1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học Tư tưởng giải phóng con người trong triết học phương Tây thời cận đại với vấn đề giải phóng con người trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta

17 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận triết học Tư tưởng giải phóng con người trong triết học phương Tây thời cận đại với vấn đề giải phóng con người trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận triết học Tiểu luận triết học LỜI MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, con người luôn được coi là trung tâm của mọi sự phát triển, con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của nhiề[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ xưa đến nay, con người luôn được coi là trung tâm của mọi sự phát triển, con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó không thể không nhắc đến triết học Trong mỗi thời đại, con người được chú ý nghiên cứu trên các bình diện khác nhau Từ triết học cổ đại đến triết học hiện đại, từ triết học phương Đông đến triết học phương Tây, người ta

có thể tìm thấy những quan niệm khác nhau về con người

Ở thời kỳ cận đại, vấn đề nhân quyền, tự do của con người đã được đặt ra một cách gay gắt và từng bước được giải quyết Triết học thời kỳ này đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai trò của lý trí, các giá trị và tư tưởng vì con người Tuy vẫn còn những hạn chế nhưng triết học thời kỳ cận đại đã có những ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của triết học sau này và nhiều cuộc cách mạng nổ ra ở Tây

Âu và trên toàn thế giới Do đó, nhóm tiểu luận chúng em lựa chọn đề tài “Tư

tưởng giải phóng con người trong triết học phương Tây thời cận đại với vấn đề giải phóng con người trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta” Nội

dung bài tiểu luận gồm 2 phần:

Phần 1: Tư tưởng giải phóng con người trong triết học phương Tây thời cận đại

Phần 2: Vấn đề giải phóng con người trong quá trình xây dựng và phát triển

kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trong quá trình tìm hiểu, do còn những hạn chế nhất định nên bài viết không thể tránh được những sai sót, nhóm mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 2

Phần I: TƯ TƯỞNG GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC

PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI 1.1 Lịch sử ra đời

Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây

Âu là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan (1560-1570); Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794)

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị, nó đã đặt ra những yêu cầu mới cho khoa học và kỹ thuật phát triển Đây là thời kỳ khoa học tự nhiện bắt đầu phân ngành mạnh, hình thành các

bộ môn độc lập như toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học… Đặc trưng của khoa học thời kỳ này là khoa học tự nhiên thực nghiệm, các tri thức khoa học hầu hết là những sản phẩm của thực nghiệm, vì vậy dẫn tới thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển… Chính điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học tự nhiên thời cận đại quy định đặc trưng về mặt triết học thời kỳ này:

- Thứ nhất, đây là thời kì thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa

duy tâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận

- Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kì này mang hình thức của chủ nghĩa duy

vật siêu hình, máy móc Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực

tư duy triết học và khoa học

- Thứ ba, đây là thời kì xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh

vực xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích xã hội và lịch sử Những đặc điểm ấy thể hiện rõ nét trong quan niệm của một số triết gia, điển hình như B.Xpinôda, Ph.Bêcơn T.Hôpxơ, R.Đêcactơ, G.Lamettri, Đ.Điđơrô, P.Hônbách, G.G.Rutxô

Trang 3

- Thứ tư, trước sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng duy vật vô thần của thời

cận đại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phải có những cải cách nhất định Nhu cầu ấy được phản ánh đặc biệt trong triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học thần học người Anh G.Beccơli

1.2 Đặc điểm của triết học phương Tây thời cận đại

- Tư tưởng về bản thể và bản tính thế giới:

Triết học thế kỷ XVII- XVIII gắn với thành tựu khoa học tự nhiên, đặc điểm

là lý luận cơ học đã thấm đượm phương thức tư duy siêu hình của khoa học tự nhiên Phương thức tư duy siêu hình đã chi phối những hiểu biết triết học về bản nguyên và bản tính của thế giới Các nhà triết học tự nhiên thời kỳ này coi nguyên

tử là phân tử nhỏ nhất không thể chia, chưa thấy vận động là thuộc tính cố hữu của nguyên tử Đến thế kỷ XVIII các nhà duy vật Pháp đã có công phát triển triết học duy vật, vô thần lên một bước, họ thừa nhận vật chất, thế giới tự nhiên có trước, vận động gắn liền với vật chất và nhờ vận động thế giới tự nhiên luôn chuyển động

từ trạng thái này sang trạng thái khác

- Lý luận nhận thức :

Triết học thời kỳ này ra đời trong điều kiện khoa học tự nhiên được tách ra khỏi triết học và phát triển Vấn đề là tìm được ra phương pháp khoa học chung của nhận thức và phải khái quát và hệ thống hóa các khoa học đã tách ra Cuộc luận chiến giữa các nhà triết học để tìm ra phương pháp mới chính là cuộc luận chiến giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVII_XVIII Thực

tế, chủ nghĩa duy lý và phương pháp tương tự của nó luôn chiếm ưu thế, đẩy khoa học lên hang đầu các môn quan trọng của nhân loại

- Tư tưởng về con người và bản tính con người:

Tư tưởng triết học thời kỳ này cho rằng con người là một bộ phận của giới tự nhiên là một động vật, suy nghĩ bởi các giác quan Tư tưởng con người chịu sự quy

Trang 4

sống Con người là một thực thể thống nhất hữu cơ của hai mặt thể xác và linh hồn Các nhà triết học Khai sang phủ định quan điểm tôn giáo, quan điểm siêu hình về con người là một thực thể có hai bản nguyên đối lập, thể xác và tinh thần Các nhà Khai sang đấu tranh vì thắng lợi vương quốc trí tuệ trên cơ sở tự do chính trị, bình quyền

- Tư tưởng về đạo đức:

Đạo đức học thời cận đại thế kỷ XVII- XVIII được phát triển dường như quay trở về tư tưởng đạo đức học Hy Lạp cổ đại Nó làm sống lại đọa đức Epiquya, diễn giải đạo đức như hiện tượng của chủ quan cá nhân, đồng thời như là một quan hệ khách quan hiện thực Các nhà đọa đức học cận đại có tham vọng xây dựng một

mô hình tư tưởng nhằm liên hợp và hệ thống lại những nhân tố đạo đức được nghiên cứu trong thời cổ đại và trung cổ

1.3 Tư tưởng nhân quyền trong triết học phương Tây thời cận đại

Triết học phương Tây thời cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọt gông chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con người Tuy nhiên vẫn chưa trường phái nào nhận thức được đầy đủ về bản chất con người cả về mặt sinh học và xã hội Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội

Một số triết gia tiêu biểu

- Phranxis Bêcơn (1561-1621):

Phranxis Bêcơ (Francis Bacon) là nhà triết học vĩ đại thời cận đại C.Mác coi Ph.Bêcơn là ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm Bắt đầu

từ Ph.Bêcơn, lịch sử triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới với những màu sắc riêng

Ph.Bêcơn sinh trong một gia đình quý tộc Anh Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Kembritgiơ, ông công tác nhiều năm trong ngành ngoại giao cho vương

Trang 5

triều Xtiua Mặc dù sống ở nước Anh trước thời kì cách mạng tư sản, nhưng Ph.Bêcơn là người nhiệt liệt ủng hộ những cải cách tư sản nhằm phát triển đất nước, ủng hộ sự phát triển của khoa học và triết học Những tác phẩm lớn của ông

là Đại phục hồi các khoa học (1605), Công cụ mới(1620)

Ph.Bêcơn coi con người là sản phẩm cuả tạo hoá, do vậy khoa học về con người cũng là khoa học về tự nhiên Tiếp thu quan niệm của Arixtốt về con người, Ph.Bêcơn chia linh hồn thành các dạng "linh hồn thực vật", "linh hồn động vật",

"linh hồn lý tính" Hai phần đầu thuộc về linh hồn cảm tính, có cả ở thực vật và động vật Trong con người, linh hồn cảm tính là một dạng chất lỏng, pha loãng trong cơ thể Chúng vận động theo các dây thần kinh, tựa như các đường ống, tác động lên các giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể Bộ phận linh hồn này có thể bị huỷ hoại cùng cơ thể khi con người chết đi Linh hồn lý tính có nguồn gốc từ Thượng đế Đó là một khả năng kì diệu mà chúa đã ban cho con người, mang tính thần thánh Vì con người có cả hai dạng linh hồn nên con người vừa rất gần với động vật lại vừa có cái gì đó siêu phàm, và do đó, bản chất con người không cho phép con người theo lập trường hoàn toàn vô thần Con người cần có tôn giáo để vượt qua những lúc con người mềm yếu, bất lực Tôn giáo mang lại cho con người niềm tin nhưng nhà thờ không được phép dùng các biện pháp chống lại các nhà vô thần, không được cản trở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người Nhìn chung, quan niệm trên của Ph.Bêcơn thể hiện sự thoả hiệp giai cấp tư sản Anh thời đó với các vấn đề tôn giáo

- Tômát Hôpxơ (1588-1679):

Tômát Hôpxơ (Thomas Hobbs) là nhà triết học nổi tiếng, đại biểu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII, người có công cụ thể hoá và phát triển nhiều quan niệm duy vật của Ph.Bêcơn Ông sinh trong một gia đình linh mục ở nông thôn nước Anh Ngay từ nhỏ ông đã học và thông thạo tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp cổ Khi còn là sinh viên Trường đại học Tổng hợp Ôxpho, ông tích cực nghiên cứu các vấn đề vật lý và lôgic Trong thời gian nổ ra cách mạng tư sản Anh (1642-1648),

Trang 6

ông cùng nhiều bạn bè lưu vong sang Pháp và nhiều nước khác Đây là thời kì ông viết nhiều tác phẩm triết học

Theo T.Hôpxơ con người là một thực thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính

xã hội Về bản tính tự nhiên, mọi người khi sinh ra đều như nhau, sự khác nhau nhất định giữa họ không lớn Nhưng con người ai cũng có khát vọng và nhu cầu riêng của mình Đây là tiền đề để con người làm điều ác Mỗi người đều ích kỉ, vì lợi ích riêng của mình mà có thể chà đạp tất cả "Con người là một động vật độc ác

và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn" Mỗi người hành động trước tiên là "vì tính ích kỉ yêu bản thân mình chứ không phải vì xã hội, không phải vì lợi ích của người khác" Vì thế mà đẩy loài người đến chiến tranh liên miên, gây ra bao nhiêu đau khổ và chết chóc Công lý và khoa học về pháp quyền, bởi vậy, luôn luôn bị bác bỏ bởi những ngòi bút và thanh kiếm Theo T.Hôpxơ, bản tính tự nhiên của con người

đó là tính ích kỉ; trạng thái xã hội mà con người sống là "một cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả"

Tuy nhiên, theo T.Hôpxơ, "trạng thái tự nhiên" trên đây của con người ngày nay không còn nữa; nó tồn tại một cách trọn vẹn ở thời nguyên thuỷ xa xưa Tư tưởng của T.Hôpxơ được Đácuyn áp dụng vào thế giới động vật và phát hiện ra quy luật đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên của các loài sinh vật Sau đó những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hội truyền bá, áp dụng trở lại xã hội

Quan niệm của T.Hôpxơ mặc dù chưa đánh giá đúng mức đặc trưng riêng của loài người so với loài vật, chưa thấy được bản tính xã hội, tính nhân loại của con người, nhưng nó mang những yếu tố hợp lý nhất định Một mặt, nó cho thấy sự tương đồng nào đó giữa loài người và loài vật, mặt khác, nó chỉ ra rằng, chính lợi ích của các cá nhân là một trong những động lực trực tiếp của hoạt động của con người và phát triển của xã hội

Quan niệm về xã hội và tôn giáo Xuất phát từ quan niệm trên đây về trạng

thái tự nhiên của con người, T.Hôpxơ khẳng định khả năng bẩm sinh của con người càng bình đẳng bao nhiêu thì nó càng bất hạnh bấy nhiêu, vì cuộc đấu tranh

Trang 7

sinh tồn của mỗi người càng khó khăn và phức tạp Ai cũng phải lo sợ cho tính mạng và cuộc sống của mình Và chính điều đó đã thúc đẩy mọi người đi đến kí kết khế ước xã hội, thiết lập nên nhà nước Do vậy, mỗi dân tộc đều phải trải qua hai giai đoạn phát triển: giai đoạn tự nhiên và giai đoạn xã hội công dân (giai đoạn

có nhà nước)

Nhà nước là sự sáng tạo cao nhất mà con người có thể làm được Sau khi nhân dân lập ra nhà nước, nhà nước đóng vai trò điều hành sự phát triển của xã hội,

xử phạt những ai vi phạm lợi ích chung của mọi người Nhà nước "tựa như một con người nhân tạo" mà chính phủ là linh hồn của con người đó Tuy nhiên sự xuất hiện của nhà nước cũng có mặt hạn chế, ở chỗ nó làm giảm các khát vọng tự nhiên của con người, do đó tự do của con người bị thu hẹp Nhưng con người cần phải có nhà nước để được sống yên ổn Đạo luật của nhà nước là tất yếu Nhiệm vụ của nhà nước là phải trừng phạt, nhưng công minh; mỗi cá nhân có nghĩa vụ phải tuân theo

Mặc dù cho rằng, sự ngu dốt, sự sợ hãi sinh ra tôn giáo nhưng T.Hôpxơ lại khẳng định bản thân tôn giáo là cần thiết để khuyên răn mọi người làm theo các chuẩn mực của nhà nước, tức làm theo luật pháp Đó là công cụ để nhà nước dễ dàng chỉ đạo xã hội hơn, nhưng nhà nước không phải tuân theo nhà thờ mà nhà thờ phải phục tùng nhà nước Các nhà vô thần tuy không có tội nhưng là những người suy nghĩ nông cạn

Nhìn chung, triết học xã hội của T.Hôpxơ có nhiều mặt hạn chế trong quan niệm về bản chất, nguồn gốc của nhà nước, cũng như về bản chất con người Ông còn chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật tự nhiên trong việc xem xét các hiện tượng xã hội Tuy nhiên, việc ông coi nhà nước là do con người lập ra để phục

vụ con người là một đòn giáng mạnh vào các quan niệm duy tâm, thần thánh hoá chế độ phong kiến đang thối nát, suy tàn Việc khẳng định cần thiết phải xoá bỏ trạng thái tự nhiên của con người là thể hiện xu hướng tư sản tiến bộ đòi đấu tranh xoá bỏ thần quyền và đẳng cấp của chế độ phong kiến, mở rộng dân chủ và xã hội

Trang 8

- Rơnê Đêcáctơ (1596-1654):

Rơnê Đêcáctơ (Rene Descartes) là nhà triết học, nhà bách khoa toàn thư vĩ đại người Pháp Có thể nói, cùng với Ph.Bêcơn, "Đêcáctơ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học" Tây Âu cận đại Rơnê Đêcáctơ sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam nước Pháp Mồ côi mẹ từ nhỏ, ông được bố cho học ở một trường phổ thông nổi tiếng ở Liaflet Bất mãn với chương trình học thời

đó, ông tuyên bố rằng, kết quả duy nhất trong thời gian học phổ thông là làm cho ông dốt thêm! Ông đặc biệt say mê nghiên cứu về triết học và khoa học tự nhiên Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Các quy tắc chỉ đạo lý tính (1630), Thế giới (1633), Các nguyên lý của triết học (1644), Suy diễn về phương pháp (1637-1638) R.Đêcactơ là nhà triết học nhị nguyên, chủ yếu bàn về nhận thức luận và phương pháp luận và là người sáng lập chủ nghĩa duy lý

Ông khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh hồn, coi chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại không cần đến

và không phụ thuộc vào bất kì một sự vật vật chất nào Linh hồn là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi con người chết Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào thể xác Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn khi anh ta sống

Tóm lại, quan niệm triết học của R.Đêcactơ là hệ thống có nhiều yếu tố hợp lý nhưng cũng có nhiều mâu thuẫn Điều đó thể hiện sự bế tắc của lập trường nhị nguyên trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề của triết học và khoa học Nó thể hiện sự trăn trở của ông khi muốn xây dựng một hệ thống triết học và khoa học thực sự trong bối cảnh ảnh hưởng của các thế lực tôn giáo trong xã hội còn đang rất mạnh Công lao vĩ đại của R.Đêcactơ là ở chỗ ông đã đặt ra hàng loạt lý luận mới đối với sự phát triển của triết học và khoa học sau này Học thuyết của ông có ảnh hưởng to lớn đối với nhiều nhà khoa học và triết học Một trong những người

Trang 9

chịu ảnh hưởng lớn của ông là nhà triết học duy vật vô thần người Hà Lan, Bêkênit Xpinôda (1632-1677)

- Giooc Beccơli (1685-1753):

Giooc Beccơli (George berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Ông sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam Ailen Năm 15 tuổi ông đã học tại Đại học Tổng hợp Đublin Ông say mê nghiên cứu thần học, toán học, triết học cho đến cuối đời Ông có nhiều tác phẩm như Kinh nghiệm của thuyết thị giác mới (1709), Khái niệm về các nguyên

lý của nhận thức con người (1710)

Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan niệm con người bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết định Thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ linh hồn cảm nhận nó Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh hồn Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng, "tồn tại nghĩa là cảm nhận" Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người

- Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII:

+ Tư tưởng triết học của Đ.Điđrô:

Đ.Điđrô sinh tại một thành phố ở Đông Bắc nước Pháp, trong một gia đình thợ thủ công Sau nhiều năm học ở Pari, do chịu ảnh hưởng tư tưởng của các nhà khai sáng, ông từ bỏ ý định thành nhà hoạt động tôn giáo, như mong muốn của người cha Ông là người khởi xướng và chủ biên bộ Bách khoa toàn thư của khoa học, nghệ thuật và thủ công nghiệp (1751-1780) Đây là một trong những bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới - một trong những di sản văn hoá vĩ đại không chỉ của nước Pháp mà cả Tây Âu thế kỉ XVIII nói chung Nó có vai tṛ rất to lớn trong việc xây dựng và truyền bá thế giới quan khai sáng Ông có nhiều tác phẩm như Tư tưởng triết học (1746), Cuộc dạo chơi của nhà hoài nghi luận hay là Alleax

Trang 10

(1747), là tác giả nhiều tác phẩm văn học mang đầy tính triết lý như Nữ tu sĩ, Người cháu của ông Ramô

Quan niệm về con người: Đ.Điđrô cho rằng con người được cấu thành từ thể

xác và linh hồn Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau Linh hồn không

có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý Bản thân nó cũng

là đặc tính của vật chất Ông viết: "Không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn) không là cái gì cả Tôi khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả" Ông nhấn mạnh, cơ thể con người là khí quan vật chất của tư duy, ý thức cũng như mọi quá trình tâm lý của anh ta Ông đã nhận thấy, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh môi trường xung quanh nhưng chưa hiểu được rằng, bản thân môi trường và hoàn cảnh đó cũng là sản phẩm của hoạt động con người, và vì vậy, cả con người lẫn hoàn cảnh sống của nó đều mang tính lịch sử Đây cũng là hạn chế chung của các triết học trước Mác

Quan niệm về xã hội - tôn giáo: là nhà triết học duy vật triệt để và vô thần

nhất của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, Đ.Điđrô phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, coi Thượng đế chỉ là sự thần thánh hoá các điều kiện sống hiện thực của con người Không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà là con người sáng tạo ra tôn giáo

Ông viết: "Nếu như lý tính là của trời cho và tín ngưỡng cũng tương tự như vậy, nghĩa là trời cho chúng ta hai vật không thể dung hợp được với nhau… Để loại trừ bế tắc đó, cần phải thừa nhận rằng tín ngưỡng là một nguyên lý huyền thoại, không tưởng" Ông chỉ ra sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo: Khoa học thì hướng tới vũ trang cho chúng ta quan niệm đúng về thế giới, làm cho con người lớn mạnh thêm lên, còn tôn giáo thì chỉ đem lại những điều ảo tưởng, làm cho con người mềm yếu đi "Thượng đế của những người Cơ đốc giáo - đó là người bố chỉ coi trọng những đám mây, chứ chẳng để tâm gì đến những đứa con của mình" trên trần gian cả

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w