Bìa 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOATRUNG TÂM TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHỊ VIỆN THÔNG QUA TÌM HIỂU NGHỊ VIỆN Ở VƯƠNG QUỐC ANH HIỆN NAY TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Luật H.
Trang 1Bìa 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA/TRUNG TÂM………
TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHỊ VIỆN THÔNG QUA
TÌM HIỂU NGHỊ VIỆN Ở VƯƠNG QUỐC ANH HIỆN NAY
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Luật Hiến pháp nước ngoài
Mã phách:……….(Để trống)
Trang 2Hà Nội – 2021
Trang 3Chế độ hai viện trước hết tổn tại ở các nhà nước liên bang, ở những nước nàyThượng nghị viện đại diện cho các bang Các lãnh địa, các bang, các lãnh đia
dù lớn hay nhỏ đều có số thượng nghị sĩ như nhau mà không lấy theo tỈ lệ dân
số như Thượng viện Mĩ gồm đại diện của các bang và mỗi bang, dân sốđông hay ít vẫn được bầu 2 thượng nghị sĩ Ở các nhà nước đơn nhất, Thượngnghị viện đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ (Pháp) hoặc đại diệncho tầng lớp quý tộc trong xã hội (Anh)
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGHỊ VIỆN
1.1 Nguồn gốc của nghị viện
Nghị viện bắt nguồn từ chữ Latin, ý nghĩa ban đầu là biện luận theo cách đàmthoại, xuất hiện đầu tiên bằng một loại hình thức là các đại biểu cùng nhauhội họp, trải qua diễn biến và phát triển trong khoảng thời gian dài, cuối cùngcoi là hình thức cơ bản của dân chủ xác lập phổ biến ở rất nhiều nước
Ở một số thành bang Hi Lạp (thí dụ Athens) và nước Cộng hoà La Mã cũngtồn tại cơ cấu tương tự nghị viện (viện nguyên lão) Sau khi tiêu diệt đế quốc
La Mã, rất nhiều khu vực ở châu Âu đã bảo lưu nghị viện quý tộc và nghịviện địa phương do nghị viện tù trưởng kéo dài và diễn biến tới nay Ở trongmột số thành thị của châu Âu đã hình thành nghị viện thành phố do giai cấptrung lưu như thành viên công đoàn cùng với thương nhân, luật sư và giáo sưhợp thành
Những nghị viện này xét về nguồn gốc, quyền lợi và nghĩa vụ của thành viênnghị viện có khác biệt rất lớn với nghị viện ngày nay, nhưng xét về nguồn cộilịch sử, có thể được xem là tiền thân của nghị viện ngày nay
Năm 1265, Anh triệu tập mở hội nghị lần thứ nhất Năm 1266, Bá tướcMontfort lấy danh nghĩa nhiếp chính để triệu tập mở hội nghị do quý tộc, tăng
lữ, kị sĩ và cư dân thành phố tham gia, về sau được biết là điểm mở đầu củanghị viện Anh Quốc, thông qua "Dự luật Quyền lợi" và "Luật kế thừa ngôivua" lần lượt vào năm 1689 và 1701, cấp cho nghị viện các phương diệnquyền lực như chế định luật pháp, quyết định dự toán tài chính công, quyếtđịnh kế thừa ngôi vua và giám sát việc quản lí hành chính, từ đó nghị việnbiến thành cơ quan lập pháp tối cao
Nghị viện được coi là cơ quan lập pháp, thông thường có sẵn quyền lực chínhtrị cơ sở nhất định, nhưng mà quyền lực của một số nghị viện khá ít, thí dụ
Trang 5nghị viện châu Âu vào thời kì đầu về cơ bản không có bất kì quyền lực chínhtrị.
1.2 Khái niệm về nghị viện
Nghị viện, hay nghị hội, là một loại hình thái của cơ quan lập pháp, do sốlượng đại biểu nhất định trong nhân dân bầu ra mà hợp thành nhằm nắm giữquyền lập pháp; các vị đại biểu này gọi là nghị sĩ, có thể thông qua bầu cửtrực tiếp hoặc bầu cử gián tiếp mà sản sinh, cũng có thể là do nhà nước uỷnhiệm
Nghị viện thường dùng để chỉ và gọi cơ quan lập pháp của nước dân chủ, bởi
vì phần lớn nội dung công việc tiến hành của nó đến từ ý muốn của ngườidân, do đó cũng được gọi là "cơ quan dân ý"; tuy nhiên, nghị viện cấp bậcnhà nước, được gọi là nghị viện nhà nước, gọi tỉnh lược là "quốc hội" Nghịviện của nước dân chủ hiện đại thông thường đều lấy quốc hội Anh Quốc cólịch sử lâu dài nhất coi là khuôn mẫu
Nghị viện bắt nguồn từ Anh Quốc, là từ hội nghị thứ bậc mang tính chấtphong kiến mà diễn biến tới nay Năm 1266, quý tộc Montfort lấy danh nghĩanhiếp chính để triệu tập mở hội nghị do quý tộc, tăng lữ, kị sĩ và cư dân thànhphố tham gia
Về sau được biết là điểm mở đầu của nghị viện Anh Quốc, năm 1688 sauCách mạng Quang Vinh, nghị viện thông qua "Dự luật Quyền lợi" và "Luật
kế thừa ngôi vua" lần lượt vào năm 1689 và 1701, cấp cho nghị viện cácphương diện quyền lực như chế định luật pháp, quyết định dự toán tài chínhcông, quyết định kế thừa ngôi vua và giám sát việc quản lí hành chính, từ đónghị viện biến thành là cơ quan lập pháp tối cao
1.3 Cơ cấu của nghị viện
1.3.1 Hình thức tổ chức nghị viện
Nghị viện của các nước trên thế giới phổ biến chọn dùng hình thức tổ chứcchế độ nhất viện hoặc chế độ lưỡng viện
Trang 6Chế độ nhất viện chỉ chế độ mà nghị viện chỉ xếp đặt một viện (để thươnglượng) và do nó sử dụng và thực thi toàn bộ chức quyền của nghị viện Chế
độ lưỡng viện chỉ chế độ mà nghị viện xếp đặt hai viện và do hai viện sửdụng và thực thi chức quyền của nghị viện
Tên gọi lưỡng viện mỗi nước có khác nhau và riêng biệt, thí dụ Anh Quốc làViện Quý tộc (cấp thượng) và Viện Thứ dân (cấp hạ), các nước như Hoa Kì
và Nhật Bản gọi là Thượng viện (Tham Nghị viện) và Viện Dân biểu (ChúngNghị viện), Pháp gọi là Thượng viện và Quốc hội, Hà Lan gọi là Viện thứnhất (cấp thượng) và Viện thứ hai (cấp hạ), Thuỵ Sĩ gọi là Hội đồng Các bang(cấp thượng) và Hội đồng Quốc gia (cấp hạ), Đức gọi là Quốc hội Liên bang(cấp hạ) và Hội đồng Liên bang (cấp thượng) Phổ thông mà nói, các nước màchủ nghĩa tư bản phát triển khá sớm phần nhiều chọn dùng chế độ lưỡng viện,
kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai các nước châu Á và châu Phi mới độclập phần nhiều chọn dùng chế độ nhất viện, nước có thể chế liên bang chọndùng chế độ lưỡng viện
Chế độ lưỡng viện bắt nguồn vào thế kỉ XIV ở Vương quốc Anh lúc vuaEdward III còn ở ngôi vua, nắm giữ triều chính, trong nghị viện bao gồm đạibiểu bốn phía quý tộc, tăng lữ, kị sĩ và cư dân thành phố, bởi vì chênh lệch lợiích và địa vị, đại quý tộc và đại tăng lữ kết hợp cùng nhau, kị sĩ, bình dân vàtiểu quý tộc, tăng lữ cấp dưới cũng kết hợp cùng nhau Đại biểu của hai bộphận này tách ra tập hợp, liền dần dần hình thành chế độ lưỡng viện
Thượng viện gọi là Viện Quý tộc, hạ viện gọi là Viện Thứ dân Montesquieucho biết việc chọn dùng chế độ lưỡng viện có thể phát huy tác dụng ràng buộclẫn nhau, ngăn cấm hành động nông nổi, không cẩn thận ở nghị viện
- Các nghị sĩ là quý tộc kế truyền của Anh và Liên hiệp Vương quốcAnh bao gồm: công tước, hầu tước, bá tước và nam tước Năm 1977,các nghị sĩ này có đến 900 người
- Các nghị sĩ là quý tộc kế truyền của Scotland được quyền bầu trong số
họ 16 đại biểu vào Thượng nghị viện Anh
Trang 7- Các nhà quý tộc là thượng nghị sĩ suốt đời theo luật năm 1958, sốthượng nghị sĩ thuộc loại này là 280 người
- Các thẩm phán tòa phúc thẩm đã nghỉ hưu Thông thường số thượngnghị sĩ này là 11 người
Hiện nay, số lượng thượng nghị sĩ Anh trên 1200 người trong khi đó Hạ nghịviện của Anh chỉ có 635 người với nhiệm kì 5 năm
Quyền hạn của hai viện thì trước kia Quý tộc viện cũng có quyền lập phápnhư Thứ dân viện Một đạo luật cần phải được cả hai viện chấp thuận mớiđược ban hành Nhưng kể từ khi có Luật nghị viện Anh 1911 và đặc biệt làvới Luật nghị viện Anh năm 1949 quyền hạn của quý tộc viện bị hạn chế rấtnhiều
Ở Cộng hòa Pháp, Thượng nghị viện (Le Sénat) đại diện cho các tập thể lãnhthổ Pháp Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Pháp có những điểm khác nhau:
- Hạ nghị sĩ do bầu cử đầu phiếu trực tiếp còn Thượng Nghị sĩ do đầuphiếu gián tiếp
- Số lượng nghị sĩ hạ viện là 577 còn số lượng nghị sĩ thượng viện là
Trang 8Quyền hạn của Hạ nghị viện lớn hơn Thượng nghị viện Theo điều 49 củaHiến pháp năm 1958, Hạ nghị viện có thể buộc Chính phủ giải tán bằng cách
bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ
Việc hình thành cơ chế hai viện tạo ra những ưu việt sau đây:
- Sự bảo thủ của các thượng nghị sĩ làm cân bằng với sự thái quá của cáclực lượng cấp tiến hay chịu ảnh hưởng của các áp lực trong xã hộimang tính chất nhất thời Nhờ cơ chế này mà đảm bảo được sự ổn địnhcủa thiết chế chính trị
- Ở các quốc gia liên bang cơ chế hai viện có thể đảm bảo được quyềnbình đẳng về mặt lập pháp của các bang, thông thường là sự thể hiệnquyền bình đẳng của các dân tộc và các nhà nước thành viên
- Do việc thảo luận và thông qua các dự luật phải tiến hành ở cả hai việnvới những quan điểm khác nhau nên nội dung các văn bản luật đượccân nhắc, xem xét kĩ càng hơn
1.3.2 Cơ quan lãnh đạo của nghị viện
Việc lãnh đạo các viện có thể do một người hoặc một tập thể ủy ban thường
vụ thực hiện
Chủ tịch Hạ nghị viện Anh được gọi là Speaker (người phát ngôn), ngoài việcphát ngôn chính thức thay mặt Hạ viện, Chủ tịch Hạ viện còn có nhữngnhiệm vụ như điều khiển các phiên họp của viện bảo đảm những đặc quyềncho nghị sĩ
Chủ tịch Thượng nghị viện có thể do Hội nghị toàn thể thượng nghị sĩ bầu ranhư Pháp, Italia và Nhật Còn ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, Phó tổngthống đương nhiệm là Chủ tịch Thượng nghị viện Ở Canada, chủ tịchThượng nghị viện do Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Thượng viện; ởAnh, Chủ tịch Thượng viện là Lord Chancellor – người đại diện của cơ quanhành pháp
Trang 91.3.3 Các ủy ban của nghị viện
Để thực hiện chức năng lập pháp cũng như những chức năng khác, nghị việncác quốc gia tư sản đã thành lập các ủy ban Các ủy ban thường có chủ tịch,phó chủ tịch và thư kí Các ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu chuẩn bị các dự
án luật, các nghị quyết của nghị viện
Các ủy ban chia làm hai loại là ủy ban thường trực và ủy ban đặc biệt Ủy banthường trực là ủy ban hoạt động chuyên môn còn ủy ban đặc biệt được thànhlập vì những nhiệm vụ đặc biệt theo từng vụ việc
1.4 Thẩm quyền của nghị viện
1.4.1 Thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp
Thẩm quyền này chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi chủ nghĩa nghị viện đang hưng thịnhthì nghị viện có thể ban hành bất cứ đạo luật nào mà nghị viện thấy cần thiết
để điều chỉnh các quan hệ xã hội;
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn từ chủ nghĩa tư bản độc quyền cho đến nay Ởgiai đoạn này quyền hạn lập pháp của nghị viện bị hạn chế Xu hướng chung
là nghị viện chỉ được phép ban hành những luật mà những luật đó không canthiệp sâu vào lĩnh vực hành pháp
Một số nhà nước tư sản như Anh, Hy Lạp, Nhật Bản không hạn chế phạm vilập pháp của nghị viện
1.4.2 Thẩm quyền của nghị viện trong lĩnh vực ngân sách và tài chính
Nghị viện quy định về quản trị tài chính quốc gia
Quyết định ngân sách nhà nước
Thực hiện quyền kiểm sát thanh tra việc thu và chi ngân sách nhà nước
Trang 10Quyết định việc lập và thu các loại thuế cũng như quyền lập pháp, quyền củanghị viện trong lĩnh vực này cũng có xu hướng bị cơ quan hành pháp lấn át
1.4.3 Thẩm quyền trong lĩnh vực đối ngoại và phòng thủ quốc gia
Theo nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân thì nghị viện – cơ quan dân cử,
cơ quan đại diện của nhân dân có quyền quyết định vấn đề chiến tranh và hòabình Tuy nhiên, trên thực tế, tổng thống hoặc chính phủ có thể đặt nghị việntrước một việc đã rồi để buộc nghị viện phải phê chuẩn
Nghị viện quyết định ngân sách quốc phòng, quyết định việc gia nhập các liênminh quân sự, quy định điều kiện gọi phục vụ quân sự Nghị viện có quyềnphê chuẩn hoặc hủy bỏ tất cả các hiệp ước do chính phủ kí kết
Ở Cộng hòa Pháp, Italia và Cộng hòa Liên bang Đức thì nghị viện chỉ cóquyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ một số hiệp ước quan trọng
Ở Cộng hòa Pháp, quy chế nghị viện không cho phép Nghị viện biểu quyếttừng điều khoản của Hiệp ước mà chỉ cho phép biểu quyết phê chuẩn haykhông phê chuẩn toàn văn bản hiệp ước
Ở một số quốc gia, hiến pháp còn quy định những hiệp ước quốc tế liên quanđến các vấn đề chính trị, quốc phòng, tài chính, lãnh thổ quốc gia và nhữnghiệp ước có thể dẫn đến sự thay đổi một đạo luật trong nước thì chính phủphải được sự chấp thuận của nghị viện trước lúc kí kết
Ngoài phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, nghị viện còn có thẩm quyền phêchuẩn hoạt động đối ngoại của chính phủ
1.4.4 Thẩm quyền của nghị viện trong lĩnh vực tư pháp
Ở đa số các nhà nước tư sản nghị viện có quyền luận tội và xét xử tổng thốngcũng như các quan chức cao cấp của bộ máy nhà nước theo thủ tục gọi là đànhạch Ở Anh, Hạ nghị viện luận tội và Thượng nghị viện kết tội
Trang 11Theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, Hạ nghị viện có quyền buộc tội quanchức cao cấp của Nhà nước Khi luận tội Tổng thống và Phó tổng thống Hoa
Kỳ thì điều khiển phiên họp xét xử của Thượng viện là Chánh tòa Pháp việntối cao
Ở một số quốc gia tư sản như Nhật, Pháp, Italia và các quốc gia mà nghị viện
có một viện thì việc khởi tố thuộc thẩm quyền của toàn nghị viện Sau đó, tòa
án đặc biệt sẽ xét xử (Hy Lạp, Pháp, Đan Mạch, Nhật Bản) hoặc do toàn ánhiến pháp hoặc pháp viện tối cao xét xử
1.4.5 Quyền hạn của nghị viện trong lĩnh vực giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp
Nghị viện có quyền chất vấn chính phủ, đòi hỏi Chính phủ phải giải trìnhtrước Nghị viện việc thực hiện các hoạt động đối nội và đối ngoại Tuy nhiên,
ở các quốc gia mà tổng thống có quyền giải tán hạ nghị viện thì việc chất vấncũng chỉ mang tính chất hình thức
Ở một số quốc gia theo thể chế cộng hòa tổng thống, chính phủ không chịutrách nhiệm trước nghị viện mà chỉ chỉ chịu trách nhiệm trước tổng thống nênthông thường nghị viện chỉ chất vấn tổng thống
Theo thể chế cộng hòa nghị viện, nghị viện có thể bỏ phiếu không tín nhiệm,buộc chính ohur phải giải tán
Ở nhiều nước tư sản, để kiểm tra hoạt động của chính phủ, nghị viện thànhlập các ủy ban thường trực hoặc bổ nhiệm một số nhân viên kiểm tra gọi là
“ambudsman”
1.5 Quy chế làm việc của nghị viện và thủ tục làm luật
1.5.1 Các kì họp
Trang 12Các kì họp của nghị viện thông thường được triệu tập từ 1 lần đến 4 lần trong
1 năm (tùy theo quy định của hiến pháp) Hoạt động thường xuyên của nghị sĩbiến họ thành nghị sĩ chuyên nghiệp
Sự hoạt động và địa vị pháp lý của nghị viện một phần nào đó phụ thuộc vàoviệc giải quyết vấn đề nghị viện có đầy đủ toàn quyền trong việc quyết địnhcác kì họp và thời gian các kì họp trong một năm
Có hai quan điểm, hai cách giải quyết vẫn đề này:
Quan điểm thứ nhất dựa trên sự thừa nhận chủ quyền của nghị viện trong việctriệu tập các kì họp và thời gian kéo dài của các kì họp Theo quan điểm này,một số nhà nước ví dụ như Cộng hòa Liên bang Đức, Nghị viện trực tiếpquyết định Một số quốc gia khác cũng do nghị viện quyết định nhưng ghivào hiến pháp hoặc quy chế nghị viện
Quan điểm thứ hai cho rằng cơ quan hành pháp giải quyết vấn đề này, quanđiểm này dựa trên chế độ quân chủ độc quyền đã hình thành từ lâi đời, truyềnthống nhà vua là người khai mạc và bế mạc các phiên họp của nghị viện(Anh, Nhật Bản)
Việc triệu tập các kì họp bất thường được tiến hành theo sáng kiến của chủtịch thượng hoặc hạ nghị viện (Italia, Thổ Nhĩ Kỳ), người đứng đầu nhà nướchoặc chính phủ (Pháp, Bỉ, Nhật), đồng thời có thể theo yêu cầu của một sốlượng nghị sĩ nhất định của thượng viện hoặc hạ viện Ở Nhật Bản và Hy Lạpcon số này là ¼, ở Italia là 1/3, ở Cộng hòa Pháp là trên 50% Con số này chỉcần đủ ở một viện, chủ yếu là ở hạ viện
1.5.2 Thủ tục làm luật
Quá trình làm luật trải qua 4 giai đoạn:
1.5.2.1 Sáng kiến luật
Trang 13Sáng kiến luật thuộc về các nghị sĩ, người đứng đầu nhà nước và chính phủ.
Ở một số quốc gia sáng kiến luật còn thuộc về các ủy ban thường trực củaquốc hội (nghị viện) Ở Italia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ còn có quy định về sángkiến luật của nhân dân Ở Italia nếu một dự án luật có sự ủng hộ củia 50.000
cử tri thì được đưa ra nghị viện xem xét
Hiện nay, sáng kiến luật chủ yếu thuộc về chính phủ Khoảng 90% các dự ánluật trở thành luật của chính phủ hoặc của các nghị sĩ do chính phủ ủy nhiệm
Ở một số quốc gia như Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, sáng kiến luậtcủa nghị sĩ chỉ được đem ra xem xét khi dự án luật đó đã được tập thể cácnghị sĩ ủng hộ
1.5.2.2 Thảo luận luật
Việc thảo luận dự án luật được chia thành các giai đoạn gọi là các lần đọc Lần đọc đầu tiên thể hiện việc bắt đầu xem xét dự án luật bằng việc đọc tên
và gọi các vấn đề cơ bản của dự luật Công việc này thông thường do chủ tịchhai viện tiến hành
Sau khi xem xét ở các ủy ban thường trực, dự án luật được gửi lại các việncủa Nghị viện Đây là giai đoạn thứ 2 Giai đoạn này trước hết bắt đầu bằngviệc đọc nhận xét của ủy ban thường trực và thảo luận ở nghị trường Ở giaiđoạn này, dự án luật cũng có thể bị bác bỏ
Giai đoạn thứ ba là “giai đoạn ngeh các ý kiến chống đối hoặc ủng hộ dự luật
và biểu quyết thông qua.”
1.5.2.3 Thông qua luật
Thông thường các dự luật được biểu quyết với đa số phiếu thuận sẽ trở thànhluật Việc bỏ phiếu tiến hành theo từng viện