Bìa 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOATRUNG TÂM TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CỔ ĐẠI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Lịch sử nhà nước và pháp luật. Trong dòng chảy của lịch sử văn minh phương Tây cổ đại, hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã giữ vai trò nền tảng đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của những cư dân gốc du mục, cùng với đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ từ các thành bang nhỏ bé. Do có cùng một phong cách nên hai nền văn minh này được gọi chung là văn minh HyLa. Khác với các quốc gia cổ đại ở phương Đông, chủ yếu được hình thành ở những khu vực gần các con sông, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp; còn văn minh phương Tây cổ đại được hình thành và phát triển trên những khu vực có điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, phức tạp – không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp nhưng bù lại có sự trợ giúp tuyệt vời của biển đảo. Từ đó hình thành những con đường giao thương trên biển, hải cảng, tàu bè… thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa các nước; đồng thời mang những thành tựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp thế giới, trong đó, không thể không kể đến những bộ luật cổ của hai nền văn minh này.
Trang 1Bìa 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA/TRUNG TÂM………
TÊN ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CỔ ĐẠI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
Mã phách:……….(Để trống)
Trang 2Hà Nội – 2021
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong dòng chảy của lịch sử văn minh phương Tây cổ đại, hai nền văn minh
Hy Lạp và La Mã giữ vai trò nền tảng đầu tiên cho sự hình thành và phát triểncủa những cư dân gốc du mục, cùng với đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ từ cácthành bang nhỏ bé Do có cùng một phong cách nên hai nền văn minh nàyđược gọi chung là văn minh Hy-La
Khác với các quốc gia cổ đại ở phương Đông, chủ yếu được hình thành ởnhững khu vực gần các con sông, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp;còn văn minh phương Tây cổ đại được hình thành và phát triển trên nhữngkhu vực có điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, phức tạp – không thuậnlợi cho sự phát triển nông nghiệp nhưng bù lại có sự trợ giúp tuyệt vời củabiển đảo Từ đó hình thành những con đường giao thương trên biển, hải cảng,tàu bè… thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa các nước; đồng thời mang nhữngthành tựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp thế giới, trong đó,không thể không kể đến những bộ luật cổ của hai nền văn minh này
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 Nguồn luật
Những dữ liệu về luật pháp ở Hy Lạp cổ đại cũng rất ít ỏi Nguồn quan trọngcủa luật pháp Aten là những bài luận của Arixtot (Schirft des Aristoteles) vềcái gọi là Hiến pháp Aten (Consititution of Athen) Đến nay cũng không tìmthấy những tài liệu của các các chuyên gia luật
Nguồn nghiên cứu quan trọng là khoảng 100 bút lục của Lysia, Isocrates,Isaios, Aischines, Demosthens Ngoài ra cũng có những nguồn gián tiếp kháccủa Platon, Arixtot
1.2 Các chế định dân sự
Luật pháp ở Hy Lạp khá phát triển, coi quyền tư hữu là thiêng liêng và bấtkhả xâm phạm Quyền này được bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau.Hình phạt trộm cắp thường được xử phạt bằng án tử hình Thời kỳ này phápluật cũng có quy định các điều kiện bảo đảm việc thực hiện hợp đồng như thếchấp, cầm cố, đặt cọc, bảo lãnh
1.2.1 Luật hình sự
Luật hình sự ở Aten vẫn cho phép hình thức trả nợ máu và rất nhiều hình thứctàn ác khác
Ví dụ: Khi phát hiện vợ ngoài tình, người chồng có thể giết người tình địch
và được xem là vô tội Hoặc pháp luật quy định các trọng tội như phản quốc,
vô thần, những trọng tội này đều bị xử tử hình
Luật pháp Aten có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa các loại lỗi Về hình phạt,tòa án áp dụng nhiều hình phạt rất tàn ác như chọc mù mắt, chặt đầu, uốngthuốc độc, ngồi lên bàn chông…Ngoài hình phạt chính còn có các hình phạtphụ như: tước quyền công dân, tịch thu tài sản
Trang 51.2.2 Luật tố tụng
Aten rất tôn trọng chứng cứ, vật chứng và nhân chứng, ai cũng có quyền đưa
ra Khi xét xử, các bên có quyền được biết các chứng cứ và luật áp dụng cho
vụ án Trong quá trình xét xử, tòa án lắng nghe lý lẽ và chứng cứ của các bêncùng những lời thề khai trung thực, cuối cùng người đứng đầu phiên tòa đưa
ra kết luận, sau đó các quan tòa tiến hành bỏ phiếu kín Nếu số phiếu ngangnhau, người đứng đầu phiên tòa có quyền quyết định cuối cùng Như vậy,trong quá trình xét xử, tòa án vẫn tôn trọng tiếng nói của các bên, và khituyên án ở mức độ nhất định cũng chú ý đến khía cạnh dân chủ và tính độclập của quan toà
1.2.3 Luật Dracon và luật Solon
Vào những năm 600 trước công nguyên ở Hy Lạp cổ đại có những bộ luậtthành văn như Luật Dracon và Luật Solon
Bộ luật thành văn đầu tiên là bộ luật Dracon, bộ luật này được ban hành vàokhoảng thế kỷ thứ VII TCN Dracon là người đã thay thế toàn bộ hệ thốngluật pháp truyền miệng lâu đời bằng một thứ luật pháp thành văn cực kì hàkhắc được một quan tòa duy nhất thực thi
Luật Dracon quy định các hình phạt hà khắc, phần lớn hình phạt là tử hình, kể
cả những vi phạm pháp luật như lừa dối hoặc trộm cắp Thực chất đây khôngphải là đạo luật được áp dụng của thành bang mà chỉ là các quy định riêng lẻtổng hợp lại, vì vậy, hiện nay cũng có người hoài nghi rằng không biết đạoluật này có phải do Dracon ban hành hay không
Bộ luật được dán lên một cái bảng gỗ tự xoay quanh trục để mọi người có thểđọc được ở bất kì mặt nào Về nội dung, bộ luật này có nhiều quy định rất hàkhắc Con nợ nào có địa vị thấp hơn so với chủ nợ thì bị buộc làm nô lệ.Ngoài ra Bộ luật còn quy định án tử hình cho cả những tội nhỏ nhất
Trang 6Luật Solon được ban hành vào đầu thế kỷ VI trước công nguyên Solon mongmuốn bãi bỏ nhiều quy định lỗi thời của luật Dracon Ông quy định tất cả cấckhoản nợ sẽ được bãi bỏ và nghiêm cấm việc nô lệ hóa những người khôngtrả được nợ Luật Solon cũng giảm thiểu thế lực của tầng lớp quý tộc chủ nô
cũ bằng việc đặt ra nhiều quy định dựa trên tài sản chứ không phải là nguồngốc xuất thân
1.3 Tư tưởng về hiến pháp, chính quyền và phương pháp tranh luận ở
Hy Lạp cổ đại
1.3.1 Quan điểm về hiến pháp và chính quyền
Một nhà nước phải bao gồm các công dân tự do và mục đích của nhà nước làđem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người Đặc tính bản chất nhất của một nhànước chính là hiến pháp của nhà nước này Công dân là người tham gia tíchcực vào đời sống chính trị Công dân không phụ thuộc vào nguồn gốc xuấtthân, nơi ở; mà ở việc tham gia vào các thiết chế nhà nước Từ thực tế đờisống chính trị ở Aten, ông cho rằng phụ nữ, trẻ nhỏ, nô lệ và người khôngphải công dân của thành bang đều không phải là công dân Hiến pháp của nhànước sẽ chỉ ra chính xác ai là công dân và ai thì không
Arixtot phân biệt 3 dạng: thống trị có thể là một người, một vài người hoặc lànhiều người Hiến pháp được coi là công bằng khi mà việc sử dụng quyền lực
là của tất cả mọi người, ngược lại hiến pháp sẽ không công bằng nếu nhưquyền lực là của riêng một ai đó Trên cơ sở này, ông đã xây dựng lý thuyết
về hình thức nhà nước với 6 loại hiến pháp
Thống trị Sử dụng quyền lực bởi tất cả Sử dụng quyền lực bởi
kẻ thống trị
Vài người Chế độ quân chủ Chính trị đầu sỏNhiều người Politie (Nhà nước lý tưởng) Dân chủ
Trang 71.3.2 Phương pháp lập luận Xôcrát
Xôcrát là nhà hiền triết của thành Aten, Hy Lạp cổ đại Xôcrát còn được coi
là người đặt nền móng cho thuật hùng biện dựa trên hệ thống những câu hỏiđối thoại
Ông có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng về đức hạnh với quan điểm “Hãy tự biếtlấy chính mình”, “Tôi chỉ biết mỗi một điều duy nhất là tôi không biết gì cả”.Thay vì bàn chuyện vũ trụ cao xa như các bậc tiền bối, ông quan tâm đếnnhững vấn đề thực tại của cuộc sống con người Vì ông tin rằng mọi người ai
ai cũng biết lẽ sống, sẵn sàng làm theo lẽ phải nếu được thức tỉnh
Vào năm 399 TCN, ông bị tố cáo “dụ dỗ thanh niên” và “báng bổ thầnthánh”, bị kết án tử hình bằng cách uống thuốc độc Ông đã dùng phươngpháp phản bác bằng logic của mình để chứng minh cho bồi thẩm đoàn rằnggiá trị đạo đức của họ đã lạc đường
Đóng góp quan trọng nhất của ông cho tư tưởng phương Tây và nhân loại làphương pháp truy vấn được biết đến dưới tên gọi “phương pháp Xôcrát” haycòn gọi là phương pháp “bác bỏ bằng logic”
Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các kháiniệm quan trọng Để giải quyết một vấn đề, người ta chia nhỏ nó thành một
hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời sẽ dần dần kết tinh ra lời giải mà ta tìmkiếm
Phương pháp Xôcrát là phương pháp loại bỏ các giả thuyết, theo đó người tatìm ra các giả thuyết dẫn tới mâu thuẫn Nó được thiết kế để người ta buộcphải xem xét lại các niềm tin của chính mình và tính đúng đắn của các niềmtin đó Thực tế, Xôcrát từng nói hình thức cao nhất của tinh túy con người là
tự hỏi và hỏi người khác
Trang 8Thực chất của phương pháp Xôcrát là kỹ thuật đặt câu hỏi, giúp mọi người tựtìm thấy lẽ phải, chân lý vốn có còn bị che phủ bởi sự mê muội Hỏi khôngphải là để truy bức, mà để người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự trả lời Chínhcâu trả lời và giải pháp do chính họ tự tìm, tự nghiệm ra là mục đích trongphương pháp của Xôcrát
Xôcrát tiến hành nghệ thuật đối thoại bằng bốn bước:
- Giả vờ không biết để nhờ người đối thoại giảng cho Rồi bằng nhữngcâu hỏi trúng đích (có khi châm biếm, có khi mỉa mai), chứng minhrằng người đối thoại chẳng biết gì cả Theo ông, khôn ngoan là kẻ biếtđiều mình không biết Không biết không đáng trách, mà đáng trách là
đã không biết nhưng lại không chịu học Biết nghe và biết hỏi là yếu tố
cơ bản để thành công
- Tiếp theo là dùng phương pháp quy nạp để xây dựng từng bước cái biếtvững chắc Đó là phân tích chính xác những ví dụ cụ thể trong đờithường, từ đó rút ra những kết luận và định nghĩa tạm thời
- Bằng phương pháp định nghĩa, làm cho những khẳng định tạm thời ấyngày càng tinh vi và chính xác hơn
- Sau cùng, có được những định nghĩa rõ ràng, phổ quát về vấn đề đangbàn
Phương pháp đối thoại Xôcrát này đã trở thành cơ sở cho sự phát triển triếthọc và khoa học của những thế kỷ sau Nền móng của đối thoại là sự trungthực và minh bạch, là sự tin cậy lẫn nhau Điều này rất quan trọng trong hoạtđộng tư pháp
Xôcrát là nhà nhân quyền đầu tiên, ông cho rằng tự do tư duy, tự do phátbiểu, tự do sống cuộc đời mình chọn lựa là quyền con người, cao hơn bất kỳ
bộ luật của một cộng đồng người đặc thù nào
1.4 Luật tự nhiên và triết học pháp luật ở Hy Lạp cổ đại
Trang 9Nhiều nhà luật học cho rằng ở Hy Lạp không giống như La Mã có bộ phápđiển đồ sộ, nhưng Hy Lạp là nơi khơi nguồn cho một thời kỳ khai sáng về tưtưởng luật tự nhiên, cũng như về triết học pháp luật
Qua những tranh luận, dựa trên tư duy duy lý, họ bắt đầu thể hiện sự hoàinghi vào sự tồn tại của Chúa trời, họ đặt những câu hỏi về sự tồn tại của luậtpháp, nhà nước
Arixtot cho rằng con người sinh ra đã là không bình đẳng, có những điểmmạnh và điểm yếu Sự bất bình đẳng này có tính tự nhiên Từ đó, ông đưa raquan điểm pháp luật, nhà nước gắn với con người cũng là điều tự nhiên Phápluật mới có khả năng giảm thiểu những sự bất công có tính tự nhiên đó
Platon và Arixtot cũng bàn về những vấn đề như công bằng là gì và thốngnhất ở luận điểm: Công bằng trước hết là dựa trên yêu cầu về sự bình đẳng.Platon còn phân biệt bình đẳng có hai loại đó là dựa trên số lượng và côngbằng dựa trên tỷ lệ Platon cho rằng công bằng thực sự không phải chỉ giảnđơn dựa trên số lượng mà phải dựa trên “tỉ lệ” Tỷ lệ đó nhiều ít ra sao cần cóluật pháp minh định
Tóm lại, những tranh luận của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là dựa trên lýtính, mới mẻ và hoàn toàn khác biệt so với Lưỡng Hà và Ai Cập cổ đại Cóthể thấy, Hy Lạp cổ đại là nơi khơi nguồn của tư duy duy lý
Có nhiều nhà khoa học cho rằng chính tư duy lý tính, tranh luận dựa trên lý lẽ
là đặc trưng nổi trội của luật pháp Hy Lạp Nhà luật học người Đức UweWesel cho rằng “Ở đâu mà các lý thuyết pháp lý phát triển thì ở đó khoảngcách giữa luật và sự công bằng xã hội cách xa nhau Ở đâu mà luật dựa trên lý
lẽ, thì luật và sự công bằng thường rất gần.” Ông cho rằng mặc dù ở Lưỡng
Hà cổ đại có luật thành văn nhưng thực tế thẩm phán khi tuyên án lại khôngmấy khi vận dụng những bộ luật này Khác với Lưỡng Hà, ở Hy Lạp nhữngtranh luận pháp mang tính duy lý lại là cơ sở để ra các phán quyết
Trang 10Tòa án ở đây có tới hàng trăm thẩm phán, họ tranh luận đúng sai dựa trên lý
lẽ Do vậy cả hai bên, tức bên nguyên và bên bị phải tự đưa ra lý lẽ, tự bàochữa cho mình Chính vì lẽ đó, Uwe Wesel cho rằng ý thức về quyền củamình và việc bảo vệ quyền của người Hy Lạp là rất cao, cao hơn cả ở Rom Mặc dù không có những bộ luật đồ sộ như Luật Hammurabi ở Lưỡng Hà cổđại hay Luật 12 bảng, Luật La Mã ở Rom, nhưng rõ ràng tính xã hội của luật
ở Hy Lạp được đánh giá rất tốt Hy Lạp cổ đại không có nhiều bộ luật, nhưng
Hy Lạp có nhiều thứ mà Lưỡng Hà, Ấn Độ, Ai Cập hay La Mã cổ đại không
có được đó là thuật hùng biện, tư duy lý tính và một khoa học triết học phápluật đã phát triển đến đỉnh cao
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT LA MÃ CỔ ĐẠI
Hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thuộc kiểu pháp luật chiếm hữu nô lệ La
Mã Pháp luật La Mã cổ đại được nâng lên hàng “lý trí thành văn”, được tiếpthu, vận dụng rộng rãi trong các nhà nước phong kiến Tây Âu và là mộtnguyên tắc cơ bản của nhiều chế định pháp luật, nhất là pháp luật dân sự tưsản
Xét về bản chất, pháp luật La Mã thể hiện ý chí của giai cấp chủ nộ, phản ánhlợi ích của giai cấp thống trị, là công cụ đàn áp nô lệ, chúng ra đời trong điềukiện cụ thể của xã hội La Mã cổ đại, khi quan hệ, giao lưu thương mại dựatrên chế độ sở hữu tư nhân rất phát triển ở dạng thuần túy
Lần pháp điển hóa đầu tiên của luật La Mã được tiến hành vào những năm 50của thế kỉ V trước công nguyên với tên gọi là Luật 12 bảng
2.1 Luật 12 bảng
2.1.1 Luật La Mã thời kì đầu của nền cộng hòa – Luật 12 bảng
Do phong trào đấu tranh của bình dân và chủ nô công thương chống lại sựvận dụng tùy tiện tập quán pháp trong tư pháp vì lợi ích riêng tư của chúng,
Trang 11năm 450 TCN, một ủy ban gồm 5 bình dân và 5 quý tộc được thành lập đểsoạn thảo một bộ luật thành văn Bộ luật được khắc trên 12 tấm bảng bằngđồng (12 là số may mắn theo quan niệm của người Châu Âu), đặt ở nơi côngcộng cho mọi người xem, nên bộ luật này được gọi là Luật 12 bảng
Nội dung của 12 bảng chứa đựng những nguyên tắc thủ tục tòa án, các lĩnhvực luật tư và luật hình sự
Luật 12 bảng đã tạo dựng nền tảng quan trọng nhất về luật cổ Về nội dung,Luật 12 bảng bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Bảng I – III: Tố tụng dân sự, thi hành án, vay nợ;
Bảng IV – V: Luật gia đình, thừa kế;
Bảng VIII: Vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng;
có thể tống giam con nợ hoặc trói bằng dây xích (Điều 2, bảng XII) Đếnngày phiên chợ thứ ba, các chủ nợ co thể tùng xẻo con nợ không trả được nợ.Nếu xử quá mức, họ cũng không bị tội (Điều 3, bảng XII)
Về hợp đồng:
Trang 12Nếu một người làm một giao kèo hoặc chuyển nhượng và thông báo điều đóbằng lời nói, thì kể từ thời điểm đó quyền lợi được xác lập (Điều 1, Bảng VI).Đối với bất động sản liền kề, Luật 12 bảng quy định: một người chủ tài sảnphải làm một con đường để đi lại; nếu người chủ từ chối không làm, kháchqua đường vẫn có quyền đi qua cùng với gia súc bất cứ chỗ nào mà họ phải điqua (Điều 1, Bảng VII)
Về hôn nhân gia đình:
Luật quy định cấm kết hôn giữa người bình dân và quý tộc Đàn ông phục vụquân đội không được phép kết hôn cho đến khi việc huấn luyện kết thúc.(Điều 1, Bảng XI)
Người cha có quyền bán con làm nô lệ Nếu người cha bán con làm nô lệ đến
ba lần, người con đó sẽ được tự do khỏi người cha của mình (Điều 2, BảngIV)
Trẻ sơ sinh nếu sinh ra với một hình hài dị dạng, đứa trẻ đó sẽ bị giết (Điều 1,Bảng IV)
Về thừa kế:
Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kếtheo luật, thì người đàn ông thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế Nếukhông có người đàn ông thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộcdòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế (Điều 1, Bảng V) Nếu một người bịđiên, thì người đàn ông thuộc họ hàng gần nhất của người đó sẽ có quyền đốivới tài sản của anh ta (Điều 2, Bảng V)
Điểm tiến bộ là Luật 12 bảng đã có quy định về việc hỏa táng hay chôn cấtphải được tiến hành ngoài phố (Điều 1, bảng X) Việc hỏa táng cũng đượcquy định rất cụ thể, không cho phép bỏ vàng vào dàn hỏa táng, Ngoại trừ
Trang 13trường hợp nếu răng của người chế bằng vàng được chôn cất hoặc thiêu cùng(Điều 3, Bảng X)
Vấn đề bồi thường vi phạm ngoài hợp đồng:
Nếu ai gây thương tích làm tàn tật người khác và không bồi thường, thì việctrả thù ngang bằng (retaliation/gleiche Vergeltung: trả nợ máu) là hợp pháp(Điều 2, Bảng VIII) Bất cứ ai gây thương tích mà làm gãy xương của ngườikhác phải trả 300 đồng xettec (sesterces: tiền cổ La Mã); đối với một một nô
lệ là 150 xettec; nếu thương tật nhẹ, phải trả 25 xettec (Điều 3, Bảng VIII)
Về tố tụng dân sự:
Nếu ai đó được triệu tập đến Tòa, người đó phải đến Trường hợp nếu người
đó né tránh, bỏ trốn thì sẽ bị bắt (Điều 1, Bảng I) Nếu do ốm đau hoặc dotuổi già là một trở ngại, người đó sẽ được đưa đến Tòa bằng xe cáng (Điều 2,Bảng I) Nếu các bên đã thỏa thuận giao kèo, thì phải công bố công khai thỏathuận này Nếu các bên có tranh chấp, thì họ phải đưa vụ kiện ra nơi côngcộng trước buổi trưa Họ sẽ cùng tự bào chữa cho mình Sau buổi trưa, thẩmphán sẽ quyết định Nếu cả hai đều có mặt, vụ kiện sẽ kết thúc lúc mặt trờilặn
Các nhà làm luật cũng lường tính cả trường hợp bị cáo ốm nặng hoặc gặpnhững trở ngại khách quan, thẩm phán được phép hoãn xét xử (Điều 1, BảngII)
Điểm đặc biệt là Luật 12 Bảng đã có những quy định liên quan đến tráchnhiệm của thẩm phán và quy định cấm xử tử hình chưa thông qua xét xử cụthể là: Thẩm phán sẽ bị xử tử hình nếu có bằng chứng về việc phạm tội nhậnhối lộ (Điều 4, Bảng IX); cấm xử tử hình một người mà chưa thông qua xét
xử (Điều 6, Bảng IX) Đây là một quy định rất tiến bộ, nếu đặt trong điềukiện xã hội lúc bấy giờ