duyên xúc: là sự tiếp xúc của thế giới xung quanh sinh ra cảm giác Đó là sắc,

thinh, hương vị, xúc và pháp khi tiếp xúc, đụng chạm vào

7 Duyên thụ: là sự cảm thụ, sự nhận thức khi thế giới bên ngoài tiếp xúc với lục căn

sinh ra cảm giác

8 Duyên ái: là yêu thích mà nảy sinh ham muốn, dục vọng trước sự tác động của thế

giới bên ngoài

9 Duyên thủ: do yêu thích quyến luyến, không chịu xa lìa, rồi muốn chiếm lấy, giữ

lấy không chịu buông ra

10 Duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.

11 Duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.

12.Duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mòn, trẻ rồi già, ốm đau

rồồi chếết.

Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chung đều chorằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho cái kia, cáinày là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau Cũng có lời giải thích là 12 yếu

tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là thamlam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo racái vòng lẩn quẩn của nổi khổ đau nhân loại

Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bảnchất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và

Trang 7

chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng Chúng ta cóthể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình Hay nói cách khác,tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không Nếu không

bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trongtâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc

Diệt đế:

Là chân lý về diệt khổ Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được đểđạt tới trạng thái “niết bàn” Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổcũng được tận diệt muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ

vô minh

Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của

vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa,tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác diệt trừ được vô minh, tham dụcthì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinhtử

 Tại sao Phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới?

Yêu chuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động.

Chủ trương hòa bình trên thế giới có rất nhiều tôn giáo Và hẳn nhiên, những hành

vi và biểu hiện của họ không giống nhau Vì sao xưa nay những cuộc chiến tranhtôn giáo luôn là nỗi ám ảnh của nhiều người? Họ – những tôn giáo ấy, tôn vinhđấng tối cao của họ và từ đó, những hành vi của họ đều vin vào những ý đồ củađấng tối cao quyền năng (do họ tự sáng tạo ra) Họ chìm đắm trong những cuộcchiến đẫm máu và bảo rằng đó là ý của thần thánh, phải làm như thế mới được lênthiên đàng

Khác với nhiều tôn giáo, đạo Phật không có người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành trong tay

Đức Phật là một con người ngộ chân lý, Người tìm ra được bản chất của những khổ đau hạnh phúc ở đời, rồi hướng dẫn cho chúng ta thực hành những phương pháp thoát khỏi khổ đau, hướng con người chúng ta đến an lạc tạm thời và tuyệt đối Tôn thờ Phật giáo không phải là tôn thờ đấng siêu nhiên quyền uy nào, mà vì tưởng nhớ đến con người vĩ đại ấy đã hy sinh vì mọi người để có được bài học vô giá Phật pháp chính là những ứng dụng cụ thể trong đời sống để mỗi người tự nhìn

ra bản ngã của chính mình, hướng đến một cuộc sống chân thiện mỹ đích thực nơi mỗi người

Phật giáo là hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột

và hiếp đáp người.

Trang 8

Một lần tại nước Xá Vệ, đức Phật dạy cho vua Ba Tư Nặc về cách trị dân được ghi lại tóm tắt như sau: “Những hành động thiện hay ác của chúng ta mãi theo chúng ta như bóng theo hình Điều cần thiết mà chúng ta phải có là tình thương Hãy xem thần dân như con ruột của mình, đừng áp bức họ, đừng tổn hại họ, trái lại hãy bảo vệ họ như gìngiữ tay chân của mình Hãy sống với Chánh Pháp và đi mãi trên con đường lành Đừngnâng mình lên bằng cách đạp kẻ khác xuống Hãy gần gũi và thương yêu những kẻ nghèo khổ”.

 Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam:

tổ Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bát nhang ho các linh hồn, vonghồn đã khuất

Khuynh hướng thiên về nữ tính

Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông, sang Việt Nam biến thành PhậtÔng – Phật Bà Bồ tát Quán Thể Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm vớinghìn mắt nghìn tay – vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước ĐôngNam Á (nên còn gọi là Quan Âm Nam Hải) Ở một số vùng, ngay cả Phật tổ Thích

Ca cũng được coi là phụ nữ (người Tày Nùng gọi là “Mẹ Pựt Xích Ca”) NgườiViệt Nam còn tạo ra những “Phật bà” riêng của mình: Đứa con gái nàng Man,tương truyền sinh vào ngày 8-4 được xem là Phật Tổ Việt Nam, bản thân bà Mantrở thành Phật Mẫu Rồi còn những vị Phật bà khác nữa như Quan Âm Thị Kính,Phật bà chùa Hương Lại còn rất nhiều các bà bồ tát như Bà Trắng chùa Dâu, cácthánh mẫu…

Việt Nam có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà: chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu,chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh… Tuyệt đại bộ phậnPhật tử tại gia là các bà: Trẻ vui nhà, già vui chùa là nói cảnh các bà

Chùa hòa nhập với thiên nhiên, bao giờ cũng là nơi phong cảnh hữu tình; bởi vậymới có cách nói ví “vui như trảy hội chùa” Cảnh chùa hữu tình, hội chùa vui, cửachùa rộng mở, cho nên cũng là nơi chở che cho trai gái tình tự: “Hội chùa Thầy cóhang Cắc Cớ, Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”

Trang 9

Câu 2 : Nhận xét đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Phục hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại Từ thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục hưng, hãy đánh giá về vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó

Trả lời:

hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại

Nghệ thuật hội họa Trong thế kỷ mười lăm, một số họa sĩ nổi tiếng người Hà

Lan đã phát triển những cải tiến cho cách tạo ra tranh sơn dầu Trong thời kỳ Phục hưng, các nghệ sĩ Ý đã sử dụng các kỹ thuật mới của Hà Lan để cải thiện các bức tranh của họ Hiện tượng này có ảnh hưởng đến chất lượng và thời giancủa các tác phẩm nghệ thuật, ngoài ra đã mang lại những thay đổi đáng kể cho bức tranh trên toàn thế giới Ngoài ra, thời Phục hưng phần lớn là do sự hiện diện của các nhân vật người Ý xuất sắc Nhiều người trong số này được coi là giỏi nhất mọi thời đại về tầm ảnh hưởng, như Piero della Francesca và

Donatello Sưu tập các tác phẩm nghệ thuật trở thành sở thích của người giàu

có, nhưng khi tầng lớp trung lưu trở nên khấm khá hơn, họ cũng có thể tậu đượcnhững nghệ phẩm, cho dù không thật sự xuất sắc Các xưởng vẽ như các xưởng

do Ghiberti điều hành bắt đầu không phải sản xuất hàng loạt mà ít ra sử dụng những yếu tố được tiêu chuẩn hóa lấy từ danh sách có sẵn Tóm lại, nghệ thuật không còn giới hạn cho tầng lớp giàu có, và đối với người không đủ tiền tậu bản gốc họ luôn có thể mua những bản in Các bản in giúp lan truyền tiếng tăm của các nghệ sĩ đi xa Nhờ việc mở rộng thị trường nghệ thuật, các họa sĩ bậc thầy giờ có thể tự do sáng tạo theo ý muốn, không phải thỏa mãn yêu cầu của người bảo trợ Nghệ thuật Phục Hưng tiếp tục tiến hóa Trường phái Mannerism(Kiểu Cách), chẳng hạn, là một thuật ngữ mơ hồ ban đầu để chỉ phong cách nghệ thuật khác lạ đến kỳ cục ra đời sau thời Phục Hưng Hưng Thịnh

Mannerism lúc đó mang một ý nghĩa tích cực – tính phong cách, tính đa nghĩa của thông điệp, tính tương phản, và nói chung đùa cợt với những kỹ thuật và những tiêu chuẩn hóa mà trước đây các nghệ sĩ Phục Hưng đã đặt ra Chẳng hạn, hãy xem bức họa Thánh Mark Làm Phép Giải Cứu một Nô Lệ (1548) do Tintoretto (k.1518- 1594) vẽ (hình dưới) Từ Mannerism sẽ đến phong cách chủyếu tiếp sau trong nghệ thuật Âu châu, trường phái Ba-rốc đậm chất trang trí, chuyên sử dụng màu sắc rực rỡ, hoạ tiết đẹp, và những tư thế sống động, đưa nghệ thuật Phục Hưng lên một mức độ cao tột mới của xúc cảm và tính trang tríbao trùm 2.1.2 Điêu khắc Điêu khắc Phục Hưng được cho là có một điểm khởiđầu tương đối rõ ràng, với cuộc tranh đua giành hợp đồng xây dựng Nhà thờ Florence Ghiberti, người chiến thắng, đã giới thiệu một phong cách cách tân rõ rệt so với nghệ thuật Gothic, với những chạm khắc bằng trên cánh cửa đồng của

tu viện mang đậm nét cổ điển với nhiều tầng lớp có chiều sâu và hậu cảnh phong phú Chất liệu được ưa chuộng thời kỳ đầu Phục Hưng là tượng đồng sửdụng phương pháp đúc mẫu chảy, sau đó chuyển dần sang tượng đá hoa cương, cẩm thạch Phong cách của Ghiberti được tiếp nối bởi người từng là phụ tá của

Trang 10

ông, Donatello, sau đó là Andrea del Verrocchio và học trò của ông là Leonardo

da Vinci Thời kỳ cũng chứng kiến xu hướng các tượng trong nhà thờ được trang trí bên trong thay vì các vườn tượng bên ngoài, trong khi các tượng đặt nơi công cộng như quảng trường, nhất là tượng bán thân, trở nên phổ biển, mô

tả không chỉ những người đàn ông tiếng tăm mà đôi khi cả phụ nữ, trẻ em Điêukhắc Phục Hưng đạt đến đỉnh cao với Michelangelo, với khoảng 20 năm đầu thế kỷ XVI ông dành cho nghệ thuật đã để lại các kiệt tác về mô tả cơ thể và cảm xúc con người như David, Pietà, Moses, cụm tượng mộ Giáo hoàng Julius

II

 Vai trò và ý nghĩa lịch sử văn hóa Phục Hưng

a Vai trò của văn hóa Phục hưng:

Phục Hưng là một phong trào văn hóa đã tác động sâu sắc tới đời sống trí thức châu Âu trong thời sơ kỳ hiện đại Bắt đầu ở Ý, lan ra khắp châu Âu vào thế kỷ XVI, ảnh hưởng của nó hiện diện trong văn học, triết học, mĩ thuật, âm nhạc, chính trị, khoa học, tôn giáo, và các khía cạnh khác của đời sống tinh thần Các học giả Phục Hưng sử dụng phương pháp nhân văn trong nghiên cứu,

và khai thác hiện thực đời sống và cảm xúc con người trong nghệ thuật Không chỉ phát động quần chúng đấu tranh chống lại xã hội phong kiến mà phong trào

văn hóa Phục Hưng mở đường cho sự phát triển c̠ủa̠ văn hóa Châu Âu ѵà nhân

loại Phong trào Văn hóa Phục hưng là "cuộc cách mạng tiến bộ vĩ đại", mở đường cho sự phát triển cao hơn của văn hoá châu Âu và văn hoá nhân loại Vì đây là cuộc đấu tranh công khai đầu tiên của giai cấp tư sản chống lại thế lực phong kiến đã suy tàn Nó đánh bại hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời, đề cao giá trị tốt đẹp, cao quý của con người và giàu tính nhân văn và là bước tiến kì diệu trong lịch sử văn minh ở Tây Âu

b Ý nghĩa của phong trào văn hóa Phục Hưng:

Là một phong trào cách mạng tư tưởng về văn hóa, phong trào văn hóa PhụcHưng đã có rất nhiều ý nghĩa quan trọng với xã hội thời bấy giờ Bằng tinh thầnđấu tranh dũng cảm bất chấp lò thiêu và ngục tối của giáo hội Các nhà khoahọc, các nghệ sĩ trong nền văn hóa Phục Hưng đã dánh bại hệ tư tuỏng lỗi thờicủa phong kiến và giáo hội thiên chúa giáo lúc bấy giờ Nhờ đó tư tưởng tìnhcảm của nhân dân đã được giải phóng khỏi sự kìm kẹp, trói buộc của Giáo hội

Từ đó chủ nghĩa nhân văn với các nội dung nhân quyền, nhân tính, các tínhngày càng giữu vai trò quna trọng, chi phối những mặt về văn học, nghệ thuật

và cả những lĩnh vực trong đời sống xã hội Sau cả ngàn năm chìm đắm, phongtrào văn hóa Phục Hưng là một bước tiến lịch sử trong lịch sử văn minh Tây

Âu Các nhà văn, nghệ sĩ, các nhà khoa học đã đóng góp trí tuệ và tài năngtuyệt vời của mình vào phong trào văn hóa đó bằng các tác phẩm và công trìnhbất hủ của mình, là tấm gương cho các thế hệ sau này noi theo Thời kì Phục

Trang 11

Hưng đã để cho nền văn minh nhân loại nhiều đống góp to lớn, giúp loài người

có nhiều bước tiến vượt bậc Vào điểm các nước Châu Âu chuyển mình mạnh

mễ thì các nước quân chủ ở phương Đông như Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độđang căng mình giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội phát sinh Và hệ quả làsau phong trào Phục Hưng, Châu Âu đã trở thành ngọn cờ đầu của nền vănminh nhân loại Cung với sự phát triển của cuộc cách mạng tư 11 sản ở Châu

Âu thì Châu Âu nói chung và người phương Tây nói riêng đã trở thành ngườilàm chủ thế giới Tuy vậy, phong trào Phục Hưng vẫn có các hạn chế khi chưađấu tranh triệt để với tầng lớp phong kiến Mãi đến sau này các cuộc đấu tranh,các cuộc cách mạng tư sản diễn ra mới chấm dứt hoàn toàn chế dộ quân chủchuyên chế, mở ra một thời kì dân chủ ở Châu Âu

Câu 3: Qua các thành tựu chính trị xã hội và kinh tế của văn minh phương Tây cận đại, hãy đánh giá vai trò và ý nghĩa của nền văn minh này.

Trả lời:

 Kinh tế:

Thời kỳ này được đánh dấu bởi cuộc cách mạng công nghiệp, mở đầu bằng

việc phát minh và sử dụng máy hơi nước vào sản xuất ở nước Anh cuối thế kỷXVIII Một quá trình công nghiệp hóa diễn ra rầm rộ ở châu Âu đã làm thay đổicách thức sản xuất từ lao động bằng tay, sang sử dụng máy móc và từng bướchình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh; từ sản xuất quy mô nhỏ lên quy

mô lớn với sự ra đời của các nhà máy và các khu công nghiệp, khiến cho loàingười trong vòng chưa đầy một trăm năm, có thể sáng tạo nên một lực lượngvật chất to lớn hơn và đồ sộ hơn tất cả các thế hệ trước cộng lại, theo đánh giácủa C.Mác và Ph.Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Chínhnhững thành tựu kinh tế và kỹ thuật ấy đã khẳng định ưu thế của chế độ tư bảnđối với chế độ phong kiến, đã tạo nên một bước ngoặt cơ bản “từ làn sóng vănminh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp” theo cách diễn dạt củanhà tương lai học A.Toffler Cách mạng Công nghiệp ở Anh: Lĩnh vực côngnghiệp từ nửa sau thế kỉ XVIII sản xuất bằng máy móc được tiến hành đầu tiên

ở Anh, (với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt) sau đó lan rộng sang cácnước Âu – Mĩ đã tạo nên cách mạng công nghiệp trên toàn thế giới Kĩ thuậtluyện kim được cải tiến, nhiều phương pháp mới ra đời nhanh và rẻ hơn, nhiềunguồn nhiên liệu mới được sử dụng như than đá, sắt (nguyên liệu chủ yếu),… _Máy hơi nước của James Watt được phát minh vào năm 1784 là một phát minhquan trọng, có tính cơ sở, làm nền tảng cho sự phát triển công nghiệp cũng như

sự ra đời của nhiều máy móc khác, thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển

Trang 12

(đến năm 1870 thế giới đã có hơn 200 000 km đường sắt và hơn 500 tàu thủy).Giao thông phát triển giúp hoạt động giao thương trở nên 12 nhộn nhịp hơn vàcông nghiệp phát triển thúc đẩy quá trình đô thị hóa Một số phát minh tiêu biểulà: Máy kéo sợi Jenny; Tàu hỏa Stephenson; Đèn sợi đốt; Tàu thủy Fulton;Bảng chữ cái và máy điện tín Morse; Động cơ đốt trong; Động cơ hơi nước;Động cơ diesel;… Thế kỉ XX là thế kỉ sắt, máy móc và động cơ hơi nước.Ngoài ra, nông nghiệp cũng có nhiều tiến bộ về kĩ thuật với sự ra đời của phânhóa học, máy kéo chạy, mày cày nhiều lưỡi, máy gặt đập,… được sử dụng phổbiến và rất rộng rãi Trong lĩnh vực quân sự, nhiều vũ khí mới được sản xuất:đại bác, súng trường bắn nhanh và xa, ngư lôi bắt đầu được sử dụng, khí cầutrinh sát trận địa đối phương,… Thế kỉ XVIII – XIX là thời kì nở rộ của khoahọc kĩ thuật so với các thể kỉ trước có nhiều phát minh và đã đạt được nhiềuthành tựu lớn.

 Đánh giá vai trò và ý nghĩa:

Các nền văn minh ra đời và phát triển trước thế kỷ XVI, dù mang những màusắc khác nhau nhưng tựu chung vẫn thuộc phạm trù văn minh nông nghiệp Từthế kỷ XVI, các nước Tây u và sau đó là thế giới, dần chuyển sang một thời đạilịch sử mới, thời đại hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, mà gắn liềnvới nó là một nền văn minh mới – văn minh công nghiệp Những thành quả củacác cuộc phát kiến địa lý, phong trào Văn hóa Phục hưng, cải cách tôn giáo, các

Trang 13

cuộc cách mạng tư sản đầu tiên là những bước mở đầu, đặt cơ sở cho sự ra đời vàphát triển của văn minh công nghiệp Thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản

đã làm xuất hiện các quốc gia tư bản, các nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tạmquyền phân lập ngày càng trở nên phổ biến Song song đó, sự phát triển mạnh mẽcông thương nghiệp đã tạo nên những tiện để về kinh tế, chính trị - xã hội choviệc chuyển sang một thời kỳ mới trong lịch sử, một giai đoạn mới của văn minhnhân loại Cuộc cách mạng công nghiệp là sự kiện cơ bản đánh dấu việc chuyểnbiến của lịch sử nhân loại sang giai đoạn văn minh công nghiệp Cách mạng côngnghiệp là sự biến đổi sâu sắc về chất của nền kinh tế mà đặc trưng cơ bản của nó

là việc thay thế lao động thủ công sang sản xuất cơ khí, việc ứng dụng rộng rãimáy hơi nước với năng lượng than đá và một phương thức sản xuất mới - phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa Như vậy, có thể nói rằng, thời cận đại đã đánhdấu một bước ngoặt cơ bản trong lịch sử chuyển từ lao động sản xuất thủ côngsang lao động sản xuất cơ khí và máy móc Thế giới chuyển từ văn minh nôngnghiệp sang nền văn minh công nghiệp Các cuộc cách mạng tư sản thắng lợi, cácnhà nước tư sản ra đời, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thếcho quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời Thành quả của cuộc cách mạng côngnghiệp đã tạo ra bước đại nhảy vọt trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ cơ sở hạtầng lẫn kiến trúc thượng tầng, đảm bảo cho ưu thế của chủ nghĩa tư bản so vớichế độ phong kiến trước đó Trong quá trình tồn tại và phát triển, chủ nghĩa tưbản dần dần bộc lộ nhiều mặt hạn chế, đặc biệt trong quan hệ xã hội Tuy vậy, với

sự ra đời và xác lập của chủ nghĩa tư bản cùng quá trình công nghiệp hóa là mộttất yếu lịch sử, tạo ra một bước phát triển lớn lao, đưa lịch sử nhân loại bước vàomột giai đoạn mới trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại

Câu 4: Nội dung và đặc điểm của cuộc Cách mạng Khoa học kỹ thuật lần thứ hai bắt đầu từ Mỹ Ý nghĩa và tác động của nó nhìn từ góc độ văn minh.

Trả lời:

* Nội dung:

- Tự động hóa cao độ bằng cách sử dụng rộng rãi máy tính điện tử

- Hiện đại hóa kĩ thuật và sản xuất trên cơ sở những phát minh khoa học mới nhất

- Sử dụng những nguồn năng lượng mới, những vật liệu mới, những công cụ sản xuất mới

- Tấn công vào lòng các đại dương, đi sâu vào lòng đất, nghiên cứu bí mật của

sự sống, thám hiểm vũ trụ bao la

- Nhiều sáng chế được ra đời trong thời kỳ này, nhưng đỉnh cao nhất thì phải nhắc đến truyền thông và động cơ:

Truyền thông:

Trang 14

Phát minh cốt yếu nhất trong lĩnh vực truyền thông đầu tiên là kỹ thuật in ấn tang quay dẫn động bằng năng lượng hơi nước Tiếp của sự thành công máy sảnxuất giấy cuộn dựa trên kỹ thuật in ấn mà ra đời Quy trình làm giấy từ những nguồn hạn chế như bông, lanh được thay thế bằng bột gỗ Năm 1870 với sự truyền bá kiến thức của nước Anh thuế giấy bị xóa bỏ kích thích sự phát triển của báo chí và tạp chí Thời gian này máy công cụ có khả năng chế tạo các thiết

bị chính xác trong máy khác tại Mỹ có sự tăng trưởng Dây chuyền sản xuất hàng tiêu dùng ra đời

Động cơ:

Ở cuộc cách mạng này, động cơ đốt phát triển ở một số cường quốc lớn, họ cùng nhau trao đổi ý tưởng và sáng chế được nhiều phát minh mới Động cơ đốt trong chạy trên khí than đá đầu tiên đã được phát triển do Etienne Lenoir ở Pháp, nơi mà nó đã có một số thành công hạn chế như là một động cơ nhỏ trong công nghiệp nhẹ Năm 1860 động cơ đốt đầu tiên ra đời, được thử

nghiệm làm động lực cho ô tô sơ khai ở những năm 1870 Gottlieb Daimler người nước Đức đã sử dụng dầu 15 mỏ làm nhiên liệu của xe ô tô thay cho khí than Sau đó Henry Ford đã chế tạo ra ô tô hoạt động với động cơ đốt trong Động cơ xăng hai kỳ cũng được phát minh trở thành nguồn năng lượng của người nghèo, là nguồn năng lượng tin cậy của các cơ sở sản xuất trong thời điểm này

Các phát minh khác:

Năm 1876, Alexander Graham Bell đã phát minh ra chiếc điện thoại đầu tiên Năm 1878, Sir Joseph Swan sáng chế ra bóng đèn sợi đốt

Năm 1884, tua bin hơi được sáng tạo ra bởi Sir Charles Parsons

Năm 1903, hai an hem người Mỹ là Wilbur và Orville Wright đã chế tạo ra cỗ máy bay đầu tiên

- Thời gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất ngày càng rút ngắn và hiệu quả kinh tế ngày càng cao của công tác nghiên cứu khoa học

* Ý nghĩa và tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ

Ý nghĩa:

Ngày đăng: 16/01/2023, 10:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w