1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của việt nam

15 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam
Trường học Đại học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Pháp luật kinh doanh
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 101,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam Pháp luật kinh doanh Góp vốn thành lập d[.]

Trang 1

Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam Cùng với đó là sự ra đời của luật Doanh nghiệp năm 2005

đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động chính thức của hàng ngàn các doanh nghiệp mỗi năm Tuy nhiên, bên cạnh sự bùng nổ mạnh mẽ đó là những tranh chấp cũng như giải thể của không ít các doanh nghiệp Việc tìm hiểu pháp luật liên quan đến các vấn đề này là hết sức cần thiết Để tìm hiểu quy trình thành lập, giải thể doanh nghiệp và giải quyết tranh chấp hợp đồng chúng ta cùng phân tích một ví dụ nhỏ sau đây

Tình huống đặt ra như sau:

Công ty cổ phần Đông Mỹ, doanh nghiệp tư nhân do ông Trần Minh Hà là chủ và công ty TNHH Vạn Xuân thỏa thuận cùng góp vốn bằng nhau để thành lập một doanh nghiệp (Doanh nghiệp A) sản xuất gạch đất nung, đặt trụ sở chính tại thành phố Bình Dương, tỉnh Bình Dương, có chi nhánh tại huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

Tháng 1-2009, Doanh nghiệp A (Bên A), thông qua chi nhánh của mình,

ký một hợp đồng với công ty TNHH xây dựng Vân Hà (Bên B), có trụ sở chính tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Theo đó, Bên A bán cho Bên B 500.000 viên gạch xây loại 1 với giá trị 250.000.000 đồng, hàng được giao trong 1 đợt tại công trình của Bên B là xã Từ Liêm, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Thanh toán làm 2 đợt và hai bên cũng thỏa thuận mức phạt cho mỗi vi phạm là 4% giá trị hợp đồng bị vi phạm Hợp đồng không đề cập vấn đề bồi thường thiệt hại         Thực tế, hàng đã được giao nhận đủ theo hợp đồng, nhưng bên B cho là chất lượng gạch không đảm bảo như hợp đồng nên ngoài tiền phạt 10.000.000 đồng, còn đòi Bên A bồi thường 30.000.000 đồng nhưng Bên A không đồng ý

Vì vậy, Bên B đã không thanh toán nốt 120.000.000 đồng, dù đã quá hạn 3 tháng theo thỏa thuận Hai bên đã nhiều lần gặp nhau nhưng chưa thống nhất cách giải quyết tranh chấp này

Trang 2

        Tháng 8-2009, công ty TNHH xây dựng Vân Hà có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản

Trang 3

Các vấn đề đặt ra và hướng giải quyết:

1 Công ty cổ phần Đông Mỹ, doanh nghiệp tư nhân Minh Hà và công ty TNHH Vạn Xuân có thể thỏa thuận góp vốn để thành lập Doanh nghiệp A hay không? Vì sao?

Căn cứ theo điều 13 chương II của luật Doanh nghiệp năm 2005 thì cả ba

tổ chức là công ty cổ phần Đông Mỹ, doanh nghiệp tư nhân Minh Hà và công ty TNHH Vạn Xuấn có thể thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp tư nhân A

2 Doanh nghiệp A có thể là những loại hình doanh nghiệp nào theo Luật Doanh nghiệp năm 2005? Vì sao?

Doanh nghiệp A có thể là một trong những loại hình doanh nghiệp sau: Công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên

Theo điều 77 chương IV luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ chia ra thành nhiều phần bằng nhau, cổ đông có thể

là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp A đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện này và có thể là công ty

cổ phần

Theo điều 38 chương III luật Doanh nghiệp 2005, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi

số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp A đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện này và có thể là công ty TNHH hai thành viên trở lên

Trang 4

3 Doanh nghiệp A phải thực hiện đăng ký kinh doanh tại đâu với Hồ sơ đăng ký kinh doanh có những tài liệu gì? Nêu rõ căn cứ pháp lý cho lập luận của mình?

Theo khoản 1 điều 7 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh có nêu: “Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký kinh doanh; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp” Và cũng theo điểm a khoản

1 điều 6 của nghị định này thì “Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở

Kế hoạch và Đầu tư” Như vậy, doanh nghiệp A phải thực hiện đăng ký kinh doanh tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Dương

Trong trường hợp doanh nghiệp A thành lập chi nhánh tại Huyện Bảo Lộc Tỉnh Lâm Đồng thì doanh nghiệp A phải gửi thông báo thành lập chi nhánh tới Phòng đăng ký kinh doanh Tỉnh Lâm Đồng Mọi quy định và thủ tục thành lập được tiến hành theo điều 24 Nghị Định 88/2006/NĐ-CT về "Đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh

Theo điều 15 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp A cần những tài liệu sau:

1 Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định

2 Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp A Dự thảo điều lệ phải có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần (trong trường hợp này cần có chữ ký của ông Trần Minh Hà, người đại

Trang 5

diện theo pháp luật Công ty cổ phần Đông Mỹ, người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Vạn Xuân)

3 Danh sách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

A, danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần A lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định Kèm theo danh sách thành viên hoặc danh sách

cổ đông sáng lập phải có:

a Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 18 Nghị định này đối với ông Trần Minh Hà

b Bản sao Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác của Công ty Cổ phần Đông Mỹ và Công ty TNHH Vạn Xuân, bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 18 Nghị định này của người đại diện theo uỷ quyền và quyết định

uỷ quyền tương ứng đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty

Cổ phần Đông Mỹ và Công ty TNHH Vạn Xuân

4 Tranh chấp giữa Bên A và Bên B có thể đưa ra giải quyết bằng phương thức trọng tài thương mại hay không? Vì sao?

Theo điều 1 Pháp lệnh trọng tài thương mại 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội thì trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên Cũng theo khoản 3 điều 2 của pháp lệnh này thì tranh chấp giữ Bên A và Bên B phát sinh từ hoạt động thương mại Theo khoản 1 điều 3 Pháp lệnh trọng tài thương mại 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nêu “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa

Trang 6

thuận trọng tài” Và cũng theo điều 9 của pháp lệnh này về hình thức thỏa thuận trọng tài có quy định:

1 Thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chỉ của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản

2 Thỏa thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng

Như vậy, tranh chấp giữ Bên A và Bên B có thể đưa ra giải quyết bằng phương thức trọng tài thương mại nếu hai bên có thỏa thuận trọng tài

5 Hãy nêu những quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết tranh chấp này bằng phương thức trọng tài thương mại?

Căn cứ theo Chương V Pháp lệnh trọng tài thương mại 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về tố tụng trọng tài thì những quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thương mại như sau:

Đơn kiện (căn cứ theo điều 20 của pháp lệnh): Để giải quyết vụ tranh

chấp tại Trung tâm Trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi Trung tâm Trọng tài Để giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm Trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập

Thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài (căn cứ

theo điều 21 của pháp lệnh):

1 Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật có quy định thời hiệu khởi kiện thì thực hiện theo quy định đó của pháp luật

Trang 7

2 Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm,

kể từ ngày xảy ra tranh chấp, từ trường hợp bất khả kháng Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra sự kiện cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng

Phí trọng tài (căn cứ theo điều 22 của pháp lệnh): Trong trường hợp giải

quyết vụ tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài thì Ban điều hành Trung tâm Trọng tài ấn định phí trọng tài theo Điều lệ của Trung tâm Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập thì phí trọng tài

do Hội đồng Trọng tài ấn định Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Địa điểm tiến hành trọng tài (căn cứ theo điều 23 của pháp lệnh): Các

bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp; nếu không có thỏa thuận thì Hội đồng Trọng tài quyết định, nhưng phải bảo đảm thuận tiện cho các bên trong việc giải quyết

Thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài (căn cứ theo

điều 25 của pháp lệnh): Hội đồng trọng tài bao gồm các trọng tài viên Việc chỉ định trọng tài viên tùy thuộc vào tình huống cụ thể sẽ do nguyên đơn, bị đơn, chủ tịch trung tâm trọng tài, trong tài viên khác chỉ định

Hội đồng trọng tài do các bên thành lập theo điều 26 của pháp lệnh Tùy vào tính huống cụ thể, trọng tài viên được chỉ định bởi bị đơn, Toàn án tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài theo điều 27 Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đền yêu cầu của nguyên đơn theo điều 28 Ngoài ra từ điều 29 đến 36 cũng quy định một số các bước trong chuẩn bị giải quyết tranh chấp như: xem xét nghiên cứu thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng

cứ, biện pháp khẩn cấp tạm thời… Một điểm chú ý trong điều 37 là “Trong quá

Trang 8

trình tố tụng trọng tài, các bên có thể tự hòa giải Trong trường hợp hòa giải thành thì theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng”

Từ điều 38 đến 42 là một loạt những quy định xoay quanh phiên họp giải quyết tranh chấp như: thời gian, tham dự phiên họp, hoãn phiên họp, biên bản phiên họp…

Quyết định trọng tài: Từ điều 43 đến 47 là các quy định liên quan đến

quyết định trọng tài như: nội dung quyết định, công bố quyết định, sửa chữa quyết định, đình chỉ giải quyết tranh chấp

Trong Chương VI của pháp lệnh là những quy định về hủy quyết định trọng tài, thi hành quyết định trọng tài “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trọng tài, nếu có bên không đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài, để yêu cầu hủy quyết định trọng tài” “Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy theo quy định tại Điều 50 của Pháp lệnh này, bên được thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài” Đây là khâu cuối cùng trong thủ tục giải quyết tranh chấp bằng hình thức Trọng tài thương mại

6 Bên B có thể đòi bồi thường thiệt hại hay không? Vì sao?

Theo điều 40 luật Thương mại 2005, bên bán (bên A) phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua (bên B), kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro; Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán

vi phạm hợp đồng Trừ trường hợp bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ

Trang 9

khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua

đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bên A khi có đầy đủ các yếu tố sau (theo điều 303 luật thương mại 2005):

1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;

2 Có thiệt hại thực tế;

3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại

Tuy nhiên, Bên B cũng phải chứng minh được tổn thất của mình theo điều

304 luật Thương mại 2005: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”

Như vậy, nếu Bên B chứng minh được tổn thất của mình do Bên A gây ra thì Bên B có quyền đòi bồi thường thiệt hại

7 Nếu Bên A (và ngược lại Bên B) khởi kiện thì đơn kiện có thể gửi đến Tòa

án cụ thể nào? Vì sao?

Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì tranh chấp giữ bên A và bên B là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Theo điểm b khoản 1 điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp

về kinh doanh, thương mại

Theo điểm g khoản 1 điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, “nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết”

Trang 10

Như vậy, trong trường hợp này Bên A (và ngược lại Bên B) khởi kiện thì đơn kiện có thể gửi đến Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giải quyết

8 Hãy nêu những quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết tranh chấp này bằng phương thức Tòa án?

a) Khởi kiện và thụ lý vụ án: Bên A hoặc bên B khởi kiện lên Tòa án nhân dân

(TAND) huyện Lâm Hà TAND huyện Lâm Hà có thẩm quyền chấp nhận đơn của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết TAND khi nhận được đơn khởi kiện phải xem xét nếu vụ án thuộc thẩm quyền và đơn kiện không rơi vào các trường hợp bị trả lại đơn kiện thì thông báo để nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được thông báo người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí Toà án chính thức thụ lý vụ

án khi nguyên đơn xuất trình hoá đơn nộp tiền tạm ứng án phí

b) Chuẩn bị xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến

hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Theo điều 187, 188 Bộ luật dân sự, “hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không

có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”

c) Phiên tòa sơ thẩm: Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu

lực pháp luật mà trong thời hạn pháp luật quy định có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Hết thời hạn mà không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định của phiên toà sơ thẩm có hiệu lực pháp luật

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w