BÀI KIỂM TRA MÔN TRIẾT HỌC BÀI KIỂM TRA MÔN TRIẾT HỌC Câu 1 Phân tích và chứng minh (bằng các tư tưởng TH) đặc điểm cơ bản của TH cổ điển Đức Câu 2 Trình bày những hiểu biết về nhà nước pháp quyền và[.]
Trang 1BÀI KIỂM TRA MÔN TRIẾT HỌC
Câu 1: Phân tích và chứng minh (bằng các tư tưởng TH) đặc điểm cơ bản
của TH cổ điển Đức
Câu 2: Trình bày những hiểu biết về nhà nước pháp quyền và vấn đề xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Câu 3: Trình bày những hiểu biết của anh/chị về quan điểm của TH
mác-lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
Trang 2Câu 1 : Phân tích và chứng minh bằng tư tưởng triết học đặc điểm cơ bản của Triết học Cổ điển Đức
Nước Đức cuối thể kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ XIX là một quốc gia phong kiến cát cứ điển hình, lạc hậu về kinh tế và chính trị Tuy nhiên khoa học nước Đức thời kỳ này lại khá phát triển Đó là kết quả của sự kế thừa tinh hoa văn hoá phương Tây trước đó, di sản văn hoá Đức, văn hoá Pháp và các thành tựu khoa học tự nhiên đương thời
Sự phát triển của khoa học đã thức tỉnh tính phản kháng của giai cấp
tư sản Đức và đòi hỏi giai cấp tư sản phải có cách nhìn nhận mới về tự nhiên, xã hội, con người Giai cấp tư sản Đức muốn làm cách mạng, muốn xây dựng nền triết học theo yêu cầu kiểu mới, song do mới ra đời còn yếu kém về số lượng, kinh tế và chính trị nên họ giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước Chính điều đó quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức:
- Nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm bảo thủ
- Đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học
Lý luận về bản thể trong triết học Cổ điển Đức đầy mâu thuẫn Có duy vật, duy tâm và nhị nguyên luận Cantơ là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức còn Heghen lại là nhà biện chứng lỗi lạc, ông cho rằng nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng tự nhiên và xã hội là ý niệm tuyệt đối Còn phoiơbắc lại cho rằng thế giới là thế giới vậtchất, giới tự nhiên không do ai sáng tạo
ra, nó tồn tại độc lập với ý thức
Thành tựu lớn nhất của triết học cổ điển Đức là phép biện chứng Cantơ là người có công lao to lớn trong việc sáng lập ra phép biện chứng cổ điển Đức Thời kỳ tiến phê phán, ông cho rằng quan điểm về sự phát triển với tính cách là nguyên lý lý luận nhận thức của tự nhiên Thời kỳ phê phán
Trang 3đã có sự phân tích giữa nội dung và hình thức Ông là nhà triết học đầu tiên bắt đầu nhận thấy các hình thức logic của tư duy dưới dạng của phạm trù,
mà những phạm trù này tạo thành hệ thống xác định trong học thuyết của ông Trong học thuyết về mâu thuẫn, ông cho rằng lý tính của con người có khát vọng xâm nhập vào lĩnh vực “ vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm cảm tính
Heghen cho rằng đối tượng của triết học trùng với đối tượng của tôn giáo đó là khách thể tuyệt đối vô hạn Thượng đế Còn tư duy nói chung là cái làm cho con người khác động vật Phương pháp biện chứng của Heghen
là phương pháp suy ngẫm triết học về thế giới Phương pháp biện chứng được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ hệ thống triết học của ông từ logic học triết học tự nhiên đến triết học tinh thần Hạt nhân hợp lý trong logic học của Heghen là phù hợp với quá trình suy nghĩ của con người: mới nhìn vào sự vật thấy tồn tại, đi sâu vào sự vật tìm ra bản chất, khi nắm bản chất ta rút ra khái niệm
Vấn đề muôn thủa luôn được triết học bàn đến qua các thời đại là con người từ đâu đến? Triết học cổ điển Đức thừa nhận con người là một chủ thể, đồng thời lại là kết quả của quá trình hoạt động của mình, khẳng định thực tiễn cao hơn lý luận Cantơ chứng minh tính xã hội của loài người được hình thành do sự vận động của các trạng thái tự nhiên – sinh học của các cá thể ở mỗi thế hệ Nghiên cứu xã hội loài người Cantơ phân ra bốn bước phát triển:
- Bước một: là bước chuyển từ trạng thái động vật sang trạng thái có tính người
- Bước hai: Bắt đầu từ khi lý trí trở thành vai trò trọng yếu trong đời sống
- Bước ba: Là sự phát triển hướng về tương lai
Trang 4- Bước bốn: Là việc thực hiện bằng lý trí, từ bước này con người vượt lên trên thế giới động vật
Bên cạnh đó, Heghen lại coi thế giới vật chất chính là con người vô
cơ, con người ở giai đoạn chưa hình thành Còn con người bằng xương, bằng thịt theo Heghen là con người đã phát triển đầy đủ, là con người trở về chính bản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của mình Heghen đã quy mọi quá trình của hiện thực về quá trình tư duy, quy lịch sử hiện thực về lịch sử
tư duy, quy hoạt động thực tiễn của con người về quá trình tự ý thức, tự nhận thức
Đối lập với Heghen chủ nghĩa nhân bản của Phoiơbắc coi con người
là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên
Tư tưởng về đạo đức trong triết học cổ điển Đức được ghi nhận bằng học thuyết đạo đức của Cantơ, Heghen và Phoiơbắc Mặt tích cực của đạo đức Cantơ là đã thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa chuẩn mực đạo đức với
hệ thống pháp luật, khẳng định được tính tất yếu của cơ sở pháp lý đối với chuẩn mực đạo đức Tư tưởng đạo đức của Cantơ chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo Tuy nhiên, khía cạnh hạn chế của đạo đức Cantơ là còn mang tính chất duy tâm, duy lý chưa đánh giá đúng mức sự tác động và hạn chế của kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đối với hoạt động đạo đức Đồng thời, thể hiện tính không tưởng, phi lịch sử, phi giai cấp
Đạo đức của Heghen lại có liên hệ mật thiết với pháp quyền Ưu điểm đạo đức của Heghen là ở chỗ ông đã trình bày các phạm trù đạo đức, đặc biệt là phạm trù cái thiện và cái ác Ông nhìn thấy trong quá trình phát triển của lịch sử, trong những điều kiện cụ thể cái ác có thể trở thành cái thiện và cái thiện cũng có thể trở thành cái ác
Phoiơbắc đã phê phán tư tưởng đạo đức của Cantơ Heghen và khôi phục lại tư tưởng nhất nguyên duy vật thế giới và con người Ông tìm thấy
Trang 5đạo đức từ bản chất con người Đạo đức chỉ tồn tại ở đâu có quan hệ người với người
Câu 2 : Trình bày những hiểu biết về nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Nhà nước pháp quyền
Trong việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật, vấn đề nhà nước pháp quyền trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả là những người làm công tác thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay ở trong nước cũng như ở nước ngoài Hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: dưới góc độ chính trị xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mới, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sử nhân loại chứng kiến là: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Vậy nhà nước pháp quyền là kiểu nhà nước gì? Chúng ta có thể khẳng định rằng nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước độc lập với các kiểu nhà nước nói trên và nó cũng không phải là nhà nước kiểu mới không mang tính giai cấp trong thời đại công nghiệp hiện nay
Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiên cứu các quan điểm tư tưởng về tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy nhà nước qua các thời kỳ lịch sử, tôi cho rằng khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy khác Nói cách khác nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó, tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo…của bất cứ tổ chức hoặc
Trang 6cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật
Với các tiếp cận này chúng ta có thể thấy tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền đã có từ rất lâu trong lịch sử và tương ứng với mỗi kiểu nhà nước đều có một hệ thống pháp luật tương ứng và ở mức độ phát triển khác nhau
Qua sự nghiên cứu hình thành và phát triển và qua các quan điểm về nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định nhà nước nphaps quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật Bao hàm việc xác định rõ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Từ đó, chúng ta có thể rút ra bốn tiêu chí chung của nhà nước pháp quyền như sau:
- Phương thức tổ chức xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải
do pháp luật quy định
- Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật
- Quyền lực của nhà nước được xác định gồm: Quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp
- Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng minh bạch thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân
Trang 7 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Nhà nước pháp quyền XHCN được đặt ra một cách cấp bách từ thời
kỳ đổi mới khi mà nền kinh tế đang chuyển dần sang mô hình tổ chức kinh
tế thị trường Đó là một đòi hỏi tất yếu của quá trình tăng cường vai trò nhà nước XHCN trong quản lý các lĩnh vực kinh tế văn hóa chính trị, xã hội
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân,
vì dân Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một đảng duy nhất là đảng cộng sản Việt Nam Trên cơ sở lien minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân xây dựng một quốc gia dân tộc độc lập XHCN theo mục tiêu dân giầu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong tổ chức và hoạt động của mình quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất nhưng có sự phânn công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã hai mươi năm, nhiều thành tựu kinh tế xã hội đã được khẳng định và đất nước đang ở thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đến năm 2020 nước ta căn bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa Theo tinh thần và nội dung trong văn kiện đại hội IX và X của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần thực hiện năm điểm cơ bản sau:
Một là: tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền dưới sự
lãnh dạo của Đảng cộng sản Việt Nam Để tăng cường vai trò của nhà nước phải tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, nâng cao chất
Trang 8lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và Đảng viên trong cơ quan nhà nước
Hai là: Tiến hành cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà
nước theo hướng kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của quốc hội Xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch vững mạnh Thực hiện tinh giảm biên chế trong cơ quan nhà nước
Ba là: Tiếp tục phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương tăng
cường pháp chế, theo hướng nâng cao chất lượng đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, hoàn thiện những quy định về bầu cử, ứng cử về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân trên cơ sở thực
sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương
Bốn là: Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch có
năng lực, thực hiện việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý Sắp xếp lại đội ngũ theo đúng chức danh tiêu chuẩn Định kỳ kiểm tra đánh giá chất lượng cán bộ
Năm là: Kiên quyết và tiếp tục đấu tranh chống tham nhũng trong bộ
máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở mọi cấp mọi ngành từ Trung Ương đến cơ sở
Câu 3: Trình bày những hiểu biết của anh/chị về quan điểm của TH
mác-lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
Quan điểm triết học Mác – Lê nin về con người
+ Con người là thực thể sinh vật – xã hội
Con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giơi tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người Con người là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật – xã hội
Trang 9Là thực thể sinh vật: con người dù phát triển đến đâu cũng là một động vật Cũng như những động vật khác, con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng con người khác với động vật vì con người còn là một thực thể của xã hội
Là thực thể xã hội: Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người
đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên; thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội
Ba hệ thống quy luật (hệ thống các quy luật tự nhiên, hệ thống các quy luật tâm lý, hệ thống các quy luật xã hội) cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội
+ Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội:
Con người vượt lên thế giới loài vật trên cả 3 phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người
Không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, bằng hoạth động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội (quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình
+ Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử:
Trang 10Không có thê giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không có tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn
là chủ thể của lịch sử-xã hội
Với tư cách là thực thể của xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện sẵn có của tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại tự nhiên
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử của xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt
ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội,
và do đó không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng hợp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người
Xây dựng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay