Tiểu luận triết học Tiểu luận triết học MỤC LỤC Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU 3II PHẦN NỘI DUNG 31 Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 52 Học thuyết Chính danh 83 Vận dụng “Học thuyết chính danh” tron[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I PHẦN MỞ ĐẦU 2
II PHẦN NỘI DUNG 3
1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 3
2 Học thuyết Chính danh 5
3 Vận dụng “Học thuyết chính danh” trong văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 8
III PHẦN KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
Bất kỳ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ cũng đều phải đối mặt với bài toán hợp tác giữa các cá nhân và giữa cá nhân với tập thể Rất nhiều doanh nghiệp đã thất bại không phải vì thiếu vốn, không có thị trường hay không có khách hàng mà chỉ vì không tìm được lời giải cho bài toán này Bởi vì, trong khi doanh nghiệp nỗ lực để tối đa hoá lợi nhuận thì cá nhân có thể có mối quan tâm khác và sẵn sàng hi sinh quyền lợi tập thể để theo đuổi mục đích riêng Vậy làm thế nào để giải quyết tốt nhất vấn đề này? Câu trả lời nằm ở trong “Văn hoá doanh nghiệp”
Mặc dù mới xuất hiện nhưng khái niệm này đang thu hút sự chú ý của rất nhiều học giả và cả những doanh nghiệp mong muốn tìm cho mình một
mô hình phát triền mới bền vững, hài hoà giữa các giá trị và đem lại hiệu qủa cao nhất Có thể nói không quá rằng, ngày nay văn hoá doanh nghiệp chính là một trong những nhân tố rất quan trọng đưa đến sự thành công của các doanh nghiệp song đồng thời nó cũng có thể trở thành lực cản cho sự phát triển đó nếu như doanh nghiệp không có ý thức đổi mới, cải tiến văn hoá để kịp thời thích ứng với sự thay đổi không ngừng của điều kiện hoàn cảnh
Đất nước Việt Nam chúng ta là quốc gia có hàng nghìn năm văn hiến Qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên hệ quan điểm giá trị, nguyên tắc hành vi và tinh thần cộng đồng mang bản sắc Việt Nam đậm nét với sự ảnh hưởng không nhỏ của văn hóa Phương đông
Do vậy văn hóa doanh nghiệp của Việt Nam chắc chắn không thể tách rời hệ
tư tưởng và những giá trị triết học nhân văn của phương Đông ( Trung Quốc,
Ấn Độ ), đưa triết học Phương Đông vào việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam chính là một trong những yếu tố căn bản tạo nên sự thành công của doanh nghiệp
Trang 3II PHẦN NỘI DUNG
1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của
xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Văn hóa là câu trả lời của con người trước các thách đố của tự nhiên, của xã hội Văn hóa cũng là thế ứng xử, là kinh nghiệm sống của một cộng đồng được tích lũy và trao truyền qua các thế hệ Nói tới văn hóa cũng là nói tới một dân tộc, một quốc gia Văn hóa dân tộc cũng in đậm dấu ấn của nó trong cách thức cai trị, quản lý đất nước, quản lý doanh nghiệp của mỗi quốc gia, mỗi vùng, miền
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng
nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích
Văn hóa doanh nghiệp là sự tổng hòa của quan niệm giá trị, tiêu chuẩn đạo đức, triết lý kinh doanh, quy phạm hành vi, ý tưởng kinh doanh, phương thức quản lý và quy tắc chế độ được toàn thể thành viên trong doanh nghiệp chấp nhận, tuân theo Văn hóa doanh nghiệp lấy việc phát triển toàn diện con người làm mục tiêu cuối cùng Cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp là tinh thần doanh nghiệp và quan điểm giá trị của doanh nghiệp
Trang 4Văn hóa doanh nghiệp khởi nguồn từ nước Mỹ, sau đó được Nhật Bản xây dựng và phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, văn hóa doanh nghiệp phải bám sâu vào nền văn hóa dân tộc mới phát huy được tối đa hiệu quả
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể riêng biệt Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp
Điều gì mang đến cho doanh nghiệp của bạn sự tin cậy, niềm tin và ấn tượng? Câu trả lời không nằm ở sức mạnh tài chính hay quy mô của doanh nghiệp bạn, mà nó nằm ở chỗ: Bạn đã mang đến cho khách hàng ngoài sự hài lòng về chất lượng sản phẩm còn là cái bắt tay nồng ấm, nụ cười thân thiện và ánh mắt chung tình Trong môi trường cạnh tranh, điều này đã tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp của bạn, và nó được xem là giá trị làm nên sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Đó chính là văn hóa doanh nghiệp
Dưới một góc độ nào đó, văn hóa doanh nghiệp là cấu thành và công
cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp Thông qua xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ định hướng và điều chỉnh tư duy, suy nghĩ và hành động của các thành viên trong doanh nghiệp, cũng như định hướng suy nghĩ và hành động của các đối tác của doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp càng gia tăng, vai trò của văn hóa doanh nghiệp càng trở lên quan trọng Khi quy mô kinh doanh gia tăng, doanh nghiệp cần triển khai phân cấp, phân quyền Văn hóa doanh nghiệp trở thành chất kết dính của toàn
bộ hệ thống
Khi nói đến văn hóa doanh nghiệp, người ta nghĩ ngay đến hệ thống các giá trị, bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể Với các giá trị vật thể, doanh nghiệp có thể dễ dàng xây dựng và quy ước Tuy nhiên, các giá trị phi vật thể mới đóng vai trò cốt lõi Các giá trị này được toàn thể thành viên doanh nghiệp thừa nhận, chia sẻ, tôn vinh và các thành viên trong doanh nghiệp cùng ứng xử theo nhằm theo đuổi sứ mệnh và đạt được mục tiêu của
Trang 5doanh nghiệp Hệ thống giá trị cốt lõi này trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy mọi người làm việc, là hạt nhân liên kết mọi người trong doanh nghiệp với nhau, liên kết doanh nghiệp với khách hàng và đối tác của doanh nghiệp, liên kết doanh nghiệp với xã hội nói chung
Tóm lại, văn hóa doanh nghiệp định hướng suy nghĩ và hành động của
các thành viên doanh nghiệp, chi phối cảm nhận, suy nghĩ và hành động của khách hàng, đối tác và xã hội
Văn hóa doanh nghiệp dứt khoát phải coi bản sắc văn hóa dân tộc bản địa là cơ sở để phát triển Bản chất của văn hóa doanh nghiệp là đối nội phải tăng cường tiềm lực, quy tụ được sức sáng tạo của công nhân viên chức, khích lệ họ sáng tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp; đối ngoại phải được xã hội bản địa chấp nhận Cả hai mặt này đều liên quan tới văn hóa dân tộc sở tại, liên quan tới quan niệm giá trị, đặc trưng hành vi của dân tộc đó
2 Học thuyết Chính danh
Học thuyết Chính danh là một phát kiến của Khổng tử Do chính ông quan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên cho ra trên, dưới cho ra dưới; vua cho ra vua, tôi cho ra tôi,… nên ngài mới đề ra học thuyết chính danh Học thuyết Chính danh của Khổng Tử rất coi trọng tôn ti trật tự,
có trên có dưới, học thuyết này để sửa trị lại trật tự xã hội, sự cai trị Đặt sự vật với đúng tên gọi và bản chất của nó
Khổng Tử cho rằng, mỗi vật, mỗi người sinh ra điều có một địa vị, công dụng nhất định Ứng với mỗi địa vị, công dụng đó là “danh” nhất định Vật nào, người nào trong thực tại điều có danh hợp với nó, nếu không danh sẽ không hợp với thực, là loạn danh Chính danh là danh và thực phải phù hợp với nhau Ông cho rằng, sở dĩ xã hội loạn lạc là do danh không phù hợp với thực, từ đó dẫn đến làm cho kỷ cương phép tắc đảo lộn Muốn ổn định trật tự
xã hội, Khổng Tử chủ trương phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa
“Chính danh, định phận” Danh và phận của mỗi người trước hết hết do xã hội quy định, Khổng Tử đã quy tất cả các quan hệ xã hội thành năm mối quan
hệ cơ bản (Ngũ luân) như sau:
Vua – Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu
Trang 6Cha – Con: bề con phải lấy chữ hiếu làm đầu
Chồng – Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu
Anh – Em: phải lấy chữ hữu làm đầu
Bạn – Bè: phải lấy chữ tín làm đầu
Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng:
Vua thì phải nhất
Tôi thì phải trung
Cha phải hiền từ
Con phải hiếu thảo
Phu xướng phụ tuỳ…
Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cương) cụ thể là:
Vua – Tôi: vua là trụ cột
Cha – Con: cha là trụ cột
Chồng – Vợ: chồng là trụ cột
Như vậy, năm mối quan hệ đã nói rõ danh, phận, của từng người, vế sau phải phục tùng vế trước, nếu mỗi người thực hiện đúng danh, phận đó sao cho vua ở hết phận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con,… thì có chính danh
Theo Khổng Tử nếu không chính danh thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc làm không thành, việc làm không thành thì lễ nhạc không kiến lập được, không kiến lập lại được lễ nhạc thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu Cho nên, người quân tử đã dùng cái danh thì phải nói ra được, nói rồi tất phải làm được, vì thế người quân tử phải thận trọng với lời nói của mình Nếu danh không chính, nói và làm không đúng theo chức phận của mình, “trên” không nghiêm “dưới” loạn, vua không ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha không ra cha, chồng không ra chồng, vợ không ra vợ,… Khổng Tử cho rằng , xã hội loạn là
do nguồn gốc từ trên Do vậy, ông rất đề cao tính tự giác của mỗi cá nhân
Trang 7trong việc giữ lấy cái danh phận của mình, bởi vì nếu mỗi người tự chính được bản thân mình thì không cần hạ lệnh mọi việc sẽ được tiến hành, nếu ngược lại dù có hạ lệnh cũng chẳng ai theo Khi Tử Lộ hỏi về việc chính trị, Khổng Tử nói, muốn trị nước, trước tiên ắc phải sửa cho chính danh, vì nếu việc chính sự là ngay thẳng, cứ làm gương về sự ngay thẳng thì không ai không dám ngay thẳng nữa
Vậy chính danh là gì?
Khổng Tử giải thích như sau: chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy, trên – dưới, vua – tôi, cha – con, chồng – vợ,… trật tự phân minh, vua lấy nghĩa mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua Cụ thể là vua cho ra vua, tôi cho
ra tôi, chồng cho ra chồng, vợ cho ra vợ, con cho ra con,… Nói một cách khái quát là ai ở vị trí nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình ở các cương vị đó theo thang bậc Như vậy, theo Khổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nền nếp Nhưng để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạm quyền Một xã hội
có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cương, thái bình, thịnh trị.
“Chính giả, chính dã” là một châm ngôn bất hủ của Khổng tử Nghĩa là muốn được chính danh thì lời nói và hành động phải đúng đắn Muốn làm bậc chính danh quân tử thì lời nói và hành động phải đúng đắn Nói suông e không được đâu! Lời nói và việc làm có đúng đắn thì người mới theo về.
Khổng tử cho rằng, việc chính trị hay hay dở là do ở người cầm quyền Người cầm quyền nào biết theo đường ngay chính để sửa đạo nhân thì việc gì cũng thành ra ngay chính hết thảy Ngài bảo Quý Khang tử rằng “Chính giả chính dã, tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính.” Nghĩa là: làm chính trị là làm cho mọi việc ngay thẳng, ông lấy ngay thẳng mà khiến người, thì ai dám không ngay thẳng? Cho nên, hễ người trên ngay thẳng thì người dưới bắt chước mà làm theo Vua mà ngay chính thì không sai khiến người ta cũng làm theo điều phải, còn vua mà không ngay chính thì có sai khiến người ta cũng không ai theo cả (kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành, kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng
Trang 8Thiết nghĩ, người cầm quyền thời nào cũng phải nêu cao cái đức của mình Theo Khổng tử, người cầm quyền trước hết phải sửa mình cho đoan chính cái đã Đó là ý tứ trong câu bốn chữ của Khổng tử “chính giả, chính dã” Người cầm quyền theo Khổng tử phải là người quân tử, vì người quân tử
ắt phải rèn đức tức là tu thân, rồi sau đó mới có quyền bắt người trong nhà khuôn theo phép tắc mà ông ta đưa ra tức là tề gia Có tề gia giỏi thì mới có thể trị quốc tốt, ngày nay có thể gọi là lãnh đạo quốc gia, quản lý xã hội Có trị quốc tốt thì thiên hạ mới theo về mình thì coi như đã bình được thiên hạ rồi Theo ý kiến cá nhân chúng tôi, thuật “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được hiểu là như vậy. Ta thử ví dụ, nếu lãnh đạo của chúng ta tham nhũng, mất đức thì nói ai nghe? Con cái trong nhà họ chưa chắc là nghe họ nữa là Như thế thì họ có tư cách gì để lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo xã hội nữa? Lại càng không có tư cách đứng trên trường quốc tế để phát biểu Trường hợp như vậy họ đã mất chính danh, làm mất luôn chức vụ cũng giống như các vua chúa thời xưa một khi đã mất chính danh thì mất luôn thân phận làm vua
3 Vận dụng “Học thuyết chính danh” trong văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Nho giáo của Khổng Tử được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc
và ảnh hưởng của nó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay Cùng với Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo của Không tử đã tác động, chi phối nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, luân lý ) Không phải ngẫu nhiên mà một số nhà khoa học được giải thưởng Noben đã cho rằng, nhân loại muốn tồn tại được trong thế kỷ XXI, cần phải tìm học triết lý của Khổng tử Còn học giả William James Durant, trong cuốn “The story of civilisation” đã nhận xét: Càng hiểu biết về Nho giáo và người sáng lập ra Nho giáo là Khổng tử, chúng ta càng ngạc nhiên khi thấy những lời giáo huấn của ông rất ít bị lỗi thời trước những tiến bộ như vũ bão của khoa học và những biến đổi của thời thế
Những tư tưởng sâu sắc của Khổng tử về thế giới, về xã hội, về con người, đặc biệt là học thuyết “Chính Danh” và đạo đức đã đưa ông lên tầm cao của nhà triết học thông thái, nhà chính trị tài ba và nhà giáo dục nổi tiếng
Trang 9Ở Việt Nam,học thuyết Chính danh cũng như Nho giáo nói chung đã góp phần hình thành nên hệ tư tưởng triết học mang đậm bản sắc dân tộc.Trong khi các nguyên tắc cai trị xã hội của Nho giáo Trung Hoa có phần cứng nhắc và hà khắc thì ở Việt Nam thấm sâu tình nhân ái và lòng yêu nước được đặt lên hàng đầu
Đặc điểm nổi bật của văn hóa dân tộc Việt Nam là coi trọng tư tưởng nhân bản, chuộng sự hài hoà, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự cường… đây là những ưu thế để xây dựng văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam cũng có những điểm hạn chế: người Việt Nam phấn đấu cốt để “vinh thân phì gia”, yêu thích trung dung, yên vui với cảnh nghèo, dễ dàng thoả mãn với những lợi ích trước mắt, ngại cạnh tranh, tập quán sinh hoạt tản mạn của nền kinh tế tiểu nông không ăn nhập với lối sống hiện đại; thói quen thủ cựu và tôn sùng kinh nghiệm, không dám đổi mới, đột phá gây trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp hiện đại…
Còn theo cách ứng xử của Phương Tây thì sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng – Vũ trụ, học thuyết Thiên về khoa học công nghệ Lấy Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ làm nền tảng Sức động, quan tâm thực thể độc lập, họ nuôi dưỡng trong mình chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần chú trọng thực tế cộng với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc Người phương Tây rất coi theo hướng cải tạo tự nhiên và tiến tới làm chủ tự nhiên
Ngày nay, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới Toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải có những bước tính khôn ngoan, lựa chọn sáng suốt Không thể để xảy ra tình trạng quốc tế hóa văn hóa doanh nghiệp, mà phải trên cơ sở văn hóa Việt Nam để thu hút lấy tinh hoa của nhân loại, sáng tạo ra văn hóa doanh nghiệp tiên tiến nhưng phù hợp với tình hình và bản sắc văn hóa Việt Nam
Từ cái nhìn vĩ mô, có thể thấy một trong số những yếu tố quan trọng trong việc xác lập và xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam là vận dụng học thuyết Chính danh vào công tác quản trị nhân sự với những giá trị chuẩn
Trang 10mực đạo đức xã hội, việc phấn đấu tu thân, đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân để đạt được mẫu người có đầy đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…có ý nghĩa rất lớn đặc biệt đối với những người đứng đầu doanh nghiệp và cho việc giáo dục, đào tạo nâng cao nhận thức cho cán bộ công nhân viên
Trọng tâm của thuyết Chính danh trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp chính là làm rõ vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của tất các cá nhân trong một tổ chức Mỗi cá nhân cần phải tự nhận thức được nghĩa vụ của mình trong tập thể, thực hiện theo đúng trọng trách, bổn phận công việc được giao Việc này đặc biệt quan trọng đối với người lãnh đạo doanh nghiệp Người lãnh đạo chính danh sẽ chính là tấm gương cho mọi thành viên trong
tổ chức, hành vi của lãnh đạo thiết lập một tiêu chuẩn cho toàn bộ tổ chức Văn hóa của doanh nghiệp được hình thành và phát triển qua thời gian bằng các hoạt động và giá trị của những người trong tổ chức Nhà lãnh đạo thiết lập được một môi trường cởi mở với việc phát triển đặc tính lãnh đạo bằng việc tạo ra các giá trị rõ ràng để lôi kéo và đảm bảo mọi người trong tổ chức tuân theo những giá trị này
Chính danh chính là “danh thực”, trong quản lý, trách nhiệm quyền hạn phải được xác định rõ ràng cùng với những quy định thủ tục rõ ràng nghĩa là phải có “danh” rõ ràng Danh chính thì ngôn mới thuận Tuy nhiên cái danh
và cái “thực” phải đi với nhau Người có danh phải đáp ứng được cái danh, muốn vậy phải có đủ những tố chất nội tại để phát huy, đó là năng lực, phẩm chất phù hợp với cái danh Danh (trách nhiệm) phải kèm theo “ quyền” Quyền không đủ cũng không hoàn thành cái “thực” Quyền quá thừa sẽ gây lạm dụng quyền lực Muốn làm được cái thực người quản lý phải “chính kỷ” Trong thực tế hiện nay, một tổ chức chỉ có danh mà không có thực cũng không thể tồn tại lâu
Bên cạnh đó, việc phân công đúng người đúng việc, giao việc cho những người đủ khả năng và năng lực phù hợp sẽ giúp cho việc vận hành doanh nghiệp sẽ suôn sẻ, người được lựa chọn phù hợp sẽ phát huy được tối
đa khả năng của họ, tạo động lực cho họ hoàn thiện bản thân, khi đó, những nhân viên trong tổ chức không còn là vật thể tiếp nhận bị động mà phải trở thành chủ thể quản lý, khi đó người bị quản lý mới yêu nó, quan hệ cấp trên,