Bìa 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOATRUNG TÂM TÊN ĐỀ TÀI CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG CĂN CỨ VÀO NHỮNG YẾU TỐ NÀO ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHINH SÁCH CÔNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG BÀI TẬ.
Trang 1Bìa 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA/TRUNG TÂM………
TÊN ĐỀ TÀI: CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG CĂN CỨ VÀO NHỮNG YẾU TỐ NÀO ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHINH SÁCH CÔNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Hoạch định và phân tích chính sách công
Mã phách:……….(Để trống)
Hà Nội – 2021
Trang 2MỞ ĐẦU
Cho đến ngày nay, đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách công Điểm chung của các cách tiếp cận này là xem xét chính sách công như một trong những nội dung quan trọng của quyền lực công, là một trong những công cụ chủ yếu để thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước Chính sách công là tập hợp những quyết định có liên quan với nhau, do nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện, nhằm giải quyết vấn đề đặt ra theo định hướng chính trị của nhà nước
Hoạch định chính sách là một giai đoạn trong quá trình chính sách công Đây
là bước khởi đầu có tác động lớn đến toàn bộ quá trình chính sách; là tiền đề
để chính sách đi vào cuộc sống và mang lại hiểu quả cao Chính có thể phát huy hiệu quả trong thực tế hay không phụ thuộc rất lớn ở khâu hoạch định Hoạch định chính sách là việc xây dựng một chính sách theo yêu cầu quản lý, đáp ứng nhu cầu, lợi ích của nhân dân Hoạch định chính sách cũng được coi
là quá trình xây dựng một loại quản lý đặc biệt của nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt và lâu dài Vai trò của hoạch định chính sách được thể hiện trong việc mở đường cho cả tiến trình chính sách, làm khởi xướng những vấn đề mà xã hội quan tâm, làm tăng niềm tin của người dân vào nhà nước, thu hút sự tham gia thực hiện mục tiêu chung của các cơ quan chức năng trong hệ thống và kết nối cơ chế quản lý của nhà nước đến các đối tượng Quá trình hoạch định chính sách công có những đặc điểm, yêu cầu, yếu tố ảnh hưởng khác nhau
Trang 3NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG
Theo tiến trình lịch sử thì những quan tâm đầu tiên về chính sách công được xuất hiện cùng với sự ra đời của nền dân chủ Hy Lạp, nhưng khoa học chính sách chỉ mới nổi lên từ giữa thế kỷ XIX, lúc mà khoa học chính trị bắt đầu chuyển trọng tâm nghiên cứu từ triết học chính trị sang nghiên cứu các thể chế, cơ cấu tổ chức nhà nước, thái độ và hành vi ứng xử của các tổ chức và các cá nhân Bối cảnh này làm nảy sinh một số cách tiếp cận mới về khoa học chính sách như: một số cách tiếp cận tập trung vào các hành vi ứng xử ở cấp
vi mô, vào khía cạnh tâm lý của quần chúng, của các cử tri và các nhà lãnh đạo; một số cách tiếp cận lại tập trung vào các bản chất dân tộc và tính toàn cầu…Chính cách tiếp cận mới ấy là cơ sở nền tảng cho sự ra đời của khoa học chính sách
Khái niệm chính sách:
Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định
Khái niệm chính sách công:
Từ khái niệm chung về chính sách, ta có thể đi đến khái niệm về chính sách công như sau:
Chính sách công là những hành động ứng xử cùa Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển
Đặc trưng cơ bản của chính sách công:
Tập trung giải quyết một hay nhiều vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế
- xã hội theo những mục tiêu xác định
Trang 4Chủ thể hoạch định chính sách cũng là chủ thể nắm quyền lực công – đó là nhà nước, và vì vậy chính sách công được đảm bảo thực thi bởi công cụ cưỡng chế hợp pháp
Chính sách công không phải các quyết định nhất thời của nhà nước, mà là chương trình hoạt động được suy tính một cách khoa học, liên quan với nhau một cách chặt chẽ và nhằm những mục đích tương đối cụ thể
Chính sách công tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều đối tượng khác nhau của đời sống xã hội
Vai trò của chính sách công:
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế
-xã hội
Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu chung
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường
Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội
Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành
Sự hình thành, phát triển và kết thúc của một chính sách trải qua các giai đoạn khác nhau được gọi là chu trình chính sách Tùy thuộc vào quan điểm của các nhà nghiên cứu mà người ta phân chia chu trình chính sách thành các giai đoạn khác nhau Ở đây quan điểm luận án phân chia chu trình chính sách thành 3 giai đoạn chính: Hoạch định chính sách (bao gồm các bước: xác lập
Trang 5chương trình nghị sự, xây dựng và quyết định, hợp pháp hóa chính sách), thực thi chính sách và đánh giá chính sách
CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
2.1 Khái niệm của hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách được hiểu là việc xây dựng một chính sách mới theo yêu cầu quản lý Chính sách được hoạch định mới phải hiểu là bao gồm cả mục tiêu mới được chủ thể các định cần phải theo đuổi Như vậy, việc điều chỉnh, bổ sung mục tiêu và biện pháp chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế theo thời gian sẽ không được coi là hoạch định chính sách
Ví dụ: Từ “chính sách phát triển một nền kinh tế đóng” Nhà nước tiến hành hoạch định mới “chính sách phát triển nền kinh tế mở”, đây là hai chính sách
khác nhau
Như vậy, quan niệm đích thực về hoạch định chính sách là: toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách Khi được ban hành chính sách công sẽ có hiệu lực thực thi với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Giá trị pháp lý của một chính sách được thể hiện ở thể thức, nội dung và thẩm quyền ban hành của các cơ quan quản lý nhà nước
2.2 Vị trí của hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách Hoạch định chính sách là điểm khởi đầu trong tiến trình chính sách nhằm cho ra đời được một chính sách có ảnh hưởng tốt đến đời sống kinh tế
-xã hội
Đồng thời, hoạch định chính sách được coi là nguyên đầu vào và cũng là kết quả đầu ra của các quá trình quản lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng
Trang 6Nhận thức như vậy mới thấy được đầy đủ vị trí quan trọng của hoạch định chính sách
2.3 Ý nghĩa hoạch định chính sách
Hoạch định chính ách cũng được coi là một loại quyết định quản lý đặc biệt cho cả một giai đoạn tồn tại phát triển của thực thể nhằm đạt mục tiêu quản
lý Nếu quyết định đó đúng đắn, khoa học sẽ giúp cho thực thể có nhiều thuận lợi trong quá trình vận động đến mục tiêu, còn quyết định đó sai sẽ làm cho thực thể không những mất phương hướng trong quá trình vận động, mà còn gây ra những hậu quả không mong muốn cho mục tiêu quản lý
Một chính sách tốt sẽ có ý nghĩa:
Hoạch định chính sách mở đường cho cả tiến trình chính sách
Hoạch định chính sách khởi xướng được những vấn đề mà xã hội cần phải giải quyết bằng chính sách
Hoạch định chính sách giúp cho việc củng cố niềm tin của dân chúng vào Nhà nước
Hoạch định chính sách sẽ thu hút được các bộ phận chức năng của toàn hệ thống quản lý vào những hoạt động theo định hướng
Hoạch định chính sách sẽ truyền đạt được cơ chế quản lý của Nhà nước đến nền kinh tế trong từng thời kỳ
CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
Khi tiến hành hoạch định chính sách, ngoài việc dựa vào những căn cứ khoa học, các nhà hoạch định còn phải chú ý đến ảnh hưởng của các yếu tố thuộc
về mối quan hệ giữa vị thế của chủ thể và khách thể quản lý để đảm bảo được
Trang 7tính hiệu lực của chính sách Như vậy, ta cần phải lưu ý đến những yếu tố sau:
3.1 Yếu tố quyền lực của chủ thể hoạch định chính sách
Quyền lực được hiểu là khả năng chi phối của một chủ thể đến các khách thể trong mối quan hệ vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định
Trong xã hội dân chủ, quyền lực tối cao thuộc về nhân dân được tập trung trong tay nhà nước để quản lý xã hội theo định hướng Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và được thể hiện trên các mặt chính trị, kinh tế và pháp lý trong quá trình quản lý xã hội
Với địa vị pháp lý của mình, các cơ quan công quyền yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện tốt những chính sách, pháp luật và các quy định khác do Nhà nước ban hành Ngoài việc giáo dục thuyết phục các tầng lớp nhân dân tự giác chấp hành chính sách công, Nhà nước còn có thể sử dụng quyền kinh tế và pháp lý để bắt buộc các đối tượng thi hành Như vậy, chính sách công do Nhà nước ban hành chắc chắn có hiệu lực thực thi cao hơn các chính sách của các tổ chức kinh tế, xã hội khác
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, dùng quyền lực của nhà nước để phục vụ lợi ích của nhân dân Với bản chất đó nên các chính sách do Nhà nước ban hành luôn được mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng thực hiện trên tinh thần tự nguyện, tự giác
3.2 Yếu tố năng lực của chủ thể hoạch định chính sách
Yếu tố năng lực của chủ thể nhà nước trong lập chính sách công còn được thể hiện qua các nguồn lực sử dụng cho công tác lập chính sách Các nguồn lực này bao gồm: nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, các thiết chế của bộ máy
Trang 8quản lý và bộ máy thi hành công vụ Vì vậy, các hạn chế về nguồn lực ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách công phù hợp
Với chức năng quản lý xã hội, Nhà nước phải thường xuyên tác động đến các đối tượng bằng chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô khác Kết quả tác động vào mỗi quá trình sẽ phản ánh năng lực hoạch định, tổ chức, điều hành của hệ thống bộ máy nhà nước Năng lực hoạch định chính sách của Nhà nước được thể hiện trên các mặt như năng lực phân tích và dự báo phát triển kinh tế - xã hội; năng lực phát hiện các vấn đề chính sách, năng lực lựa chọn vấn đề phải giải quyết, năng lực đề xuất mục tiêu và biện pháp giải quyết vấn
đề, năng lực thiết kế một chính sách, năng lực phân tích hoạch định chính sách;…
Nếu nhà hoạch định chính sách thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn hoạch định chính sách sẽ làm cho hiệu lực của chính sách được tăng cường Ngược lại, nếu cán bộ hoạch định chính sách thiếu quan tâm học hỏi tăng cường chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm sẽ đưa ra những chính sách ít tính khả thi, kém hiệu quả, làm giảm sút lòng tin của đối tượng thực thi chính sách
3.3 Yếu tố tiềm lực của Nhà nước
Tiềm lực của chủ thể được hiểu là nguồn lực thực có và tiềm tàng mà chủ thể
sử dụng cho quá trình thực hiện mục tiêu quản lý Tiềm lực của Nhà nước bao gồm sức mạnh về kinh tế, chính trị, xã hội; gồm thiết chế tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ công chức thi hành công vụ; gồm cả quy mô, trình
độ của nền kinh tế, xã hội và cả nguồn tài nguyên đất nước
Nhà nước sử dụng tiềm lực kinh tế vào việc duy trì phát triển các khu vực công, đồng thời hỗ trợ phát triển các khu vực khác một cách chủ động Nếu
có tiềm lực kinh tế, Nhà nước sẽ chủ động hoạch định và thực thi các chính sách phát triển theo ý chí của mình một cách hiệu quả Không chỉ có chủ
Trang 9động với các chính sách đội nội, Nhà nước còn giữ vị thế chính trị, kinh tế của đất nước được đề cao trong chính sách đối ngoại
Với nhà nước, tiềm lực kinh tế hiện chưa mạnh nên nhiều chính sách, nhất là chính sách kinh tế còn thiên về việc sử dụng các biện pháp giáo dục, chính trị
tư tưởng và hành chính nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao như chính sách tiền lương, chính sách lao động – việc làm…Như vậy có thể thấy tiềm lực của chủ thể quản lý có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định ban hành chính sách
3.4 Yếu tố tiềm lực của đối tượng thực thi chính sách
Sự tham gia của các đối tượng thực thi chính sách là yếu tố quyết định đến sự thành, bại của chính sách Nếu có sự tham gia tích cực, tự giác của các đối tượng thực thi chính sách sẽ rút ngắn được thời gian duy trì chính sách, tạo điều kiện cho chính sách mới ra đời để giải quyết những vấn đề trọng đại hơn, toàn diện hơn theo yêu cầu phát triển xã hội Mức độ tham gia của các đối tượng thực thi chính sách còn tùy thuộc vào tiềm lực của họ trong hiện tại và tương lai
Trong quá trình quản lý xã hội, Nhà nước luôn tỏ rõ thái độ của mình với các đối tượng quản lý để có biện pháp tác động thích hợp đến lợi ích của họ Vì lợi ích của mình hay của xã hội mà các đối tượng quản lý tham gia thực hiện chính sách khác nhau Nếu lợi ích của các đối tượng được chính sách tác động thống nhất với lợi ích chung thì chính sách tác động thống nhất với lợi ích chung thì chính sách được thực hiện dễ dàng, thuận lợi hơn Kết quả thực thi chính sách này là do thu hút được sự tham gia tích cực của đối tượng thụ hưởng lợi ích từ chính sách và của đông đảo quần chúng trong xã hội Tuy nhiên, bên cạnh sức mạnh tổng hợp của xã hội tham gia thực hiện chính sách, còn có sức mạnh tổng hợp của xã hội tham gia thực hiện chính sách Sức mạnh của đối tượng chính sách bao gồm: tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội, ngoại giao,…đồng thời còn có cả tính chất, trình độ của chế độ xã hội
Trang 10như thiết chế nền dân chủ, các đối tượng ưu tiên được hưởng những đặc quyền xã hội Nếu đối tượng chính sách có vị thế chính trị, kinh tế xã hội cao thì chính sách cho đối tượng này được quan tâm chú ý nhiều hơn các đối tượng khác
Ở nước ta, các thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể giữ vị trí nòng cốt và
có quy mô lớn nhất, có tiềm lực vượt trội so với đối tượng thuộc các thành phần khác nên chính sách dành cho nó thường xuyên hơn, tập trung hơn và toàn diện hơn kinh tế các thể hay tư nhân Có thể nói đây là những đối tượng
có bề dày phát triển theo định hướng, có tiềm lực mạnh trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Thực hiện quan điểm chỉ đạo này để đảm bảo cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể từng bước làm nền tảng cho nền kinh tế thị trường diễn ra theo định hướng xã hội chủ nghĩa
CHƯƠNG 4: KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG
4.1 Khái niệm của thực thi chính sách công
Chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại Song, muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng là
đề đạt được mục tiêu đề ra của chính sách Như vậy, chúng ta có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực thi chính sách sau đây:
Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng
Trang 114.2 Vị trí của thực thi chính sách
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực thi chính sách là kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một
hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì vậy đây là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội
Chúng ta biết rằng, nếu đưa vào thực thi một chính sách tốt, không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Như vậy, việc thực thi chính sách công có vị trí vô cùng quan trọng
4.3 Ý nghĩa của thực thi chính sách
Nghiên cứu khái niệm và vị trí thực thi chính sách cho thấy hoạt động này có những ý nghĩa to lớn sau đây:
Là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực
Tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách
và mục tiêu chung
Thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách
Qua thực thi giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh
CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG
Phương pháp tổ chức thực thi chính sách được hiểu là những cách thức mà chủ thể sử dụng để tổ chức triển khai thực hiện chính sách Mỗi phương pháp đều có những tính năng, tác dụng nhất định Mỗi hoạt động của quá trình tổ chức thực thi chính sách lại cần đến một phương pháp nhất định Thậm chí cũng hoạt động đó trong các điều kiện không gian và thời gian khác nhau