(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HÀNG RÀO KỸ THUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG
TRONG QUẢN LÝ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN TUẤN HÙNG
HÀNG RÀO KỸ THUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG
TRONG QUẢN LÝ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Hoàng Văn Chức, Học viện Hành chính Quốc gia
2 TS Nguyễn Văn Tài, Tổng cục Môi trường
HÀ NỘI, 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2022
Tác giả luận án
Phan Tuấn Hùng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 16
1.1 Khái niệm cơ bản và các loại hàng rào kỹ thuật môi trường 16
1.1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến hàng rào kỹ thuật môi trường 16
1.1.2 Các loại hàng rào kỹ thuật môi trường 17
1.1.3 Các hiệp định quốc tế về hàng rào kỹ thuật môi trường 22
1.1.4 Vai trò và nguyên tắc của hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý, bảo vệ môi trường 24
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về hàng rào kỹ thuật môi trường 38
1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến hàng rào kỹ thuật môi trường 38
1.2.2 Các nghiên cứu về hàng rào kỹ thuật môi trường liên quan đến phế liệu 44
1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 53
1.3.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu 53
1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 56
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÀNG RÀO KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU Ở VIỆT NAM 58
Trang 52.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về áp dụng hàng rào kỹ thuật trong
nhập khẩu phế liệu 58
2.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 58
2.2.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 62
2.2.3 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 63
2.2.4 Kinh nghiệm áp dụng của Liên minh Châu Âu 65
2.2.5 Kinh nghiệm của Australia và New Zeland 70
2.2.6 Bài học cho Việt Nam về hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu 72
2.2 Hiện trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 74
2.2.1 Thực trạng nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 74
2.2.2 Tác động môi trường từ hoạt động nhập khẩu phế liệu 86
2.2.3 Hệ thống hàng rào kỹ thuật môi trường ở Việt Nam 92
2.2.4 Tình hình áp dụng +môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 102
2.2.5 Ảnh hưởng của hàng rào kỹ thuật môi trường đến nhập khẩu phế liệu 130
2.2.6 Tồn tại và thách thức trong xây dựng và áp dụng hàng rào KTMT trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 140
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 143
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÀNG RÀO KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU Ở VIỆT NAM 145
3.1 Bối cảnh và xu hướng trên thế giới và Việt Nam 145
3.1.1 Bối cảnh, xu hướng áp dụng hàng rào KTMT trong thương mại quốc tế trên thế giới 145
3.1.2 Bối cảnh, xu hướng tại Việt Nam 147
Trang 63.2 Định hướng hoàn thiện hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu
phế liệu ở Việt Nam 150
3.2.1 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế 150
3.2.2 Định hướng hoàn thiện hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 151
3.3 Giải pháp hoàn thiện hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam 154
3.3.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật về nhập khẩu phế liệu 154
3.3.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nguồn lực về quản lý nhập khẩu phế liệu 159
3.3.3 Tuyên truyền nâng cao năng lực cho các bên liên quan 164
3.3.4 Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 168
3.3.5 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế 169
3.4 Khuyến nghị 169
3.4.1 Khuyến nghị đối với Chính phủ 169
3.4.2 Khuyến nghị đối với các Bộ, ngành và địa phương liên quan 170
3.4.3 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp 171
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 171
KẾT LUẬN 173
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 179
Trang 7DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách tổ chức được chỉ định giám định phế liệu nhập khẩu 186
Phụ lục 2: Mẫu phiểu phỏng vấn doanh nghiệp 189
Phụ lục 3: Mẫu phiếu phỏng vấn chuyên gia thương mại 191
Phụ lục 4: Mẫu phiếu phỏng vấn chuyên gia môi trường 193
Phụ lục 5: Danh sách các doanh nghiệp tham gia phỏng vấn 195
Phụ lục 6: Danh sách chuyên gia tham gia phỏng vấn sâu 198
Trang 8CPSIA Consumer Product Safety
Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Cục bảo vệ môi trường
FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
GAP Good Agriculutural Practice Thực hành nông nghiệp tốt
GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GMO Genetically Modified
Organism
Sinh vật biến đổi gen
HACCP Hazard Analysis Critical
Control Point
Hệ phống thân tích mối nguy hiểm và điểm kiểm soát tới hạn
Trang 9ISO International Standard
Organization
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
MMPA Marine Mammal Protection
RCRA Resource Conservation and
TBT Technical Barriers Trade Hàng rào kỹ thuật thương mại
TSCA Toxic Substances Control
Rác của điện tử và thiết bị điện tử
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại quốc tế
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Khung phân tích của Luận án 8
Hình 1.1 Mục tiêu của Hiệp định TBT 23
Hình 1.2 Quan hệ giữa các Hiệp định GATT, TBT và SPS 24
Hình 2.1 Lượng phế liệu nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2014-2020 83
Hình 2.2 Sự dịch chuyển dòng chảy phế liệu giấy, nhựa từ các nước G7 trước
và sau khi Trung Quốc cấm nhập khẩu phế liệu 89
Hình 2.3 Lượng tạp chất từ phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam 90
Trang 11Bảng 2.4: Thống kê số lượng doanh nghiệp đã được cấp Giấy xác nhận theo thẩm
Bảng 2.5: Số liệu nhập khẩu phế liệu của Việt Nam giai đoạn 2014-2020 78 Bảng 2.8: Tổng hợp số liệu phế liệu nhập khẩu tại các cảng đến tháng 9 năm 2018
84 Bảng 2.11: Lượng tạp chất ước tính từ phế liệu nhập khẩu của Việt Nam từ năm
Trang 12Bảng 2.10: So sánh giữa Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và Hiệp định TBT
93 Bảng 2.11: So sánh Thông tư số 43/2010/TT-BTNMT và Thông tư số 08/2018/TT-
Bảng 2.12: Danh sách các tổ chức được chỉ định giám định phế liệu nhập khẩu 186 Bảng 2.13: Tóm tắt một số kết quả phỏng vấn DN nhập khẩu phế liệu 136
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hàng rào kỹ thuật môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại hiện nay đã góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường từ bên ngoài; khuyến khích các quốc gia sản xuất và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường Trong thương mại quốc tế, khi các rào cản thương mại truyền thống (thuế quan) dần được loại bỏ, các hàng rào kỹ thuật môi trường (biện pháp phi thuế quan) hay còn gọi là "hàng rào xanh" đang trở thành một trong những biện pháp quan trọng, hữu hiệu để bảo vệ môi trường; trong nhiều trường hợp là một biện pháp bảo hộ của quốc gia nhập khẩu mà không vi phạm các quy định về thương mại tự do
Hàng rào kỹ thuật môi trường là một trong những biện pháp phi thuế quan thường được các quốc gia, vùng lãnh thổ thực thi thông qua các công cụ pháp lý hoặc các công cụ kinh tế Các công cụ pháp lý được sử dụng như là các biện pháp kiểm soát và bắt buộc, gồm các quy định đặc tính của sản phẩm; các phương pháp sản xuất và chế biến sản phẩm; các tiêu chuẩn, giới hạn về ô nhiễm của sản phẩm; cấm xuất nhập khẩu các mặt hàng độc hại hoặc gây nguy hại cho sức khoẻ; hạn chế xuất nhập khẩu để bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; các yêu cầu về bao bì, đóng gói và nhãn mác của sản phẩm Các công cụ kinh tế gồm các khoản thuế (không phải là thuế đối với hàng hóa nhập khẩu mà thuế đối với hàng hóa tiêu thụ) đánh vào sản phẩm độc hại hoặc gây nguy hại cho sức khỏe; phí đối với sản phẩm phế thải, các biện pháp kiểm soát dựa vào giá cả và trợ cấp môi trường
Trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các khía cạnh môi trường được thể hiện tập trung nhất trong 5 Hiệp định, cụ thể gồm: (1) Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade- GATT); (2) Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại
Trang 14(Technical Barriers to Trade - TBT); (3) Hiệp định về vệ sinh an toàn động thực vật (Sanitary and Phytosanitary Measures -SPS); (4) Hiệp định thương mại về các khía cạnh liên quan của quyền sở hữu trí tuệ (Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights-TRIPs); (5) Hiệp định về các biện pháp trợ cấp và đền bù (Agreement on Subsidies and Countervailing Measures-SCM) Theo các Hiệp định này, các sản phẩm xuất khẩu, nhập khẩu phải tuân thủ các yêu cầu hay hàng rào kỹ thuật môi trường Các Hiệp định này cũng yêu cầu việc áp dụng những quy định, yêu cầu và tiêu chuẩn môi trường không được tạo ra cản trở không cần thiết đối với thương mại quốc tế Hiệp định TBT quy định các quy tắc về xây dựng, chấp nhận và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn
và quy trình đánh giá sự phù hợp đối với các sản phẩm, hàng hoá trong thương mại quốc tế Hiệp định này quy định nghĩa vụ của các thành viên WTO nhằm đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục đánh giá sự phù hợp không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại Tuy nhiên, Hiệp định TBT không ngăn cản các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết
để bảo vệ an toàn của con người, động thực vật và bảo vệ môi trường, chống những hành vi gian lận thương mại, đảm bảo an ninh quốc gia [4]
Trên thế giới, hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế rất
đa dạng, được áp dụng rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, vùng lãnh thổ Theo thống kê, hàng rào kỹ thuật môi trường chiếm khoảng 25% hàng rào kỹ thuật hiện nay Trước đây, các rào cản này chủ yếu được quy định trong các điều ước quốc tế về môi trường Ngày nay, các rào cản
kỹ thuật môi trường được áp dụng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản; thậm chí chúng bị lạm dụng gây khó khăn cho hoạt động thương mại của các nước khác [95] Hiện tại, hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế được thiết lập ngày càng phức tạp, không chỉ kiểm soát đơn thuần về yêu cầu bảo vệ các nguồn tài
Trang 15nguyên thiên nhiên mà còn kiểm soát vấn đề ô nhiễm môi trường trong suốt cả quá trình sản xuất, xuất xứ, vận chuyển, tiêu thụ và thải bỏ hàng hóa nhập khẩu
Việc tham gia các hiệp định thương mại đã góp phần vào phát triển kinh
tế, xã hội, những năm gần đây việc xuất khẩu các mặt hàng đang là trụ cột chính của nền kinh tế [10] Tuy nhiên, xuất khẩu hiện nay của Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào nhóm hàng có nguồn gốc thiên nhiên, giá trị gia tăng thấp trong khi các nước nhập khẩu ngày càng đòi hỏi cao về tiêu chuẩn, quy định môi trường Đẩy mạnh xuất khẩu là định hướng chiến lược quan trọng, Việt Nam đã có các chính sách thương mại để khai thác triệt để các lợi thế của tự do hoá thương mại, góp phần vượt qua các rào cản trong đó có rào cản môi trường để mở đường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một trong số các nước có tỷ lệ nhập khẩu các loại sản phẩm, hàng hóa thuộc loại cao trên thế giới Ngoài việc phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu xã hội thì khả năng tác động xấu đến môi trường của các loại hàng hóa nhập khẩu đang là vấn đề quan ngại mà Việt Nam cần phải quan tâm Một trong các vấn đề môi trường của hàng hóa nhập khẩu được quan tâm hiện nay là vấn
đề bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng số phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất năm 2011 khoảng hơn 2,9 triệu tấn (chủ yếu là phế liệu sắt, nhựa, giấy, xỉ cát, xỉ slay, thạch cao) Năm 2016, lượng phế liệu nhập khẩu của Việt Nam khoảng 3,5 triệu tấn Năm 2017, Việt Nam phải nhập gần 7,9 triệu tấn phế liệu (chủ yếu là sắt, thép - chiếm 67%) Có thể thấy, tổng khối lượng phế liệu nhập khẩu năm 2017 đã tăng gấp 2 lần so với tổng khối lượng phế liệu nhập khẩu trong năm 2016; trong đó, khối lượng sắt, thép, nhựa, giấy
và xỉ hạt nhỏ là những loại phế liệu có khối lượng tăng đột biến, gấp 2 đến 3 lần tổng khối lượng nhập khẩu năm 2016 [44]
Rõ ràng là khi Việt Nam hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng
Trang 16hơn, nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của một số ngành công nghiệp sản xuất cũng ngày càng tăng cao, điều này dẫn đến hệ quả là tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là từ hoạt động nhập khẩu phế liệu sẽ ngày càng gia tăng Việc tham gia Hiệp định đối tác toàn diện
và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA), Cộng đồng ASEAN, các định chế kinh
tế, thương mại toàn cầu và khu vực khác đang đặt ra những thách thức cho Việt Nam về bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Trước bối cảnh Trung Quốc đã ban hành quy định cấm nhập khẩu một số phế liệu từ các quốc gia khác thì Việt Nam và các quốc gia khác có nhu cầu lớn về nguyên liệu cho hoạt động sản xuất sẽ là điểm đến của các loại phế liệu này Bên cạnh lợi ích cho sản xuất do đảm bảo nguyên liệu đầu vào thì việc nhập khẩu phế liệu
sẽ có nguy cơ trở thành bãi thải của các nước phát triển là hiện hữu nếu Việt Nam không có biện pháp hiệu quả, đặc biệt là áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu
Việt Nam đã ban hành hành lang pháp lý khá đầy đủ về bảo vệ môi trường, bao gồm quy định, hàng rào kỹ thuật môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu (trong đó có phế liệu nhập khẩu) Tuy nhiên, hệ thống hàng rào kỹ thuật nói chung và hàng rào kỹ thuật môi trường nói riêng đối với các hàng hoá nhập khẩu còn đơn giản, chưa đầy đủ và thiếu hiệu quả, chưa thể hiện được vai trò tích cực trong bảo vệ môi trường cũng như bảo hộ thương mại trong trường hợp cần thiết Do vậy, tham gia các hoạt động thương mại quốc tế, Việt Nam
đã và đang gặp phải một số vấn đề môi trường đáng quan ngại; một số đối tượng
đã lợi dụng những kẽ hở của luật pháp để đưa chất thải vào Việt Nam Điều này tạo ra áp lực lớn trong quản lý phế liệu nhập khẩu và quản lý môi trường của Việt Nam Nếu hàng rào kỹ thuật môi trường không chặt chẽ và áp dụng không hiệu quả thì Việt Nam sẽ có nguy cơ thành bãi rác dưới hình thức nhập khẩu
Trang 17phế liệu (thực tế Việt Nam đã từng gặp phải vấn đề này vào năm 2018) [8]
Năm 2018, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra chính sách, quy định kịp thời để quản lý chặt chẽ phế liệu nhập khẩu, bao gồm hàng rào kỹ thuật về môi trường Tính đến nay, hàng rào kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu gồm các quy chuẩn kỹ thuật về phế liệu sắt, thép, nhựa, giấy nhập khẩu ban hành kèm theo Thông tư số 08/2018/TT-BTNMT ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường [6] và quy chuẩn kỹ thuật về phế liệu thuỷ tinh, kim loại và hạt
xỉ lò cao được ban hành kèm theo Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường [7]
Tuy nhiên, xét về dài hạn đối với quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu, rất cần có một nghiên cứu một cách hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn trong xây dựng, áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường Mặc dù trong nước và nước ngoài đã có những nghiên cứu về hàng rào kỹ thuật môi trường, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích về hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu, vừa đảm bảo nguồn phế liệu nhập khẩu cho hoạt động sản xuất nhưng không gây ra những tổn hại nghiêm trọng về môi trường Từ thực tế đó, nghiên cứu
sinh (NCS) lựa chọn đề tài “Hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập
khẩu phế liệu ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ chuyên
ngành Quản lý công Đề tài luận án tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam liên quan đến hàng rào kỹ thuật môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu nhằm đề xuất một
số định hướng, giải pháp quản lý nhà nước phù hợp
Trang 182 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia sử dụng hàng rào kỹ thuật
về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu, rút ra bài học cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
- Định hướng và đề xuất giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh áp dụng hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hàng rào kỹ thuật môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu
Trang 192020 và giải pháp, kiến nghị được đề xuất đến năm 2030
- Về không gian: Luận án nghiên cứu trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia và khu vực trên thế giới (Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand)
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên phần tổng quan nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đưa
ra để kiểm định trong luận án này như sau:
Câu hỏi 1: Hàng rào kỹ thuật môi trường là gì và vai trò của hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu như thế nào?
Câu hỏi 2: Các nước đã áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu như thế nào và các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là gì?
Câu hỏi 3: Thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam thời gian qua như thế nào?
Câu hỏi 4: Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu và kiểm định giả thuyết nghiên cứu, nghiên cứu sinh (NCS) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phân tích kinh nghiệp quốc tế, đánh giá thực trạng nhập khẩu phế liệu của Việt Nam cũng như thực hiện khảo sát, tham vấn các bên liên quan để đánh giá các ảnh hưởng của hàng rào kỹ thuật môi trường (quy chuẩn, tiêu chuẩn và đảm bảo tính phù hợp) trong hoạt động nhập khẩu phế liệu Trong phạm vi luận án này,
phế liệu được hiểu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật
Trang 20liệu, sản phẩm loại ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác (Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2020)
Nội dung và tiếp cận nghiên cứu được thể hiện tóm tắt tại Hình 1 Trong
đó nội dung nghiên cứu cơ sở lý luận về hàng rào kỹ thuật môi trường được thực hiện nhằm làm rõ khái niệm, nội hàm, vai trò và các nguyên tắc cơ bản của hàng rào kỹ thuật môi trường (1) Phân tích kinh nghiệm quốc tế nhằm cung cấp các bài học liên quan đến quá trình xây dựng, áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu (2) Hiện trạng và dự báo nhu cầu nhập khẩu cũng như công tác quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam được thực hiện thông qua tổng hợp số liệu, khảo sát và tham vấn các bên liên quan để hiểu
rõ hơn về thực tiễn áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu (3) Kết quả nghiên cứu nội dung (1), (2) và (3) giúp nghiên cứu sinh (NCS) xác định được các định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam (4)
Hình 1 Khung phân tích của Luận án
Nguồn: NCS tổng hợp
Từ các mối quan hệ của khung phân tích này và dựa trên tổng quan nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra để kiểm định thực nghiệm
Trang 21áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam như sau:
- Việt Nam gia tăng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường thì lượng phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam giảm Theo lý thuyết của Kwasi Broni-Sefah [54]
và các báo cáo về TBT của Văn phòng thương mại Hoa Kỳ năm 2013 [83], và năm 2014 [84], thì các quốc gia tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường trong hoạt động thương mại phế liệu để giảm lượng phế liệu nhập khẩu Trên thực tế, các quy định, tiêu chuẩn quốc tế về môi trường chính là các biện pháp chính sách về môi trường do các nước nhập khẩu hàng hóa dựng lên
để bảo vệ môi trường trong nước
Việt Nam gia tăng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường thì ô nhiễm môi trường từ lượng phế liệu nhập khẩu giảm Theo các báo cáo của Cục kiểm soát
ô nhiễm năm 2016 [11] thì việc Việt Nam áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với ô
nhiễm môi trường từ hoạt động này gây ra
- Hàng rào kỹ thuật môi trường tác động đến hoạt động nhập khẩu phế liệu ngành: thép, nhựa, giấy Theo lý thuyết của Nozomu Kawabata [69]; Steel
Business Briefing [79] và HSBC [68] đều cho thấy, hàng rào kỹ thuật môi trường có tác động đến hoạt động nhập khẩu phế liệu của ngành thép, nhựa và giấy Với các quốc gia phát triển thì tác động này là ngược chiều, còn với các quốc gia đang phát triển thì tác động này là cùng chiều do nhu cầu phát triển
- Hàng rào kỹ thuật môi trường tác động đến doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu Theo các báo cáo của Tổng Cục môi trường thì trong các năm 2016,
2017 số lượng doanh nghiệp được cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu gia tăng khi Việt Nam áp dụng hàng rào kỹ thuật [44] Tuy nhiên, chưa
có nghiên cứu về các tác động của hàng rào kỹ thuật môi trường đối với doanh nghiệp nhập khẩu
Trang 225 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Thiết kế nghiên cứu
Tại thời điểm nghiên cứu đề tài luận án này, ở Việt Nam, nghiên cứu trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật môi trường liên quan đến nhập khẩu phế liệu chưa nhiều do vậy nền tảng lý thuyết còn thiếu Để đảm bảo nghiên cứu đảm bảo khách quan, có tính khoa học và khả thi, NCS đã thiết kế nghiên cứu dựa trên yêu cầu về (i) Tiếp cận- thu thập thông tin-số liệu và (ii) Phân tích thông tin, số liệu thu thập được
- Quá trình tiếp cận và thu thập dữ liệu: nghiên cứu sinh thực hiện phỏng
vấn các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu phế liệu, theo các mối quan hệ của cá nhân và công việc Các phỏng vấn được thực hiện với các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất Mẫu phỏng vấn được phân bổ đều trong cả nước Câu hỏi phỏng vấn là các câu hỏi mở, tập trung vào triết lý môi trường của doanh nghiệp, các hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và cuối cùng là các kẽ hở của các văn bản pháp luật trong quản
lý nhập khẩu phế liệu và đề xuất của doanh nghiệp trong quản lý nhập khẩu phế liệu (Bảng 1)
Bảng 1: Bảng tóm tắt phương pháp phỏng vấn
Giới thiệu về nghiên cứu
- Hàng rào kỹ thuật môi trường là tất yếu trong quản lý môi
trường trong tiến trình hội nhập
- Hàng rào kỹ thuật môi trường là mối quan tâm của các
doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu
- Hàng rào kỹ thuật môi trường có tác động tới hoạt động
nhập khẩu phế liệu của doanh nghiệp
Trang 23Mục tiêu của nghiên cứu
- Xem xét tác động của hàng rào kỹ thuật môi trường đến
doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu
- Rà soát, nhận diện kẽ hở của các văn bản pháp lý về hàng
rào kỹ thuật môi trường (Quy chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
và sự phù hợp) trong quản lý phế liệu nhập khẩu để từ đó
tổng hợp đề xuất của doanh nghiệp
Cơ sở lý luận của nghiên cứu
- Việc tuân thủ các hiệp định thương mại là trách nhiệm của
mỗi doanh nghiệp khi tham gia thị trường
- Doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu chịu ảnh hưởng của các
hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế
Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đối chiếu
với kết quả nghiên cứu định lượng và thu thập thêm thông
tin
- Thực hiện phỏng vấn các doanh nghiệp có hoạt động nhập
khẩu phế liệu
- Câu hỏi phỏng vấn là các câu hỏi mở, tập trung vào triết
lý, sự thụ hưởng và kẽ hở của văn bản pháp luật trong quản
lý nhập khẩu phế liệu, cũng như đề xuất của doanh nghiệp
để hoàn thiện chính sách
Mặc dù mẫu nghiên cứu tương đối nhỏ có làm hạn chế mức độ tổng quát hóa của kết quả nghiên cứu, song tính sâu sắc và đầy
đủ của dữ liệu cho phép đưa ra những phát hiện mới, cơ sở để đối chiếu với kết quả định lượng
Nguồn: NCS tổng hợp
- Phân tích dữ liệu: nghiên cứu sinh áp dụng quy trình phân tích dữ liệu
theo tình huống so sánh [59] và một số ứng dụng của khung lý thuyết [62] Trong quá trình thu thập dữ liệu, NCS thường xuyên so sánh với lý thuyết và kết quả thực nghiệm Phân tích tổng hợp được thực hiện khi tất cả các công việc thu thập dữ liệu đã hoàn thành
5.2 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án được hình thành trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 24về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đổi mới và lý thuyết về tự do hóa thương mại quốc tế
5.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp sưu tầm tài liệu, số liệu thứ cấp: sưu tầm các nghiên cứu
liên quan, số liệu từ: Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Công Thương; Bộ NN&PTNT; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) và Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan),… để tổng hợp, phân tích thông tin và số liệu thực trạng nhập khẩu phế liệu của Việt Nam; các văn bản pháp lý và tài liệu kỹ thuật; đánh giá việc áp dụng hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: thống kê, tổng hợp thông tin từ các
tài liệu, báo cáo, văn bản có liên quan trong nước và quốc tế để có cái nhìn tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu Trong đó số liệu từ Tổng cục Môi trường; Tổng cục Thống kê; Tổng cục Hải quan,…
- Phương pháp phân tích, đánh giá chính sách: được dùng để phân tích
nội dung của các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động nhập khẩu phế liệu
ở Việt Nam; bối cảnh xây dựng các quy định của các nước và Việt Nam cũng như tác động chính sách khi ban hành đối với các bên liên quan
- Phương pháp so sánh, kế thừa: được sử dụng để so sánh các quy định,
phương pháp áp dụng các rào cản cụ thể trên thế giới và Việt Nam, đưa ra nhận xét về tính phù hợp cũng như đề xuất hoàn thiện các quy định, hệ thống pháp luật liên quan của Việt Nam
- Phương pháp khảo sát, tham vấn: chủ thể thực thi hàng rào kỹ thuật
môi trường trong quản lý phế liệu nhập khẩu là doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị phế liệu Chính vì vậy, trong luận án này, NCS tiến hành phỏng vấn các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu, những
Trang 25doanh nghiệp thực hiện, thụ hưởng trực tiếp hàng rào này để từ đó nắm bắt được các vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường
và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam Hơn bất kỳ ai, những doanh nghiệp thực hiện các hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý phế liệu mới phản ánh được mặt hạn chế và mặt thành công của các hàng rào này
Trong khuôn khổ luận án này, nghiên cứu sinh đã tiến hành phỏng vấn một số doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu phế liệu Các doanh nghiệp được chọn là ngẫu nhiên và phân bổ đều trên phạm vi cả nước, tập trung tại ba thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng- là những địa phương có hoạt động sản xuất phát triển [xem chi tiết tại Phụ lục 5: Danh sách các doanh nghiệp tham gia phỏng vấn] Rà soát tài liệu cho thấy các nghiên cứu về áp dụng hàng rào
kỹ thuật môi trường trong quản lý nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam cũng như trên thế giới còn khá ít, nên nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp phỏng vấn
để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn góp phận luận giải thêm các giả thiết nghiên cứu của luận án
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án này nghiên cứu việc áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu của Việt Nam Bên cạnh những kế thừa, luận án đã khắc phục được một số hạn chế của các nghiên cứu
đi trước, cụ thể như sau:
Về mặt lý luận:
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu về áp dụng hàng rào kỹ thuật về môi trường nói chung, đặc biệt trong nhập khẩu phế liệu, nhận diện các mặt đạt được và các hạn chế hoặc khoảng trống nghiên cứu liên quan Trên
cơ sở đó, luận án đã tổng quan cơ sở lý luận và cơ sở khoa học thực tiễn về áp dụng hàng rào kỹ thuật về môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế
Trang 26liệu, góp phần bổ sung, làm rõ các vấn đề lý luận đang còn thiếu hụt trong các nghiên cứu liên quan
Về mặt thực tiễn:
Luận án đã (i) phân tích kinh nghiệm áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý phế liệu nhập khẩu của một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam; (ii) tổng quan thực trạng nhập khẩu phế liệu và thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam, chỉ ra các kết quả đạt được cũng như hạn chế và nguyên nhân, từ đó cung cấp các cơ sở thực tiễn nhằm (iii) đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu và phế liệu nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới
7 Đóng góp mới của luận án
Luận án đã xây dựng được khung lý thuyết, áp dụng khung phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam Ngoài ra, các bằng chứng thực nghiệm khẳng định hàng rào kỹ thuật về môi trường có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam cũng được đề cập trong luận án Theo đó, hệ thống hàng rào kỹ thuật môi trường gia tăng và lượng phế liệu, ví dụ như sắt, thép ở Việt Nam đều gia tăng Điều này đúng với quy luật kinh tế trong khi đó các loại phế liệu khác như nhựa khối lượng nhập khẩu giảm dần Luận án cũng chỉ ra hàng rào kỹ thuật môi trường không làm giảm tình trạng ô nhiễm môi trường từ lượng tạp chất của phế liệu nhập khẩu ở Việt Nam
mà chủ yếu hạn chế nhập khẩu phế liệu là phế thải, không có khả năng sử dụng
Luận án cho thấy trong cùng hệ thống hàng rào kỹ thuật về môi trường trong thương mại quốc tế, tốc độ gia tăng phế liệu sắt, thép nhập khẩu nhiều nhất so với các loại phế liệu khác Điều này liên quan đến nhu cầu của nền kinh
tế và khả năng cũng như hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật Đối với doanh
Trang 27nghiệp thực thi hàng rào kỹ thuật môi trường, kết quả nghiên cứu cho thấy hàng rào kỹ thuật môi trường ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu Kết quả phỏng vấn các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu đều nhận thấy hệ thống hàng rào kỹ thuật môi trường ngày càng chặt chẽ hơn, thủ tục pháp lý nghiêm ngặt hơn Doanh nghiệp được phỏng vấn đều mong muốn
có hệ thống phân loại phế liệu minh bạch và rõ ràng hơn, đảm bảo tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu đều phải tuân thủ
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hiện trạng tại áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu
ở Việt Nam, Luận án đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về hoạt động nhập khẩu phế liệu trong thời gian tới
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể:
Chương 1 Tổng quan về hàng rào kỹ thuật môi trường và các nghiên cứu liên quan
Chương 2 Kinh nghệm quốc tế và thực trạng áp dụng hàng rào kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
Chương 3 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hàng rào
kỹ thuật môi trường trong quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm cơ bản và các loại hàng rào kỹ thuật môi trường
1.1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến hàng rào kỹ thuật môi trường
Đề cập rào cản môi trường trong thương mại, giới học giả trên thế giới thường nhắc đến khái niệm “hàng rào xanh” Hiện nay, chưa có một khái niệm
rõ ràng, được thừa nhận rộng rãi về “hàng rào xanh” Trong một số ngữ cảnh, khái niệm “các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại” TREMS (Trade- Related Environment Measures) được sử dụng Hội đồng kinh tế của
APEC năm 1998 định nghĩa TREMS như sau: “các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại” có phạm vi rất rộng Chúng gồm các biện pháp môi trường tác động đáng kể đến hoạt động thương mại, gồm các luật, quy định và biện pháp hành chính cũng như các thỏa thuận được tạo ra và ký kết” [51]
Theo một số tài liệu, “hàng rào xanh” được định nghĩa là “tất cả biện pháp liên quan đến thương mại gồm tất cả các hạn chế được ban hành bởi một nước hoặc một nhóm nước tác động lên hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác dựa trên các mối quan ngại về môi trường” [55]
“Hàng rào xanh” trong thương mại quốc tế gồm hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan Hàng rào kỹ thuật là dạng thức chính của hàng rào phi thuế quan “Hàng rào xanh” được “dựng lên” không ngoài mục đích bảo vệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp “hàng rào xanh” được sử dụng để hạn chế xuất khẩu từ các nước đang phát triển có trình
độ kỹ thuật thấp hơn [16]
Như vậy, các biện pháp gắn liền việc sử dụng yếu tố kỹ thuật của sản
phẩm và quá trình sản xuất ra sản phẩm là một hợp phần chủ yếu của các “rào cản xanh” Các biện pháp này được gọi chung là “hàng rào kỹ thuật môi
Trang 29trường” Theo đó, trong phạm vi luận án này hàng rào kỹ thuật môi trường được hiểu:“hàng rào kỹ thuật môi trường là một bộ phận hợp thành chủ yếu của “hàng rào xanh”, theo đó các quốc gia khai thác khía cạnh kỹ thuật của hàng hóa, dịch vụ cũng như quy trình sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ để đưa ra các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cùng với một số biện pháp khác nhằm mục đích bảo vệ môi trường”
1.1.2 Các loại hàng rào kỹ thuật môi trường
Hiệp định TBT phân biệt 3 loại biện pháp: quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn
và thủ tục đánh giá tính phù hợp Các biện pháp này được định nghĩa cụ thể tại Phụ lục I của Hiệp định TBT Tương tự, theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
kỹ thuật [31] thì hàng rào kỹ thuật môi trường (như các hàng rào kỹ thuật khác)
có 03 loại, gồm: Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Tiêu chuẩn môi trường và Quy trình đánh giá sự phù hợp
1.1.2.1 Quy định kỹ thuật (quy chuẩn kỹ thuật)
Các quy định kỹ thuật (quy chuẩn kỹ thuật) là tập hợp các yêu cầu bắt buộc phải được tuân thủ Các quy định kỹ thuật có thể được thể hiện bằng các hình thức rất đa dạng Một số quy định kỹ thuật có thể rất cụ thể như yêu cầu
về lượng chì tối đa trong sơn bề mặt đồ chơi hoặc cấm sử dụng một số phụ gia trong các sản phẩm thuốc lá Một số quy định kỹ thuật có thể chung hơn, chẳng hạn như các tiêu chí ghi nhãn đối với hàng nông sản hữu cơ hoặc yêu cầu về khí thải đối với động cơ diesel Điểm chung của các biện pháp này là chỉ cho phép các hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong quy định kỹ thuật mới được lưu hành trên thị trường Để xác định một quy định kỹ thuật, án lệ của WTO cho đến nay
áp dụng 3 tiêu chí: 1- Phải là sản phẩm xác định; 2- Nêu rõ đặc tính sản phẩm
và 3- Bắt buộc phải tuân thủ (Bảng 1.1)
Trang 30Bảng 1.1: Tiêu chí và các đặc điểm của quy định kỹ thuật
1 Phải là sản phẩm xác định Một quy định kỹ thuật phải được áp dụng cho một sản
phẩm hay một nhóm sản phẩm xác định, kể cả khi sản phẩm không được nêu rõ trong tài liệu
2 Nêu rõ đặc tính sản phẩm Quy định kỹ thuật phải nêu rõ một hoặc nhiều đặc tính
của sản phẩm Các đặc tính này có thể là đặc tính bên trong của sản phẩm, hay chỉ đơn giản liên quan tới sản phẩm, và có thể được xây dựng và áp dụng dưới hình thức cho phép hoặc cấm
3 Bắt buộc phải tuân thủ Quy định kỹ thuật bắt buộc phải được tuân thủ
Nguồn: NCS tổng hợp từ Hiệp định TBT [14]
Các quy định kỹ thuật quy định đặc tính cụ thể của một sản phẩm, như kích cỡ, hình dáng, thiết kế, chức năng và hiệu suất của sản phẩm hoặc cách thức dán nhãn hay đóng gói trước khi đưa ra thị trường Một số trường hợp, cách thức sản xuất một sản phẩm có thể ảnh hưởng tới đặc tính của sản phẩm,
và do đó nên xây dựng các quy định kỹ thuật điều chỉnh quy trình và phương pháp sản xuất hơn là bản thân đặc tính của sản phẩm
Bảng 1.2: Các loại hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế
TT Loại hàng rào
kỹ thuật
Nội dung phân biệt
Định nghĩa Trách nhiệm Mức độ cam kết
1 Quy chuẩn kỹ
thuật
Đặc tính hoặc quy trình và phương pháp sản xuất của
sản phẩm
Được chính
phủ thông qua
Bắt buộc phải tuân thủ
2 Tiêu chuẩn kỹ
thuật
Các hướng dẫn hoặc đặc tính hoặc quy trình và phương
Được thông qua bởi một tổ
Không bắt buộc
phải tuân thủ
Trang 31thủ không
Được chính phủ thông qua
Bắt buộc phải
tuân thủ
Nguồn: NCS tổng hợp từ Hiệp định TBT [14] 1.1.2.2 Tiêu chuẩn kỹ thuật
Tiêu chuẩn kỹ thuật có thể do các tổ chức khác nhau thuộc nhà nước hoặc tư nhân xây dựng; khác với quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật không
có tính ràng buộc Tuy nhiên, tiêu chuẩn kỹ thuật thường được sử dụng làm cơ
sở để xây dựng các quy định kỹ thuật cũng như thủ tục đánh giá tính phù hợp Trường hợp này, các yêu cầu trong tiêu chuẩn kỹ thuật trở nên ràng buộc nhờ
sự can thiệp của Chính phủ (thông qua quy định kỹ thuật hoặc thủ tục đánh giá tính phù hợp)
Các tiêu chuẩn kỹ thuật được đề cập trong Hiệp định TBT tại “Bộ quy tắc về Thực hành Tốt điều chỉnh việc xây dựng, thông qua và áp dụng các Tiêu chuẩn” (Bộ quy tắc) nằm trong Phụ lục 3 Bộ quy tắc này cho phép các tổ chức
tiêu chuẩn hóa chấp thuận, cung cấp hướng dẫn về quy trình xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật Theo đó, quá trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật phải minh bạch
và các cơ quan tiêu chuẩn hóa phải tiếp thu các ý kiến góp ý, tránh trùng lặp Hiệp định TBT hướng dẫn các thành viên và đảm bảo các cơ quan tiêu chuẩn hóa của Chính phủ sẽ chấp nhận và tuân thủ Bộ quy tắc (Điều 4) Hiện nay, 164
cơ quan tiêu chuẩn hóa khác nhau đã thông báo chấp thuận, trong đó cơ quan lớn nhất là Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO)
Trang 32ISO là một tổ chức quốc tế độc lập, phi chính phủ, có hơn 162 thành viên
là các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc gia Thông qua các thành viên, ISO tập hợp các chuyên gia nhằm chia sẻ kiến thức và xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến thị trường, dựa trên sự tự nguyện, đồng thuận, hỗ trợ quá trình cải tiến
và cung cấp giải pháp cho những thách thức toàn cầu Đến nay, ISO đã công
bố hơn 21600 tiêu chuẩn quốc tế và các tài liệu liên quan, gồm hầu hết các ngành công nghiệp, từ công nghệ đến an toàn thực phẩm, nông nghiệp, y tế…
Đối với nhiều tổ chức tiêu chuẩn hóa tư nhân, Hiệp định TBT yêu cầu các chính phủ áp dụng các biện pháp hợp lý trong khả năng để đảm bảo rằng các tổ chức tiêu chuẩn hóa chính phủ và phi chính phủ ở cấp địa phương trong phạm vi lãnh thổ của mình chấp nhận và tuân thủ Bộ quy tắc (Điều 4.1) Như vậy, Hiệp định TBT quy định trách nhiệm của chính phủ ở một mức độ nhất định phải đảm bảo rằng các cơ quan, tổ chức không thuộc chính phủ bên trong lãnh thổ phải tuân thủ các quy tắc trong Bộ quy tắc vốn phản ánh phần lớn các nguyên tắc của Hiệp định TBT
Các tiêu chuẩn có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau: mục đích, nhóm người sử dụng và phương thức điều chỉnh (xem Bảng 1.3)
Bảng 1.3: Phân loại các tiêu chuẩn kỹ thuật
Theo mục đích Theo nhóm người sử
dụng
Theo phương thức điều chỉnh
- Tiêu chuẩn về thuật ngữ
- Tiêu chuẩn về thử nghiệm
và đo đạc
- Tiêu chuẩn về sản phẩm
- Tiêu chuẩn về quy trình
- Tiêu chuẩn về dịch vụ
- Tiêu chuẩn về giao diện
- Tiêu chuẩn về dữ liệu
- Tiêu chuẩn tư
- Tiêu chuẩn quốc tế
- Tiêu chuẩn được hài hòa
- Tiêu chuẩn công nghiệp
Trang 33Nguồn: NCS tổng hợp từ Hiệp định TBT [14] 1.1.2.3 Quy trình đánh giá tính phù hợp
Quy trình đánh giá tính phù hợp được sử dụng để xác định liệu hàng hóa như đồ điện tử, thực phẩm và đồ uống… có đáp ứng yêu cầu mà quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra hay không Các quy trình này giúp người tiêu dùng tin tưởng vào chất lượng của hàng hóa và góp phần vào việc tiếp thị hàng hóa Quy trình đánh giá tính phù hợp điển hình gồm các thủ tục thử nghiệm, giám định và chứng nhận Mục đích nhằm đảm bảo hàng hóa đáp ứng được yêu cầu của các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật Nếu các thủ tục này không minh bạch hoặc có sự phân biệt đối xử, chúng có thể bị coi là vi phạm và mang tính bảo hộ (xem Bảng 1.4)
đề ra trong các quy chuẩn
và tiêu chuẩn kỹ thuật
Trang 341.1.3 Các hiệp định quốc tế về hàng rào kỹ thuật môi trường
1.1.3.1 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
Hiệp định TBT (Technical Barriers to Trade-TBT) có hiệu lực ngày 01/01/1995, một bộ phận của Hiệp định thành lập WTO, có giá trị ràng buộc đối với tất cả các thành viên của WTO Việt Nam trở thành thành viên của WTO vào ngày 11/1/2007 và phải tuân thủ các cam kết trong Hiệp định TBT Hiệp định TBT ghi nhận nhiều nguyên tắc cơ bản giống các Hiệp định khác của WTO, bao gồm: không phân biệt đối xử, khuyến khích minh bạch về tiếp cận thị trường, hỗ trợ kỹ thuật và đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, Hiệp định TBT cũng có những yêu cầu riêng về việc xây dựng, áp dụng các quy định kĩ thuật có tác động tới thương mại Các quy định này khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế và nhấn mạnh việc tránh tạo ra những rào cản không cần thiết cho thương mại
Hiệp định TBT hướng tới giảm thiểu các biện pháp phi thuế quan vốn đặt ra cho WTO một số thách thức Một mặt, chính phủ dựa vào các biện pháp phi thuế quan để đạt được những mục tiêu chính sách công như bảo vệ môi trường Mặt khác, các biện pháp phi thuế quan có thể được sử dụng để bảo hộ cho nhà sản xuất nội địa trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, hoặc các biện pháp này có thể gây hạn chế thương mại không cần thiết Hiệp định TBT đề ra các tiêu chí để phân biệt giữa các mục tiêu chính đáng và mục tiêu bảo hộ của các rào cản kỹ thuật Hiệp định nhằm cân bằng giữa các mục tiêu chính đáng trong chính sách quốc gia với nghĩa vụ tôn trọng các quy tắc thương mại đa phương căn bản trong WTO, trong đó có nghĩa vụ không tạo ra những trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế (xem Hình 1.1)
Thương mại quốc tế
Quy tắc: Loại bỏ các rào cản CÂN BẰNG→
Bảo vệ môi trường
Ngoại lệ: cần thiết để đạt được
Trang 35kỹ thuật không cần thiết những mục tiêu chính đáng
Hình 1.1 Mục tiêu của Hiệp định TBT
Nguồn: NCS tổng hợp 1.1.3.2 Hiệp định về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật
Phạm vi áp dụng của Hiệp định TBT phải được xem xét đồng thời với Hiệp định SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures) Mục tiêu mà một nước thành viên WTO theo đuổi với Hiệp định TBT không bị giới hạn như các mục tiêu của Hiệp định SPS Các biện pháp TBT có thể được sử dụng vì mục đích
an ninh quốc gia, ngăn ngừa các hành vi gian lận, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe hoặc sự an toàn của người dân, hoặc cuộc sống, sức khỏe của động, thực vật Ngược lại, Hiệp định SPS chỉ quan tâm tới các nguy cơ cụ thể, rõ ràng đối với sức khỏe hoặc đời sống con người, động thực vật hoặc bảo vệ khỏi sự lan truyền sâu bọ Hiệp định TBT loại các biện pháp SPS khỏi phạm vi điều chỉnh của mình (Điều 1.5); điều này có nghĩa là biện pháp TBT không thể là một biện pháp SPS và ngược lại
Trong thực tế, sự phân biệt này cũng chỉ mang tính ước lệ Các chính phủ thường xây dựng, áp dụng các quy định rất rộng gồm cả các yêu cầu thuộc
sự điều chỉnh của Hiệp định TBT và các yêu cầu thuộc sự điều chỉnh của Hiệp định SPS Một quy định về thực phẩm cũng có thể bao gồm các yêu cầu về xử
lý hoa quả nhằm ngăn ngừa sự lây lan của sâu bệnh (phạm vi của Hiệp định SPS) và các yêu cầu khác liên quan tới chất lượng, phân loại và ghi nhãn hoa quả đó (phạm vi của Hiệp định TBT)
Tuy nhiên, khi cần phải chứng minh một biện pháp có phù hợp hay không, vẫn cần phải phân biệt rõ Hiệp định SPS và Hiệp định TBT Như vậy,
để xác định một biện pháp có thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SPS hay Hiệp định TBT, cần xem xét mục tiêu của biện pháp đó, chứ không phải nhìn
Trang 36vào hàng hóa hay chủng loại hàng hóa có liên quan Nếu mục tiêu của bất cứ biện pháp nào không được liệt kê tại Phụ lục A của Hiệp định SPS, biện pháp
đó có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TBT
1.1.3.3 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
Hiệp định GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) được áp dụng nếu biện pháp có liên quan tới thương mại hàng hóa [13] Hiệp định
GATT có phạm vi điều chỉnh rộng, có thể được coi là Luật chung (lex generalis), còn Hiệp định TBT và Hiệp định SPS là Luật riêng (lex specialis)
Thứ nhất, hàng rào kỹ thuật môi trường có mục đích bảo vệ sức khỏe con
người, sức khỏe động vật, thực vật và bảo vệ môi trường sống
GATT
Trang 37Thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và mang tính toàn cầu, làm cho tính cạnh tranh giữa các quốc gia và nền kinh tế ngày càng tăng nên việc mở rộng quy mô sản xuất là điều tất yếu Do đặc tính của hoạt động sản xuất là sử dụng lao động, tài nguyên và công nghệ đầu vào để tạo ra sản phẩm nên mở rộng quy mô sản xuất đồng nghĩa với việc gia tăng đầu vào Trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, do tốc độ phát triển công nghệ không theo kịp tốc độ mở rộng quy mô sản xuất nên việc gia tăng sử dụng tài nguyên là điều hiển nhiên Bên cạnh đó, chất thải từ hoạt động sản xuất nếu không quản
lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường Thương mại có tác động lớn đến môi trường, thương mại quốc tế càng phát triển thì áp lực của nó lên môi trường càng lớn, đồng nghĩa với việc môi trường phải chịu nhiều tác động, tiếp nhận chất thải nhiều hơn trên một đơn vị thành phần môi trường (đất, nước, không khí, )
Phát triển kinh tế - xã hội khiến con người có chất lượng cuộc sống cao hơn, nhu cầu cuộc sống ngày càng cao Con người mong muốn có tuổi thọ dài hơn, cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Không chỉ vậy, do ý thức ngày càng cao, con người còn đòi hỏi một sự phát triển bền vững: môi trường cần được bảo vệ giá trị của nó cho những thế hệ sau, không chỉ vì lợi ích trước mắt mà có những tác động không tốt tới môi trường, làm giảm đi những lợi ích mà các thế hệ tương lai có thể được hưởng Lời mở đầu Hiệp định TBT [14] thừa nhận rằng, không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường
Phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào là một trong những tác nhân ảnh hưởng đến môi trường do lượng tạp chất lẫn trong đó Phế liệu nhập khẩu thường có những loại tạp chất không mong muốn được hình thành quá trình sử dụng, vận chuyển hoặc lưu trữ Trong quá trình tái chế, tạp chất này có thể đi trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường, gây biến đổi thành phần tự nhiên của môi trường, từ đó ảnh hưởng đến con người hoặc động vật và thực vật Nếu
Trang 38không có những hạn mức nhất định, thông số tiêu chuẩn về hàm lượng cho phép của những tạp chất này, việc nhập khẩu phế liệu có thể trở thành một trong những nguyên nhân gây nên ô nhiễm môi trường
Chính vì vậy, quy chuẩn kỹ thuật môi trường được đặt ra nhằm hạn chế một lượng chất thải lẫn trong phế liệu làm nguyên liệu đầu vào; đảm bảo sức khỏe con người, động vật, thực vật và môi trường sống ở quốc gia nhập khẩu
Thứ hai, hàng rào kỹ thuật môi trường định hướng sản xuất trong nước
Theo nghiên cứu của Phan Công Hợp (2011), tỷ lệ thu gom giấy đã qua
sử dụng (giấy báo, tạp chí cũ, giấy in, ) ở Việt Nam còn rất thấp, trong khi tỷ
lệ này ở các nước trong khu vực cao hơn nhiều, dao động từ 60% - 80% [28] Điều này chứng tỏ một lượng lớn giấy đã qua sử dụng không được thu gom mà
ở trong môi trường, gây ra sự lãng phí Lượng giấy này đối với sản xuất trong nước là một phần nguyên liệu đầu vào lớn, quan trọng nhằm cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất giấy hiện đang phải nhập khẩu giấy phế liệu từ các nước khác để đảm bảo nguyên liệu đầu vào
Vì vậy, quy chuẩn kỹ thuật môi trường đặt sẽ giúp hình thành các định hướng cho nền sản xuất trong nước Trong đó cần phát triển và đẩy mạnh thu gom phế liệu phục vụ cho ngành công nghiệp tái chế, nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu sản xuất đầu vào, hạn chế việc nhập khẩu phế liệu từ các nước khác trên thế giới Nếu làm tốt, ngành công nghiệp tái chế có thể trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của nước ta, không những giúp giải quyết vấn đề nguyên liệu đầu vào trong nước mà còn có thể xuất khẩu, thu về ngoại tệ
Thứ ba, hàng rào kỹ thuật môi trường ngăn cản làn sóng rác thải vào Việt
Nam theo đường nhập khẩu
Một thực tế đang tồn tại là một số bên lợi dụng những khe hở trong chính sách, quy chuẩn của các quốc gia đang phát triển để đẩy lượng phế thải sang
Trang 39những quốc gia này, biến những quốc gia này thành “bãi rác công nghiệp” của thế giới Nếu không có quy định chặt chẽ hơn, yêu cầu khắt khe hơn trong việc nhập khẩu phế liệu thì việc một quốc gia trở thành nơi chứa phế thải của thế giới là điều hoàn toàn có thể xảy ra
Do nhu cầu nguyên liệu đầu vào, nước ta nhập khẩu một khối lượng lớn phế liệu từ các quốc gia khác trên thế giới đề đảm bảo hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong nước Tuy nhiên, việc nhập khẩu phế liệu cũng đặt ra một thách thức vô cùng lớn lao: nếu không có quy chuẩn hợp lý, công tác kiểm tra chặt chẽ, một khối lượng lớn những chất thải không thể tái chế có trong phế liệu sẽ được nhập khẩu vào nước ta
Việc nhập khẩu phế liệu không thể tái chế hoặc giá trị tái chế thấp không những gây nên thiệt hại lớn về kinh tế do chi phí nhập khẩu bỏ ra, không đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất mà còn gây nên một tác hại lớn hơn là chi phí xử lý môi trường và nguy cơ trở thành bãi rác của thế giới
Vì vậy, quy chuẩn kỹ thuật môi trường được ban hành nhằm hạn chế lượng chất thải không thể tái chế hoặc giá trị tái chế thấp được nhập khẩu vào nước ta, giúp tránh được nguy cơ trở thành “bãi rác” của thế giới
Thứ tư, hàng rào kỹ thuật môi trường giúp đảm bảo cân bằng cán cân
thanh toán
Việc nhập khẩu khối lượng lớn phế liệu có thể khiến nước ta trở thành nước nhập siêu, cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt, đồng tiền Việt Nam đồng
bị mất giá so với ngoại tệ khác Đối với chế độ tỷ giá hối đoái cố định của nước
ta, để đảm bảo giá trị của đồng tiền, nhà nước sẽ phải bán ngoại tệ để thu vào nội tệ, nhằm tăng giá trị của đồng nội tệ Nếu tình trạng này kéo dài có thể khiến cho dự trữ ngoại tệ của ngân hàng nhà nước giảm, đe dọa đến an ninh tài chính
Trang 40quốc gia, trong khi đó, nếu có các rào cản kỹ thuật có thể giảm được lượng phế liệu nhập khẩu ô nhiễm cũng như hạn chế được nguồn ngoại tệ phải thanh toán
1.1.4.2 Nguyên tắc cơ bản của hàng rào kỹ thuật môi trường trong nhập khẩu phế liệu
a) Không phân biệt đối xử
Các chính phủ ban hành quy định vì nhiều lý do như bảo vệ sức khỏe và
sự an toàn của người dân, bảo vệ môi trường hoặc cung cấp cho người tiêu dùng các thông tin khác nhau về sản phẩm Một nước có thể yêu cầu phải dán nhãn thông tin về tiêu thụ năng lượng đối với hàng gia dụng, hay cấm bán đồ chơi
có chứa chất độc hại Các quy định này không tránh khỏi tác động tới thương mại quốc tế Điều quan trọng ở đây là không được áp dụng một cách tùy tiện các quy định này và đảm bảo rằng các hàng rào kỹ thuật môi trường không nhằm để bảo hộ nhà sản xuất trong nước Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản này
là công cụ thiết yếu để đảm bảo các quốc gia vừa có thể đạt được những mục tiêu chính sách công, vừa được hưởng lợi từ thương mại tự do
Theo Hiệp định TBT, các chính phủ phải đảm bảo rằng các biện pháp TBT không phân biệt đối xử với hàng hóa nước ngoài để bảo hộ cho nhà sản xuất trong nước Hiệp định cũng cấm phân biệt đối xử giữa hàng hóa của các nước khác nhau Các nước thành viên không được phép đối xử thuận lợi với hàng hóa nước này hơn nước kia Hàng hóa nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ thành viên nào đều phải được hưởng sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối
xử dành cho hàng hóa tương tự có nguồn gốc trong nước hoặc hàng hóa tương
tự có nguồn gốc từ bất cứ nước nào khác
Nguyên tắc không phân biệt đối xử áp dụng cho cả 3 loại hàng rào kỹ thuật môi trường mà Hiệp định TBT điều chỉnh, đó là: quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc, tiêu chuẩn không bắt buộc và thủ tục đánh giá tính phù hợp