MỤC LỤC Tiểu luận Triết học MỤC LỤC 2LỜI MỞ ĐẦU 3PHẦN NỘI DUNG 3I LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 31 Khái niệm và đặc điểm nhà nước pháp quyền 32 Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp[.]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
I LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 3
1 Khái niệm và đặc điểm nhà nước pháp quyền 3
2 Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền 3
II NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.5 1 Tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam 5 2 Bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 6
3 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 6
4 Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Khái niệm “nhà nước pháp quyền” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là những vấn đề khá mới trong hệ thống lý luận triết học – chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trong những năm gần đây Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố Các yếu tố này, về thực chất, là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi dân tộc Chúng không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng Với ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, quốc gia Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như một mô hình chung, thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp Chính vì vậy, đề tài tiểu luận “Tư tưởng về nhà nước pháp quyền và vấn
đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” tập trung nghiên cứu “nhà nước pháp quyền” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để thấy được những vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình tăng cường vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1 Khái niệm và đặc điểm nhà nước pháp quyền
a, Khái niệm nhà nước pháp quyền
Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền và thực tiễn tổ chức nhà nước pháp quyền tư sản ở các nước tư bản phương Tây, có thể nhận định tổng quát:
“Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở
đó có sự ngự trị cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân.”
Như vậy, nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước có tính đặc thù Hình thức này có thể thuộc về kiểu nhà nước tư bản mà cũng có thể thuộc về kiểu nhà nước chuyên chính vô sản – nhà nước xã hội chủ nghĩa Nếu xét theo nội dung và thực chất thì đó là hình thức tổ chức nhà nước thích hợp nhất với bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bởi bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân
b, Đặc điểm tiêu biểu của Nhà nước pháp quyền
Thứ nhất, nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước mà ở
đó có sự ngự trị cao nhất, tuyệt đối của pháp luật Pháp luật phải trở thành tiêu chuẩn và căn cứ căn bản nhất, cao nhất trong mọi hoạt động của bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và mỗi công dân
Thứ hai, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân Chính vì vậy mà ở các nước theo hình thức tổ chức nhà nước pháp quyền đều
Trang 4thực hiện chế độ dân chủ trong việc thiết lập quyền lực nhà nước, thực hiện chế độ trưng cầu dân ý
Thứ ba, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó có sự bảo đảm thực tế mối quan hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm của nhà nước
và công dân Quyền của công dân thuộc về trách nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà nước thuộc về trách nhiệm của công dân
Ngoài ra, nguyên tắc “tam quyền phân lập” cũng là một nguyên tắc đặc trưng của mọi nhà nước pháp quyền Theo đó, quyền lực nhà nước được phân tách thành ba nhánh quyền lực với những kênh xác lập khác nhau, có quyền lực độc lập với nhau, chi phối lẫn nhau trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước Đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tuy nhiên, nguyên tắc phân quyền này cũng không hoàn toàn giống nhau ở các nước tư bản phương Tây
2 Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền
Từ thời cổ đại, mầm mống về tư tưởng nhà nước pháp quyền đã xuất hiện cả
ở phương Đông và ở phương Tây Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi Quản Trọng chủ trương đề cao "Luật, lệnh, hình, chính", vua phải giữ pháp, "không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua" Hàn Phi coi luật pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật
Ở phương Tây, mầm mống tư tưởng pháp quyền lúc bấy giờ là chống lại
"thuyết đặc miễn trách nhiệm của nhà vua", tư tưởng về nhà nước pháp quyền
ra đời chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, gắn liền với việc xác lập và phát triển nền dân chủ; bạo lực, lộng quyền và hỗn loạn là cái tương phản với công bằng, pháp luật, cần phải xóa bỏ Các nhà tư tưởng pháp quyền thời kì này
Trang 5tiêu biểu là Solon(638-559TCN),Heraclite (530-470 TCN), Socrate (469-399TCN), Platon (427-347 TCN), Aristote (384-322 TCN), Ceceron (106-43 TCN), Solon chủ trương:"giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh và pháp luật", Platon cho rằng Nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật là điều kiện tồn tại của pháp luật, Aristote khẳng định pháp luật phải thống trị trên tất cả, ông đề ra "thuyết ba chức năng", phân biệt ba loại quyền lực Nhà nước: nghị viện, chấp hành và xét xử
Thời trung cổ, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng thời kì này không có mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền vì sự ngự trị của bóng đêm thần học Tuy nhiên,cũng có người cho rằng vẫn có những mầm mống về nhà nước pháp quyền trong chính các nhà tư tưởng thần học Vì tư tưởng về nhà nước pháp quyền là tư tưởng tiến bộ hướng đến bình đẳng, công bằng, dân chủ Đó
là nguyện vọng, khát khao của con người, dù trong hoàn cảnh nào, trong xã hội nào, các thế lực thống trị có làm gì đi chăng nữa thì những tư tưởng đó vẫn tồn tại dưới hình thức này, hình thức khác Các nhà thần học thời kì này tiếp thu tư tưởng từ các triết gia cổ đại Cũng chính vì điều này, tư tưởng pháp quyền trung cổ gắn liền với Saint Augustin (357-430) và Saint Thomas D'Aquin (1225-1247) Saint Augustin cho rằng quyền lực Nhà nước phải được thực hiện như một thứ quyền lực phục vụ Đó là công cụ để thực hiện tình yêu và sự công bằng
Thời kì cận đại, tư tưởng về nhà nước pháp quyền thực sự có bước phát triển mới Nó đã trở thành một học thuyết và đã trở thành hiện thực, được vận dụng ở một số quốc gia phương Tây, mà ta gọi là nhà nước pháp quyền TBCN hay nhà nước pháp quyền Tư sản để phân biệt với nhà nước pháp quyền XHCN sau này Sự phát triển lí luận học thuyết nhà nước pháp quyền
Tư sản chịu ảnh hưởng của hai luồng tư tưởng: Một là, sự khẳng định ngày
Trang 6càng cao những quan điểm mới về tự do của con người, thông qua việc tôn trọng tính tối cao của pháp luật - pháp luật tự nhiên Hai là, xác lập mối tương quan giữa quyền lực chính trị mới giữa giai cấp tư sản đang lên và chế độ phong kiến đã lỗi thời Hơn nữa, cần loại trừ tình trạng độc quyền, bán quyền lực trong cơ quan hay cá nhân cụ thể Học thuyết nhà nước pháp quyền vì lẽ
đó gắn liền với chủ nghĩa lập hiến tư sản
Thời kì này, học thuyết nhà nước pháp quyền được bổ sung, hoàn thiện, phát triển qua các giai đoan lịch sử khác nhau Đó là lí thuyết về pháp quyền
tự nhiên của các nhà triết học Hà Lan thế kỷ XVI-XVII với các đại diện: B Spinoza (1632-1677), H Grotius (1583-1645); lí thuyết về tự do của các nhà duy vật Anh thế kỷ XVII với các đại diện như : J Locke (1632-1704), T Hobbs (1588-1679), J.S.Mill (1806-1873); lí thuyết về phân quyền, chủ quyền nhân dân và khế ước xã hộ của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII với các đại diện: Montesquieu - người đưa ra học thuyết phân quyền được các nước Tư sản sau này áp dụng dưới các hình thức khác nhau, Rousseau (17121788) -người đưa ra lí thuyết về chủ quyền nhân dân và "khế ước xã hội"; lí thuyết về pháp quyền của các nhà triết học cổ diển Đức với các dại diện như : I Kant (1724-1804), Hegel (1770-1831) Bước sang thế kỷ XIX-XX, lí thuyết về nhà nước pháp quyền tiếp tục được các nhà triết học Đức quan tâm như: Mohn và Valker, Stein
Học thuyết nhà nước pháp quyền không chỉ có những tư tưởng của các triết gia tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển CNXH Marx, Engels và Lenin dù không chính thức nói đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật Trong các bài viết, bài nói ít nhiều họ đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền
Trang 7Như vậy, nhà nước pháp quyền là một Nhà nước thượng tôn pháp luật và phải bảo đảm dân chủ Lịch sử nhà nước pháp quyền đã có từ xa xưa và ngày càng hoàn thiện qua các giai đọan lịch sử khác nhau và trở thành học thuyết vào thế kỷ XVII- XVIII, gắn liền với Nhà nước Tư sản, nền dân chủ Tư sản Bên cạnh đó, các nhà kinh điển của CNXH cũng đã có sự đóng góp nhất định vào học thuyết nhà nước pháp quyền nói chung, và định hướng cho việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở các nước XHCN - nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân sau này
II NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp Nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm
1959, năm 1980 và năm 1992 Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới
Trang 8Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế
2 Bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu các di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những giá trị phổ biến của các lý luận triết học pháp quyền trong lịch sử có thể khái quát như sau:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam; trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức; là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân xây dựng một quốc gia dân tộc độc lập xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, góp phần
Trang 9tích cực và cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới
3 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một là, Nhà nước ta là Nhà nước cúa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đây là nguyên tắc cơ bản, được khẳng định trong chỉ đạo quá trình xây dựng Nhà nước, được ghi nhận trong các Hiến pháp của Nhà nước ta và được thể hiện cụ thể trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương; của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Hai là, xác định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành
mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.
Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước.
Chính quyền địa phương luôn luôn được chăm lo củng cố theo quy định của các Hiến pháp với việc hình thành Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và Hội đồng nhân dân bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân.
Trang 10Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các
quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hệ thống pháp luật phải thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Pháp luật phải được chính Nhà nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước và mọi người, mọi tổ chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai Ngay Đảng Cộng sản Việt Nam, được toàn thể nhân dân Việt Nam thừa nhận
vị trí, vai trò lãnh đạo đất nước và Hiến pháp khẳng định Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, đồng thời, Hiến pháp cũng xác định: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”
Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là, Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Sáu là, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
4 Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam