LỜI MỞ ĐẦU Lý luận hình thái kinh tế – xã hội là lý luận cơ bản và giữ một vị trí hết sức quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử do Các Mác xây dựng nên Lý luận hình thái kinh tế xã hội đã được thừa[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận hình thái kinh tế – xã hội là lý luận cơ bản và giữ một vị trí hết sức quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử do Các Mác xây dựng nên Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã được thừa nhận là lý luận khoa học và là phương pháp luận
cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực học Nhờ có lý luận hình thái kinh tế – xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học Các Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã hội Như vậy qua lý luận hình thái kinh tế – xã hội giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học vận hành của xã hội trong mỗi giai đoạn nhất định Nhưng ngày nay, đứng trước những sự kiện lớn như sự sụp đổ của các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, đặc biệt là Liên Xô - ngọn cờ đầu của chủ nghĩa xã hội, lý luận hình thái kinh tế xã hội bị phê phán từ rất nhiều phía, sự phê phán không chỉ từ phía đối lập của chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn cả một số người đã từng đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin Họ cho rằng: lý luận hình thái kinh tế xã hội đã lỗi thời, lạc hậu không thể áp dụng vào điều kiện hiện nay mà phải thay thế bằng một lý luận khác Trước tình hình đó buộc chúng ta làm rõ thực chất của lý luận hình thái kinh tế xã hội và giá trị về mặt khoa học, tính thời đại của nó
là rất cần thiết; về thực tiễn nước ta đang trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Công cuộc
đó đang đặt ra hàng loạt vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau
để làm rõ giá trị khoa học của lý luận hình thái kinh tế- xã hội và vận dụng nó vào quá trình xây dựng đất nước sau này
Chính vì những lý do trên, chúng em xin chọn đề tài “Lý luận hình thái kinh
tế – xã hội với vấn đề hội nhập trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay” Chúng
Trang 2em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
I NỘI DUNG CỦA LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1, Khái niệm lý luận hình thái kinh tế xã hội
Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng
để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó
2, Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế – xã hội
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc những cá nhân riêng lẻ Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp Trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt có vai trò nhất định và tác động đến mặt khác tạo nên sự vận động của cơ thể xã hội Chính tính toàn vẹn của nó được phản ánh bằng khái niệm hình thái kinh tế – xã hội
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội xét đến cùng là
do lực lượng sản xuất quyết định Lực lượng sản xuất phát triển qua các hình thái kinh tế – xã hội nối tiếp nhau từ thấp lên cao thể hiện tính liên tục trong sự phát triển của xã hội loài người
Trang 3Quan hệ sản xuất – quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất – là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mối quan hệ xã hội khác, không có mối quan hệ đó thì không thành xã hội và quy luật xã hội Mỗi hình thái kinh tế - xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương ứng với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất, đó là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử
Ngoài những mặt cơ bản của xã hội đã đề cập ở trên – lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng – thì còn có những quan hệ dân tộc quan
hệ gia đình và các sinh hoạt xã hội khác
3, Ý nghĩa phương pháp luận của phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
a, Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế – xã hội Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử đều do tác động của quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên ”
Các mặt cơ bản hợp thành một hình thái kinh tế – xã hội: lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng không tách rời nhau, mà liên hệ biện chứng với nhau hình thành nên những quy luật phổ biến của xã hội Đó là quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác Chính do tác động của quy luật khách quan đó, mà các hình thái kinh tế – xã hội vận động và phát triển thay thế nhau từ thấp lên cao trong lịch sử như một quá
Trang 4trình lịch sử tự nhiên không phụ thuộc vào ý trí, nguyện vọng chủ quan của con người
b, Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học Học thuyết đó chỉ ra: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sốn xã hội Học thuyết đó cũng chỉ ra: xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau
II HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1, Khái niệm
Toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, nó tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế của các quốc gia dân tộc, cho cả nền kinh tế thế giới
Toàn cầu hóa còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và chuyển giao công nghệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, đưa tri thức và kinh nghiệm mới đến với các quốc gia dân tộc; tạo tiền đề và điều kiện cho các quốc gia dân tộc đi sau có thể “rút ngắn” lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng chiến lược phát triển có khả năng “bắt kịp” và “thích nghi” với xu hướng phát triển hiện đại Chính vì thế, Đảng ta khẳng định để đưa đất nước ta phát triển nhanh
và bền vững, chúng ta cần: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Đến Đại hội XI tiếp tục thực hiện chủ trương: “Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Tiếp tục đưa các quan hệ quốc tế của đất nước đi vào chiều sâu trên cơ sở
Trang 5giữ vững độc lập tự chủ, phát huy tối đa nội lực và bản sắc dân tộc, chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế”
2, Sự cần thiết của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành
xã hội và các quốc gia-dân tộc Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc
tế nói chung.
Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế tạo ra cho các nước:
Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương
mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế.
Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học
công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục-đào tạo và nghiên cứu khoa học với các
Trang 6nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến.
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận
thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế.
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt
hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa.
Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn
minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới
xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền.
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích
hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển.
Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để
các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới
3, Nội dung của hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Hội nhập quốc tế là thúc đẩy phát triển quan hệ song phương và đa phương với các nước trên thế giới, tham gia các tổ chức khu vực và thế giới trong các lĩnh
Trang 7vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, các phong trào chính trị-xã hội nhằm đáp ứng lợi ích phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta Việt Nam Trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chú trọng những hướng hoạt động đối ngoại như: Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương; phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược Củng cố quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ trên thế giới; từng bước mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc Thực hiện tốt các công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp quốc Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm: “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền; song đồng thời cũng kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, làm mất an ninh và ổn định chính trị của nước ta
Trang 8III VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM
1, Lý luận cơ sở
Các Mác đã đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi một giai đoạn đó Mỗi một mối quan hệ sản xuất lại chịu những tác động khách quan khác nhau Mác và Ănghen đã đưa ra những lý luận, tư tưởng khác nhau về các hình thái kinh tế xã hội chính, là cơ sở cho chúng ta khẳng định hội nhập quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan và trình độ lao động sản xuất ở nước ta
Phương châm cơ bản để tiến hành hội nhập quốc tế là bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương Theo nguyên tắc này, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng, mặt khác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức độ đóng góp của các bên tham hợp tác Trong hợp tác liên kết và hội nhập quốc tế cần giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu, bảo vệ được lợi ích chính đáng của đất nước; đồng thời phải luôn cảnh giác, không mơ hồ trước những âm mưu và thủ đoạn lợi dụng hợp tác quốc tế
để can thiệp, áp đặt về chính trị
2, Kết quả của hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
a, Thành tựu
Triển khai đường lối, chính sách của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định an ninh quốc gia, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế
Trang 9Trong quan hệ song phương, nước ta đã củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với các nước láng giềng Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào tiếp tục có nhiều bước phát triển mới Hợp tác ngày càng tiến triển theo hướng thực chất hơn, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước, bình đẳng, cùng có lợi, dành sự ưu tiên ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ đặc biệt giữa hai nước Hiện nay, Việt Nam là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Lào với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 4 tỷ USD, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 1 tỷ USD
Quan hệ Việt Nam - Campuchia được thúc đẩy trên cơ sở phương châm chỉ
đạo “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài".
Hai nước đã ký nhiều hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực, trong đó đáng chú ý nhất và quan trọng nhất là việc Campuchia cam kết công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam những năm 80 Hợp tác kinh tế tiến triển thuận lợi, đến 2011 kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt gần 2 tỷ USD
Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh và toàn diện Khuôn khổ
quan hệ được chính thức xác định với 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", tiếp đó được bổ sung thêm tinh thần 4
tốt: "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" và gần đây là “Quan hệ
đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” Hai bên có nhận thức chung rộng rãi, chia sẻ
sự tương đồng quan điểm đối với nhiều vấn đề quốc tế và khu vực Hợp tác kinh tế, thương mại Việt - Trung tăng trưởng nhanh, hiện mậu dịch hai chiều đã vượt 30 tỷ USD Việc hai nước ký hiệp ước về biên giới trên đất liền, các hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ tạo điều kiện thuận lợi xây dựng biên giới hai nước thành đường biên giới hoà bình, ổn định lâu dài để phát triển
Nhận thức rõ vị trí của ASEAN, tầm quan trọng của hoà bình, ổn định và hội nhập khu vực, từ sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ngày càng tham gia tích
Trang 10cực và đầy đủ vào mọi hoạt động của ASEAN Qua đó, Việt Nam có nhiều đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực hợp tác chính của ASEAN, góp phần tạo dựng nền tảng vững chắc để ASEAN đi đến quyết định lịch sử là tăng cường liên kết tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Các nước ASEAN hiện có hơn 1 nghìn dự
án đầu tư triển khai ở Việt Nam, với số vốn đầu tư trên 13 tỉ USD Việt Nam cũng
có trên 120 dự án đang triển khai ở các nước thành viên ASEAN với tổng vốn gần
1 tỷ USD Mặt khác, Việt Nam còn tham gia với tinh thần trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN với các đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á - Âu (ASEM), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á…
Bên cạnh sự phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Việt Nam năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn và các tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập
Quan hệ Việt - Mỹ được bình thường hoá có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu an ninh và phát triển của nước ta, tác động mạnh đến quan hệ của Việt Nam với tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây Hai nước đã ký Hiệp định thương mại năm 2000 và năm 2006 chính quyền Mỹ chính thức ban hành đạo luật
về thiết lập Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam, đánh dấu việc bình thường hoá hoàn toàn quan hệ song phương giữa hai nước, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO Năm 2011, kim ngạch mậu dịch hai chiều vượt 18 tỉ USD, hiện Mỹ xếp thứ 6 trong số 85 nước và vùng lãnh thổ có đầu tư ở Việt Nam Mỹ hiện đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Đối với Liên bang Nga, Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm
duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001), cùng với một loạt các hiệp định về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật, dầu khí, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tổ hợp công nông nghiệp Gần đây, kim ngạch buôn bán