1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG (1945 – 1946)

19 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường Lối Xây Dựng Và Bảo Vệ Chính Quyền Cách Mạng Của Đảng (1945 – 1946)
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 216,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bìa 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOATRUNG TÂM TÊN ĐỀ TÀI ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG (1945 – 1946) BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt.

Trang 1

Bìa 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA/TRUNG TÂM……….

TÊN ĐỀ TÀI: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH

MẠNG CỦA ĐẢNG (1945 – 1946) BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã phách:……….(Để trống)

Trang 2

Hà Nội – 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đưa lịch sử dân tộc sang trang mới, đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình tiến hóa của dân tộc Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời, dù phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần đoàn kết phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng và củng cố, vững bước tiến trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Giai đoạn 1945-1946 là giai đoạn khởi đầu của một nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa mới ra đời, bước đầu xây dựng bộ máy chính quyền và chống giặc ngoại xâm, nội phản, đất nước "ngàn cân treo sợ tóc" Chính vì thế, việc tìm hiểu – nghiên cứu đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Đảng giai đoạn này rất quan trọng Đây nền tảng bước đầu nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng cho những đoạn kế tiếp

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Đi sâu tìm hiểu những nội dung chưa được nghiên cứu của

Lịch sử Đảng về đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng giai đoạn

1945 - 1946, đồng thời làm rõ thêm các nội dung đã được nghiên cứu dưới góc độ lịch sử Trên cơ sở đó, khái quát, tổng hợp, hệ thống hóa những nội dung cơ bản của Lịch sử Đảng về về đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng giai đoạn 1945 - 1946, nhằm đưa đến một sự hiểu biết đầy đủ, toàn diện hơn

Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu những nội dung đã được các tác giả đi trước nghiên

cứu, những nội dung đã được nghiên cứu nhưng chưa hoàn thiện hoặc chưa được nghiên cứu Tìm hiểu bối cảnh Lịch sử Đảng về đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng giai đoạn 1945 - 1946

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cần phải nắm rõ, phân tích được đường lối, chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1945-1946 Qua đó, chúng ta nhận thức đúng đắn về đường lối cũng như chủ trương của Đảng về xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn này

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào đường lối, chủ trương của Đảng

trong giai đoạn 1945-1946, đặc biệt là đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu nội dung cơ bản của Lịch sử Đảng, trong đó có

đường lối xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng giai đoạn 1945 - 1946

Phương pháp nghiên cứu

Dùng phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lenin, đó là phương pháp duy vật biện chứng lịch sử; ngoài ra vẫn còn những phương pháp khác như logic, phân tích – tổng hợp; so sánh; quy nạp – diễn dịch; khái quát hóa…cũng được sử dụng nhằm đạt hiểu quả trong quá trình nghiên cứu

Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Thấy được thành quả một năm kiến quốc, xây dựng chế độ, trong đó có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Đặt nền móng vững chắc, tạo dựng sức mạnh to lớn của dân tộc trên nền tảng dân chủ nhân dân để chiến đấu

và chiến thắng giặc ngoài thù trong, đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo vào những năm 1945- 1946

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, “là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”,

đã đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, đánh đuổi bọn quân phiệt Nhật Bản ra khỏi đất nước, lật đổ chế độ phong kiến mấy mươi thế kỷ, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Cách mạng Tháng Tám cũng chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân, nhân dân ta tích cực xây dựng lực lượng Chỉ trong thời gian ngắn, lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị Giải phóng quân

và các đội tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng Dù trang bị vũ khí còn rất thô sơ

và thiếu thôn, lại chưa có nhiều kinh nghiệm tác chiến, nhưng cán bộ và chiến sĩ trong các đơn vị vũ trang đều có tinh thần chiến đấu dũng cảm, là lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng Trải qua 15 năm đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo (1930 – 1945), truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt rễ sâu vào quần chúng và thêm dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo

Sau khi đất nước được độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tăng cường lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là vị lãnh tụ thiên tài,

có uy tín tuyệt đối trong toàn dân Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho linh hồn của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, Nhà nước cách mạng Việt Nam, ngay sau khi ra đời, đã phải đứng trước một tình thế hết sức hiểm nghèo Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp với trình độ lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá rất nặng

Trang 6

nề, thiên tai thường xuyên xảy ra Nền tài chính của Nhà nước cách mạng trong buổi đầu hết sức kiệt quệ Cùng với khó khăn về kinh tế, tài chính, chế độ thực dân – phong kiến để lại một di sản văn hóa hết sức lạc hậu Thực dân Pháp chăm lo xây dựng nhà tù hơn là trường học, bên cạnh nạn thất học là các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút…tồn tại rất phổ biến, bệnh dịch hoành hành ở nhiều nơi

Trong khi đó, chính quyền cách mạng mới ra đời, chưa có kinh nghiệm quản lý Ở một số nơi, chính quyền chưa nằm trong tay những người cách mạng Mặt trận dân tộc thống nhất tuy phát triển rộng rãi, nhưng chưa được củng cố vững chắc; kẻ thù lại đang ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ, lôi kéo…Do đó, vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo đang là những vấn đề lớn được đặt ra rất bức thiết lúc đó

CHƯƠNG 2: LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC 1945 – 1946

2.1 Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng

2.1.1 Về chính trị

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu 6 nhiệm vụ: Phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói; Mở ngay chiến dịch chống nạn mù chữ; Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư, tật xấu do chế độ thực dân để lại; Bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện

Để tăng cường thực lực cách mạng, Nhà nước Việt Nam mới rất quan tâm đến việc phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm các đoàn thể cứu quốc, gồm các lực lượng yêu nước và tiến bộ Tháng 5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập, thu hút được rất nhiều các đảng phái và các cá nhân yêu nước

Trang 7

Với yêu cầu phải điều hành nhà nước một cách hiệu quả nhưng trong điều kiện mới

ra đời, Nhà nước chưa có đủ thời gian để ban hành những văn bản luật, Chính phủ

đã ban hành nhiều sắc lệnh với những quy định cụ thể

Tính từ 02/9/1945 – 31/12/1946, riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành

181 sắc lệnh nhằm tổ chức, xây dựng, kiện toàn chính quyền nhà nước về mọi mặt Sau khi chính quyền cách mạng ở các cấp được thành lập, đa số các cán bộ, đảng viên tuân thủ đúng chương trình, kế hoạch và sắc lệnh của Nhà nước Tuy nhiên, ở nhiều nơi vẫn xảy ra tình trạng nhiều người vi phạm những lỗi lầm rất nặng nề, như

là trái phép, tham ô, vô kỷ luật, cậy thế, tư túng, chia rẻ,…

Trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, bọn đế quốc, phản động ra sức quấy phá, Chính phủ kiên quyết lãnh đạo, ban hành Sắc lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu Quốc dân Đại hội và ấn định Hiến pháp của nước Việt Nam mới, nhằm để thiết thực xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước

Ngày 06/1/1946, nhân dân cả nước nô nức đi bầu cử Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng

cử với số phiếu cao nhất là 98,4% và nhân dân cả nước bầu ra được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nhất trí tuyên bố “Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng với Tổ quốc” và trao cho Người quyền thành lập Chính phủ mới

Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dựa trên nguyên tắc: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo, Bảo đảm các quyền tự do dân chủ Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.”

Từ đây, quyền làm chủ của nước nhà, quyền và nghĩa vụ của công dân, hệ thống chính quyền nhà nước các cấp được thể chế trong Hiến pháp

2.1.2 Về quân sự

Cách mạng Tháng Tám vừa giành được thắng lợi, quân và dân ta lại đứng trước những khó khăn chồng chất, đặc biệt là chống giặc ngoại xâm

Trang 8

Theo Sắc lệnh số 71 ngày 25/5/1946, Vệ quốc quân chính thức trở thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, biên chế thống nhất thành trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội Cùng với 25 chi đội ở Nam Bộ, lúc này ở Bắc Bộ và Trung

Bộ có 30 trung đoàn, tổng quân số lên tới 8 vạn người Toàn quốc chia thành 12 chiến khu

Công tác phát triển đảng viên mới được tiến hành tích cực Hệ thống công tác chính trị và đội ngũ chính trị viên được xây dựng từ trên xuống dưới, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Trung ương Đảng đối với Quân đội

Công tác huấn luyện quân sự ở các đơn vị được tiến hành rất khẩn trương Các đơn

vị đều có chương trình huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật Việc đào tạo cán bộ được gấp rút tiến hành

- Tháng 3/1946, Trung ương Đảng mở Trường quân chính Bắc Sơn

- Tháng 5/1946, Bộ Quốc phòng khai giảng Trường võ bị Trần Quốc Tuấn

- Tháng 6/1946, Ủy ban kháng chiến miền Nam mở Trường lục quân trung học Quảng Ngãi

Đến cuối năm 1946, đã đào tạo được hàng nghìn cán bộ, kịp thời đưa về các đơn vị

cơ sở trước khi kháng chiến toàn quốc bắt đầu

Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Vệ quốc quân và lực lượng tự

vệ đã anh dũng trong đấu tranh chính trị, thực hiến tốt nhiệm vụ chống thù trong, giặc ngoài, góp phần bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân, xứng đáng là công

cụ bạo lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong những năm đầu của chính quyền cách mạng

2.2 Bảo vệ chính quyền cách mạng

2.2.1 Giải quyết nạn đói

Ngày 03/9/1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên, nêu ra một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là cứu đói để vực dậy dân tộc đã và đang trải qua nạn đói kinh hoàng Trong phiên họp đầu tiên này, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của

Trang 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh về sáu nội dung cấp bách phải thực hiện, trong đó nội dung đầu tiên chính là cứu đói

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên họp: “Nhân dân đang đói, ngoài những kho thóc của Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng…Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này Chúng ta phải làm thế nào để cho họ sống Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.”

Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28/9/1945, Báo Cứu quốc đăng thư của Hồ Chí Minh gửi đồng bào cả nước kêu gọi mọi người nêu cao tinh thần “nhường cơm, sẻ áo” cứu giúp đồng bào Người là người thực hiện đầu tiên bằng việc 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo Trong cuộc vận động này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người gương mẫu thực hiện đầu tiên và triệt để, nếu những buổi dùng cơm với khách trùng vào ngày nhịn ăn, Người sẽ tự động nhịn bù vào ngày hôm sau

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như cho phép vận chuyển thóc gạo, nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo, cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu;…

Ngày 02/11/1945, quyết định thành lập Hội Cứu đói, Hội được tổ chức xuống tận các làng Ngày 28/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, phong trào toàn quốc thi đua cứu đói đã diễn ra rộng khắp trên cả nước với rất nhiều sáng kiến, sáng tạo như “hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, “Đoàn quân tiễu trừ giặc đói”

Từ đó, hàng vạn tấn gạo được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào đang chịu thảm họa của nạn đói

Cùng với quá trình cứu đói khẩn cẩp, để bảo đảm giải quyết triệt để nạn đói, Chính phủ phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Trong tháng 10 và tháng 11/1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế

Trang 10

hoàn toàn cho vùng bị lũ lụt Ngày 19/11/1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất Nhiều chính sách đã được triển khai như cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm; chi ngân sách sửa chữa các quãng đề điều bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới Phong trào tăng gia sản xuất diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước và đã gặt được kết quả to lớn, nạn đói dần được đẩy lùi, đời sống nhân dân dần trở nên ổn định

Từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946, sản lượng lương thực chủ yếu là hoa màu, đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm

1945 Đến hết năm 1946, nạn đói cơ bản đã được giải quyết

2.2.2 Giải quyết nạn dốt

Theo thống kê thời kỳ đó, trong 100 người thì có 3 trẻ em tuổi từ 8 đến 16 được đi học và 2 người lớn biết chữ, còn lại 95 người thất học Có những làng không có một

ai biết chữ

Trong sáu vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra trong phiên họp đầu tiên ngày 03/9/1945, chống nạn mù chữ là vấn đề thứ hai sau nạn đói Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ.” Ngày 08/9/1945, Chính phủ ban hành liền ba Sắc lệnh số 17, 19 và 20, theo đó, Nha Bình dân học vụ được ra đời nằm trong Bộ Quốc gia Giáo dục, hạn trong 6 tháng các làng và thị trấn nào cũng phải có “ít nhất một lớp bình dân” và cưỡng bách học chữ quốc ngữ trên toàn quốc

Chủ tịch Hồ CHí Minh ra bản triệu hiệu đồng bào tham gia chống nạn mù chữ, khuyên người chưa biết chữ phải thi đua học chữ; những người đã biết phải thi đua dạy học; kêu gọi mọi người, kẻ giúp của, người giúp công để tiêu diệt giặc dốt

Ra đời giữa lúc khó khăn bủa vây, phong trào bình dân học vụ gặp nhiều vấn đề nan giải, trong hai điều kiện cốt yếu là người và tiền đều thiếu Tình thế ấy, buộc bình dân học vụ phải vận động cách mạng là “của dân, do dân, vì dân” Cán bộ cấp chỉ

Trang 11

mua học phẩm, Chính phủ ra lệnh các công sở thu nhặt giấy cũ phát cho người nghèo để viết vào chỗ còn trắng; nếu không đủ thì dùng phấn, than, gạch, que thay bút mực; lá chuối, quạt nan, mo nang thay giấy

Tất cả lực lượng bình dân học vụ đổ dồn vào trừ nạn mù chữ Họ dùng khẩu hiệu viết, kẻ, dán ở từng nhà, trên mặt đường, thân cây; hô trong các buổi ohast thanh, đám rước đuốc, diễu hành để tuyên truyền Nhiều người cảm phục nên bỏ tiền mua giấy bút cho học viên, người bỏ công đi dạy

Chỉ sau 3 tháng, hàng trăm “lớp học i, tờ” mở ra từ thành thị đến nông thôn, rừng núi Giáo viên đủ các giới, tuổi, không có lương bổng, họ vẫn vừa dạy học, vừa làm

cổ động học viên, xây dựng trường, tìm kiếm học phẩm

Có những phụ nữ vừa cho con bú vừa học, những cụ già đầu tóc bạc phơ vẫn đến lớp, có người phải đốt đuốc đi 2 – 3 cây số xuyên rừng, lội suối đến lớp học Nhiều người khuyết tật cũng không chịu mù chữ Tuy nhiên vẫn còn nhiều người vì kế sinh nhai hoặc ngại ngùng mà chưa đi học Nha Bình dân học vụ phải tổ chức mít tinh, ca kịch, triễn lãm để lồng ghép giới thiệu lợi ích của sự học, chứng minh học chữ quốc ngữ rất dễ, chóng biết và vui vẻ Các đoàn cổ động dùng như câu ca dao

dí dỏm như “Lấy chồng biết chữ là tiên/Lấy chồng mù chữ là duyên con bò.” Ở một

số nơi, trạm kiểm soát chữ được lập ra, ai muốn qua phải đọc được chữ, không thì được mời vào lớp bên cạnh để giáo viên dạy học thử Ở nhiều con đường, cổng chợ, cán bộ bình dân học vụ dựng một cổng có hai cửa, một cửa cao rộng để người biết chữ đi qua, một cửa thấp hẹp để ai mù chữ phải bò qua Dần dần, học viên đến lớp ngày một đông

Phong trào duy trì ngay cả khi Pháp quay lại xâm lược Dựa trên tình hình thực tế,

có lớp lưu động cho chị em đi làm ruộng, có lớp cho đồng bào tản cư trong các lán

bí mật, có lớp lộ thiên ở bến đò, cổng chợ Lớp học mở từ một đến hai tiếng, phụ thuộc vào sự thuận tiện của học viên và hoàn cảnh địa phương

Phong trào bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được 75.000 lớp học 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã

vầ 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ

Ngày đăng: 15/01/2023, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w