1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm toàn diện của sự nhận thức khoa học để phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam

15 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng quan điểm toàn diện của sự nhận thức khoa học để phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học môi trường và Phát triển bền vững
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, trình độ khoa học kỹ thuật và những hiểu biết của con người đối với thế giới tự nhiên đã và đang dần tiến đến trình độ cao nhất Kinh tế xã hội ngày càng[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, trình độ khoa học kỹ thuật và những hiểu biết của con người đối với thế giới tự nhiên đã và đang dần tiến đến trình độ cao nhất Kinh tế

xã hội ngày càng phát triển, điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao, tuy nhiên đi kèm với nó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, hệ sinh thái bị hủy hoại, nhiều sinh vật quý hiếm tuyệt chủng và đặc biệt là “sự ấm lên của trái đất” gây nhiều hệ lụy khôn lường đối với thế

hệ con người hiện tại và trong tương lai Chúng ta đều biết phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống; mặt khác, con người đang sống trong một thế giới rộng lớn với rất nhiều mối liên hệ phức tạp, trong đó giữa môi trường và phát triển có mối liên hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi

là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng

có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực Tại Hội thảo quốc

tế về vấn đề “Bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp trong hội nhập quốc tế” diễn ra ngày 17 và 18 tháng 03 năm 2008 tại TPHCM do Đại học Quốc gia TPHCM, Viện môi trường và tài nguyên, Viện nghiên cứu khoa học của Đại học Lausanne, Thụy Sĩ đồng tổ chức, nhiều nhà khoa học đã lên tiếng trước vấn nạn kinh tế phát triển nhưng để lại hậu quả môi trường ngày càng ô nhiễm, trong đó có ý kiến khẳng định nếu phát triển kinh tế không gắn với bảo vệ môi trường thì những thảm họa do ảnh hưởng môi trường về lâu dài sẽ lớn hơn những hiệu quả kinh tế thu được rất nhiều, chúng ta cần phải đặt ra quan điểm phát triển bền vững để tránh hậu họa về sau

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vận dụng quan điểm toàn diện của sự nhận thức khoa học để phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo

vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam” Trong phạm vi của tiểu luận này và tầm hiểu biết còn hạn chế của mình, tôi muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé trong bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường, từ đó

có khả năng tìm kiếm con đường phát triển bền vững của Việt Nam trong những năm tới nhằm đưa Việt Nam từng bước trở thành một nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Mặt khác, hoàn thành tiểu luận này cũng cho tôi một cái nhìn thấu đáo

về một số vấn đề cấp thiết của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 2

Chương I: Nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học, phép biện chứng về

mối liên hệ phổ biến 1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học:

Nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học là nguyên lý của phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng

tỏ những quy luật của sự liên hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của

tư duy Vì vậy, ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên

lý về mối liên hệ phổ biến vẫn được xem là một trong những nguyên lí có ý nghĩa khái quát nhất Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.Trong đó liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề tồn tại cho nhau, là sự quy định lẫn nhau, là sự nương tựa lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt, các yếu tố, các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Ngoài ra những người theo quan điểm duy vật biện chứng còn khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Các mối liên hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau, trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi không gian và thời gian Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, thông thường không có tính quyết định mà phải thông qua các mối liên hệ bên trong để phát huy Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi còn giữ vai trò quyết định Ngoài

ra còn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên

hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhau của

Trang 3

cùng một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá đó có thể diễn

ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy

1.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến:

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới Các sinh vật, hiện tượng trên thế giới dù có

đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểm toàn diện Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thức đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là: trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính

sự vật đó, hai là: trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể

cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức đúng

sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Nhưng quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng

đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng Để tránh những phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật ngụy biện Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thời gian đó Do đó chúng ta cần kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra

Trang 4

Chương II: Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

ở Việt Nam 2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường:

Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người Nó

là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người Vì vậy giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế

có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ Như chúng ta đã biết môi trường sống được sinh

ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người Tuy nhiên sự biến đổi của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi, từ đó sinh ra khái niệm “đạo đức sinh thái”

Đầu tiên cần phải nói rằng đạo đức có liên quan trực tiếp đến lợi ích, “lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức” Đạo đức sinh thái lại là một dạng thức đặc biệt của đạo đức xã hội, là thứ đạo đức được thể hiện trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (với môi trường sống xung quanh) Đúng như C.Mác đã viết:

“Bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái khâu liên hệ con người với con người; chỉ

có trong xã hội, tự nhiên mới biểu hiện ra là cơ sở của sự tồn tại có tính chất người của bản thân con người Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người đối với con người và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người” Là một dạng đặc biệt của đạo đức xã hội, đạo đức sinh thái bao gồm những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, tình cảm, những nguyên tắc, chuẩn mực quy định, điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho sự sống của con người, cho sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội trong những điều kiện tự nhiên - xã hội nhất định Ngoài những đặc trưng cơ bản của đạo đức xã hội, đạo đức sinh thái còn có những nét đặc thù riêng, đó là:

 Trong quan hệ đạo đức sinh thái, con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên luôn là khách thể Chủ thể và khách thể đạo đức xã hội tác động qua lại với nhau tuân theo những chuẩn mực giá trị đạo đức Nếu bên chủ thể chỉ biết đến lợi ích của riêng mình, bất chấp lợi ích của khách thể (từ cá nhân cho đến xã hội) thì bị coi là kẻ vô đạo đức, có thể bị trừng phạt hay bị trả giá ngay Trong đạo đức sinh thái, con người với tư cách chủ thể đạo đức luôn chủ động quan hệ và tác động

Trang 5

lên tự nhiên một cách có ý thức, có mục đích là mang lại lợi ích về cho mình Trong khi đó, sự tác động của tự nhiên lên con người và xã hội chỉ là sự tác động

mù quáng, vô thức, hay chỉ là “sự phản xạ tự nhiên” Do vậy, sự ứng xử vô đạo đức của con người đối với tự nhiên cứ thế được “tích luỹ” lại, mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên ngày càng sâu sắc dần, nhưng con người không thể nhận biết được, hay đúng hơn là không thể lường trước được hậu hoạ Đến lúc con người nhận thức ra “sự trả thù” của tự nhiên thì đã quá muộn và khi đó, con người phải gánh chịu hậu quả nặng nề do mình gây ra cho môi trường tự nhiên và cũng là cho chính bản thân mình

 Đạo đức gắn liền với giá trị Trong đạo đức sinh thái, lợi ích và giá trị có tính đặc thù Tất cả những thuộc tính khách quan vốn có của khách thể tự nhiên hợp thành bản chất khách quan của nó, tức là giá trị nội tại của khách thể tự nhiên đó Đây chính là những giá trị vốn có, tự thân của chúng, chứ không phụ thuộc gì vào nhu cầu và lợi ích của con người Giá trị nội tại của các khách thể tự nhiên chính là sự sống và phục vụ cho sự sống, còn cái mà con người tiếp cận, nhận thức và sử dụng được từ các yếu tố tự nhiên, tức là cái phục vụ được cho lợi ích của con người, là giá trị sử dụng của các khách thể tự nhiên Các giá trị này không hoàn toàn phụ thuộc vào giá trị nội tại của chúng, mà chủ yếu bị quy định bởi nhu cầu

và lợi ích của con người, bởi sự nhận thức của con người, bởi trình độ phát triển của khoa học và công nghệ của xã hội Do vậy, một khi những điều kiện này thay đổi, thì lập tức, những giá trị sử dụng của các khách thể tự nhiên cũng bị thay đổi theo Trong quan hệ với tự nhiên, con người chỉ tập trung khai thác những giá trị

sử dụng và thực dụng của các khách thể tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu và thoả mãn được lợi ích ngày càng cao của mình, nhưng lại quên đi giá trị nội tại của chúng là sự sống và phục vụ cho sự sống Với cách “hành xử” như vậy, con người đã vô tình vi phạm nghiêm trọng đến đạo đức sinh thái Chẳng hạn, việc khai thác và sử dụng rừng một cách bừa bãi trên khắp thế giới trong nhiều thế kỷ qua, nhất là trong thế kỷ vừa qua, đã mang lại hậu hoạ sinh thái vô cùng nặng nề,

mà một trong những thảm hoạ nguy hiểm nhất hiện nay là sự biến đổi khí hậu toàn cầu theo chiều hướng tiêu cực Những thảm hoạ sinh thái đó không chỉ đang tàn phá tự nhiên, mà còn tàn phá cả chính sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Điều này đã chứng tỏ rằng, con người chưa nhận thức được thấu đáo giá trị nội tại của thực vật, của rừng đối với đời sống của vạn vật, trong đó có con người và xã hội, mà chỉ biết khai thác giá trị sử dụng của chúng đến cạn kiệt

 Trong đạo đức sinh thái, mối quan hệ chỉ theo một chiều, nghĩa là chỉ có con người chủ động quan hệ, tác động lên các khách thể tự nhiên, chỉ có con người tự

Trang 6

giác đặt ra các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực giá trị phục vụ cho lợi ích của mình, để từ đó, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình đối với tự nhiên Do vậy,

để đảm bảo được sự hài hoà về lợi ích giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải có tính tự giác, tự ý thức rất cao Muốn thực hiện được điều này, một mặt, con người cần phải biết nuôi dưỡng, phát huy tình yêu vốn có của mình đối với thiên nhiên, “nhân chi sơ tính bản thiện”, nuôi dưỡng tinh thần, đạo lý “Thiên

- Nhân hoà đồng”, “Thiên - Nhân hợp nhất”; mặt khác, cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các giá trị của các yếu tố tự nhiên, các quy luật tồn tại, vận động

và phát triển của chúng, phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và trách nhiệm quan trọng của con người trong mối quan hệ với tự nhiên Trên cơ sở những hiểu biết đó, con người mới có thể lựa chọn, xác định được những chuẩn mực hành vi đạo đức đúng đắn, phù hợp trong quá trình khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người Nhưng tài nguyên của môi trường không phải là vô hạn Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường

bị suy thoái Lúc đó con người phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra Một sản phẩm do con người tạo ra lại phá huỷ cái mà con người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu sự tác động của môi trường Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó còn có khả năng cải thiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo

vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên nhân tạo

Chúng ta không thể phủ nhận rằng, trước khi có nền kinh tế thị trường, môi trường thiên nhiên nước ta đã bị tàn phá Song, từ khi phát triển nền kinh tế thị trường, môi trường tự nhiên bị tàn phá nhanh hơn, với quy mô lớn hơn Bởi lẽ, trong kinh tế thị trường, con người được kích thích bởi lợi ích kinh tế trước mắt đã lao vào dòng xoáy của các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường cùng các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm

Trang 7

tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, nhanh nhất Nhiều hậu hoạ sinh thái đã xảy ra, như nhiều dòng sông, hồ ao đã bị ô nhiễm nặng nề bởi nước thải độc hại của các nhà máy,

xí nghiệp, khu liên hợp chế xuất, bởi nước thải bẩn của các cơ sở chăn nuôi, bệnh viện, điển hình và tai tiếng nhất là vụ nước thải của nhà máy bột ngọt Vêđan đã làm chết dòng sông Thị Vải và huỷ hoại môi trường sống quanh vùng, vụ việc nhà máy đóng tàu Vinashin, v.v Việc khai thác và sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như rừng, khoáng sản, kim loại quý hiếm, đã dẫn đến sự cạn kiệt của chúng, đặc biệt là rừng Tệ nạn không bảo đảm vệ sinh an toàn lương thực, thực phẩm ngày càng phổ biến và nguy hiểm hơn Các tệ nạn xã hội đang gây ra sự ô nhiễm môi trường xã hội, như nạn ma tuý, mại dâm, đại dịch bệnh HIV- AIDS, không chỉ phổ biến ở các thành phố, mà còn len lỏi đến hang cùng ngõ hẻm trên khắp đất nước, gây ra biết bao tai hoạ cho cuộc sống con người, không chỉ hôm nay mà cho cả các thế hệ mai sau

Nước ta còn là một trong những nước đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của sự biến đổi khí hậu toàn cầu Mưa lũ, ngập lụt, lốc xoáy, hạn hán xảy ra thường xuyên trên khắp mọi miền đất nước, năm sau lại nặng nề hơn, tổn thất lớn hơn năm trước Tất cả những điều đó đang đòi hỏi phải xây dựng một đạo đức sinh thái mới phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước và thế giới Yêu cầu xây dựng đạo đức sinh thái ngày nay trở nên bức xúc hơn bao giờ hết, nó đòi hỏi phải xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, nhưng suy đến cùng, là đối với sự sống còn của chính mình và các thế hệ con cháu mai sau trước thực trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường sống

2.2 Môi trường đang bị hủy hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:

2.2.1 Trong công nghiệp:

Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986 Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới này được tiến hành trên toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi mới tư duy, hệ thống kinh

tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính… Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển

từ nền kinh tế chỉ huy, tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong hơn hai thập kỷ qua thực hiện chủ trương và đường lối đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu to lớn Chính sách đổi mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP) tăng trung bình hơn 7%/năm Đặc biệt trong công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp từ xuất phát điểm chỉ

Trang 8

có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm 1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bình 12,9%/năm, trong đó thời kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm Tỷ trọng công nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, từ mức 22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000 và 40,24% năm

2009 Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đã ít nhiều bộc lộ những mặt trái của nó mà nếu không có biện pháp bảo vệ

cụ thể thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do chính chúng ta gây ra

Số lượng doanh nghiệp đang tăng lên nhanh chóng, đặc biệt kể từ sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành Năm 2000, cả nước có 42.288 cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động thì đến hết năm 2007, con số đó là 183.920 (tăng 335%) Chỉ tính riêng năm 2007, cả nước đã có thêm 58.916 doanh nghiệp được đăng ký mới (chiếm gần 1/3 tổng số doanh nghiệp hoạt động) Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh đó là sự gia tăng của chất thải rắn hàng năm, tổng lượng chất thải rắn hiện nay đã lên tới con số hơn 12 triệu tấn/năm Việc quản lý chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều khó khăn, không có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn

để lưu giữ các chất thải độc hại trước khi xử lí, không có nhà máy xử lí chất thải độc Phần lớn chất thải rắn nguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh hoạt hay thậm chí đổ ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với môi trường sống Chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng động, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và ở vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến mức báo động Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn,

… đều do loại chất thải rắn gây ra Thống kê cho thấy, nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở đô thị lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh Tại các đô thị này, tuy chỉ chiếm tỉ lệ 24% dân số cả nước, nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, chiếm gần 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt cả nước

Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệp thường thải ra một lượng nước thải khá lớn Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ sở sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lí nước thải Phần lớn các nhà máy xí nghiệp nếu có tiến hành xử

lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nước mặt, gây ô nhiễm trầm trọng đối với nhiều dòng sông Trong nhiều trường hợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày còn gây ô nhiễm không khí, mất mỹ quan, lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu cực khác Nước thải công nghiệp chính là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm cho môi trường đô thị

Trang 9

Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàn tới Ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện, công ngiệp hoá chất gây nên

Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trung bình tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần Tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí, nồng độ bụi đo trong 1 giờ từ 4 đến 4,7 mg/m3, gấp 13 đến 16 lần trị số cho phép Nồng độ các chất khí độc hại khác như CO2, NO2, SO2… trong không khí xung quanh nhiều nhà máy

và khu công nghiệp đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần Điều này đã gây tác động xấu đối với mùa màng và sức khoẻ của nhân dân của cả một vùng rộng lớn xung quanh các khu vực nhà máy Tuy trong thời gian qua, phần lớn các nhà máy đã trang bị thiết bị xử lí bụi nhưng số lượng các nhà máy có thiết bị xử lí khí độc hại còn rất ít mà chủ yếu được thải thẳng ra ngoài không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng phát triển thì nhu cầu khai thác các thành phần môi trường để làm nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất ngày càng tăng Quá trình này thể hiện mối liên hệ cơ bản giữa phát triển và môi trường đồng thời cũng là một vấn đề nan giải Việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hao kiệt về tài nguyên, mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng môi trường Nạn khai thác gỗ trái phép gây ra sự suy giảm nghiêm trọng

độ che phủ của rừng Nếu như năm 1945 độ che phủ nước ta đạt 43% thì tính đến tháng 12 năm 2000 độ che phủ rừng chỉ còn 29, 8% và tính đến đầu năm 2009 đạt 38,7%

Ngoài ra còn nhiều vấn đề ô nhiễm do công nghiệp gây ra như việc nhập khẩu các thiết bị lạc hậu từ nước ngoài, hay tiếng ồn từ các cơ sở sản xuất…

2.2.2 Trong nông nghiệp:

Nước ta là một nước có nền kinh tế xuất phát điểm là nông nghiệp và cho đến nay, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tài nguyên, nông sản và hàng sơ chế Kim ngạch xuất khẩu khoáng sản và hàng hoá nông lâm, thuỷ hải sản chiếm tới 63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nước ta đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình này hứa hẹn nhiều cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường quốc tế.Tuy nhiên đi đôi với sự gia tăng này của các hoạt động sản xuất là khả năng gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường ngày càng lớn Sự gia tăng xuất khẩu các mặt hàng từ nguồn tài nguyên không tái tạo được và việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhằm phục vụ xuất khẩu có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên của nước ta trong tương lai Mặt khác, các ngành nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi cũng có nhiều cơ hội để thâm canh, gia tăng sản lượng dẫn đến việc phá huỷ tài nguyên thiên nhiên do khai thác, trồng trọt và

Trang 10

chăn nuôi không hợp lí Để tăng sản lượng các loại rau, củ, quả… người nông dân thường phun các loại chất kích thích, phân bón, thuốc trừ sâu… Trình độ nhận thức

và chuyên môn của người dân còn thấp, thêm vào đó đội ngũ cán bộ nông nghiệp còn chưa nhiều vì vậy người nông dân chưa ý thức được hành động của họ sẽ dẫn đến hậu quả gì Việc sử dụng các loại hoá chất và sau đó vứt ngay các loại vỏ, bao đựng trên ruộng trước tiên gây ô nhiễm nguồn nước sau là gây nguy hiểm cho những người

sử dụng các loại rau, củ, quả đó Thực tế là trong năm 2002, ở miền Bắc, giá nhãn và vải đã mất giá nghiêm trọng do Trung Quốc không nhập khẩu vì hàng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng… Sử dụng hoá chất không được phép trước tiên là gây ô nhiễm nguồn nước, không tiêu thụ được hàng hoá, sau cùng là gây ra thoái hoá đất-một sự mất mát lớn Môi trường nông thôn cũng đang kêu cứu

2.2.3 Trong du lịch – biển:

Cùng với tăng trưởng kinh tế, các phương tiện thông tin, giao thông vận tải ngày càng dễ dàng và thuận tiện Đây là điều kiện để hoạt động du lịch phát triển nhanh chóng Ngành du lịch nước ta hiện nay còn rất nhỏ bé so với các nước trong khu vực

và trên thế giới Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua, cùng với quá trình đổi mới và chuẩn bị hội nhập nền kinh tế thế giới du lịch nước ta cũng đã có những bước phát triển ban đầu Năm 2001 toàn ngành đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 9%so với năm 2000, vượt kế hoạch 6% so với năm 2000 Du lịch phát triển tạo nhiều công ăn việc làm cho dân cư và thu được một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách quốc gia Tuy nhiên cũng như sự phát triển trong công nghiệp và nông nghiệp, hoạt động

du lịch cũng đang tác động đến môi trường về nhiều mặt

Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây dựng cơ

sở hạ tầng như làm đường giao thông khách sạn, các công trình thể thao, các khu vui chơi giải trí Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái

Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước, đặc biệt là các chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn, nhà hàng, các hoạt động vận tải thuỷ và khách du lịch tạo nên Hiện nay ở nước ta, tình trạng rác thải bừa bãi tại các điểm du lịch, vui chơi giải trí còn phổ biến, điều đó không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi trường mà còn gây cảm giác khó chịu cho du khách

Khi hoạt động du lịch nhộn nhịp lên thì đó cũng là điều đe doạ tới chất lượng không khí Trước hết là ô nhiễm không khí do giao thông vận tải Du khách có thể đi bằng đường bộ hoặc máy bay Tuy nhiên không giống như ô tô, xe máy… ô nhiễm

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w