1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HUỐNG 5 Phân tích tình huống và chỉ rõ những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết tình huống

15 37 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tình huống và chỉ rõ những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết tình huống
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HUỐNG 5 TÌNH HUỐNG 5 1 Phân tích tình huống và chỉ rõ những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết tình huống Để giải quyết tình huống này, trước hết ta cần xét xem ngôi nhà ông Viễn đang chiếm[.]

Trang 1

TÌNH HUỐNG 5.

1 Phân tích tình huống và chỉ rõ những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết tình huống.

Để giải quyết tình huống này, trước hết ta cần xét xem ngôi nhà ông Viễn đang chiếm hữu là hợp pháp hay bất hợp pháp, có căn cứ hay không căn cứ pháp luật Trong lời khai của ông Viễn thì ông cũng thừa nhận rằng diện tích đất mà ông đang sử dụng và xây nhà ở là đất công và chưa được phép xây dựng Như vậy, có thể khẳng định, việc chiếm hữu của ông Viễn đối với diện tích đất này là không có căn cứ pháp luật bởi nó không phù hợp với qui định của điều 183 BLDS Tuy ông khẳng định đã chiếm hữu liên tục và công khai trong một thời gian dài (đã sử dụng ổn định đến khi bán được 09 năm không

bị cơ quan nào xử lý), nhưng theo khoản 2 điều 247: “người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó” Như vậy, căn nhà cấp 4 mà ông Viễn giao kết hợp đồng mua bán với bà Thanh và ông Thịnh là chiếm hữu bất hợp pháp

và không có căn cứ pháp luật Và nếu theo luật định, ông Viễn phải hoàn trả căn nhà này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo qui định tại Điều 599 BLDS: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không

có căn cứ pháp luật thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ”

Theo tình huống, “khi thoả thuận, ông Viễn khẳng định ngôi nhà và diện tích đất trên thuộc quyến sở hữu của ông Viễn hợp pháp không có tranh chấp Vì tin vào những thông tin đó vợ chồng bà đã giao cho ông Viễn 34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu đồng) để mua nhà đất trên”, mà trên thực

tế, ông Viễn không phải là chủ sở hữu của ngôi nhà Có thể thấy, ông Viễn đã

có hành vi lừa dối, đưa ra những thông tin không đúng về ngôi nhà làm vợ chồng bà Thanh ông Thịnh hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất nên đã xác lập giao dịch đó Do đó, theo qui định tại điều 132 BLDS thì: “khi một bên tham

Trang 2

gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”

Tình huống nêu ra ông Viễn và vợ chồng ông bà Thanh Thịnh đã giao kết hợp đồng mua bán nhà ở tuy nhiên, về hình thức hợp đồng thì lại trái với qui định tại điều 450 BLDS về hình thức hợp đồng mua bán nhà ở Theo điều

450, “hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” Nhưng trong trường hợp này, để mua nhà đất trên chỉ có giấy viết tay tiêu đề “Giấy Biên Nhận” ngày 01/06/2006 do người làm chứng là bà Hoàng Thị Loan viết hộ và cùng hai bên mua bán ký ghi họ tên trong giấy đó Xét trên phương diện pháp lí,hợp đồng này tuy vi phạm về hình thức hợp đồng dân sự nhưng theo khoản

2 Điều 401 BLDS thì “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” Tuy nhiên, giao dịch dân sự này lại vi phạm điều 134 BLDS về giao dịch dân sự vô hiệu

do không tuân thủ qui định về hình thức

Theo ông bà Thanh thì ông Viễn đã đưa ra thông tin không đúng sự thật về căn nhà cấp 4 mà ông định bán Ông Viễn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên bán nhà ở theo Điều 451 BLDS, trong đó tại khoản 1, bên bán có nghĩa vụ “thông báo cho bên mua về các hạn chế quyền sở hữu đối với nhà mua bán” Ở đây, ông Viễn không phải là chủ sở hữu của ngôi nhà, nhưng vì muốn bán nhà nên đã có hành vi lừa dối ông bà Thanh Thịnh và không cung cấp những thông tin về quyền sở hữu ngôi nhà cho họ biết Cũng vì lấn chiếm đất công, vi phạm điều 140 Luật đất đai 2003 nên ngày 12/06/2006 UBND phường đã kiểm tra phạt vi phạm hành chính, ngày 15/06/2006 UBND phường đã phá dỡ căn nhà 20m2 mà ông bà Thanh đã mua của ông Viễn

Từ hành vi lừa dối khi thực hiện giao dịch dân sự của ông Viễn, dẫn tới hậu quả pháp lí mà ông bà Thanh Thịnh đã yêu cầu trong tình huống, đó là ông Viễn phải hoàn trả lại 34.000.000.000 đồng tiền mua căn nhà của ông bà

Trang 3

Điều này là phù hợp với qui định tại điều 137 BLDS: “Khi giao dịch dân sự

vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những

gì đã nhận ” Tuy nhiên, yêu cầu trả thêm phần lãi suất theo thời giá ngân hàng cũng như việc đền bù giá trị vật liệu 50.000.000 đồng và bồi thường số tiền thuê nhà cho vợ chồng bà Thanh trong 01 năm là 7.942.000 là không có căn cứ pháp luật, bởi khi hai bên giao kết với nhau thì không hề thỏa thuận về việc trông giữ nguyên vật liệu và tiền thuê nhà của ông bà Thanh Thịnh

2 Viện dẫn các điều luật được áp dụng để giải quyết tình huống;

Đ450 – khoản 2 Đ122 – khoản 2 Đ124, Đ451, Đ453, Đ454,

Đ134, khoản 1 Đ136, Đ137; khoản 2 Điều 159 Bộ luật dân sự 2005

Điểm a khoản 6 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 43; điểm c khoản 2 Điều 43 luật đất đai 2003

Điều 9, Điều 10, Điều 21 Luật nhà ở năm 2005

3 Cách giải quyết vụ việc của nhóm và kết luận của nhóm;

Yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự và hoàn trả số tiền đã chuyển giao cảu

vợ chồng ông Thanh:

Thứ nhất: Trong tình huống trên: theo trình bày của Bà Trần Thị Thanh

và Ông Đỗ Khắc Thịnh (do bà Thanh là người giám hộ) thì vào ngày

01/06/2006 giữa vợ chồng bà Thanh, ông Thịnh với ông Dương Văn Viễn đã giao kết hợp đồng mua bán nhà ở tại số nhà 97 ngõ 10 tổ 24 phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội Ông Dương Văn Viễn đã đưa ra thông tin không đúng sự thật về căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 20m tại địa chỉ trên Khi thoả thuận ông Viễn khẳng định ngôi nhà và diện tích đất trên thuộc quyến sở hữu của ông Viễn hợp pháp không có tranh chấp Nhưng thực tế ngôi nhà trên được xây dựng trên nền đất do ông Viễn lấn chiếm đất công nên quyền sử dụng đất này không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông mà

sẽ bị thu hồi theo điểm a khoản 6 Điều 38 Luật đất đai và dĩ nhiên ông không

Trang 4

phải là chủ sở hữu nhà hợp pháp theo Điều 9 và Điều 10 Luật nhà ở; dẫn đến ông không có quền của chủ nhà ở đối với nhà ở nói trên theo Điều 21 Luật

nhà ở: cụ thể ông không được phép bán; hành vi này của ông Viễn làm cho

bên tham gia giao dịch là vợ chồng bà Trần Thị Thanh hiểu sai lệch về đối tượng của giao dịch dân sự Vì vậy, giao dịch dân sự của vợ chồng bà Thanh

và ông Viễn được xem là vô hiệu theo Điều 132 BLDS về giao dịch dân sự

vô hiệu do bị lừa dối

Nhưng theo trình bay của ông Viễn thì : “ Ông xác nhận giữa ông với vợ chồng bà Thanh ông Thịnh có giao dịch mua bán căn nhà cấp 4 diện tích 20m2 với giá tiền là 28.000.000 đồng Đó là giá nguyên vật liệu và công xây dựng không tính giá trị sử dụng đất Khi mua bán hai bên đã trao đổi nhất trí giá cả như trên với hiện trạng nhà mà vợ chồng bà Thanh đã xem xét Việc ông xây dựng nhà cấp 4 trên phần đất công không có phép nhưng đã sử dụng

ổn định đến khi bán được 09 năm không bị cơ quan nào xử lý Do vợ chồng ông bà Thanh sau khi tiếp nhận nhà đã cải tạo làm thêm tum sắt, không được phép của địa phương nên bị xử lý phá dỡ toàn bộ nhà ở đã mua Khi trao đổi mua bán nhà, ông đã nói trước nhà chỉ ở nếu xây dựng cơi nới trái phép mà bị phá dỡ thì bên mua tự chịu trách nhiệm, bên mua vẫn nhất trí mua” Căn nhà được xây dựng trên nền đất công do ông Viễn lấn chiếm nên ngôi nhà không thể là đối tượng của giao dịch dân sự; việc xác lập của hai bên dù có tự nguyện thì giao dịch này cũng không có giá trị pháp lý

Thứ hai: Vì tin vào những thông tin đó vợ chồng bà đã giao cho ông Viễn

34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu đồng) để mua nhà đất trên có giấy viết tay tiêu đề “Giấy Biên Nhận” ngày 01/06/2006 do người làm chứng là bà Hoàng Thị Loan viết hộ và cùng hai bên mua bán ký ghi họ tên trong giấy đó Dẫn

chiếu Điều 450 BLDS quy định về hình thức hợp đồng mua bán nhà: “hợp

đồng mua bán nhà ở phải lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Nhưng trường hợp trên hai bên

Trang 5

tham gia giao dịch chỉ có “Giấy Biên Nhận” ngày 01/06/2006 do người làm chứng là bà Hoàng Thị Loan viết hộ; hình thức giao dịch này không phù hợp với quy định tại Điều 450 BLDS nên theo Ddieeuf134 BLDS quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, thì giao dịch trên cũng vô hiệu

Vì hai lý do nói trên, giao dịch dân sự về mua bán nhà ở của vợ chồng bà Thanh với ông Viễn vô hiệu Theo khoản 2 Điều 159 thì thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố giao dịch dân sự về mua bán nhà ở giữa vợ chồng bà Thanh và Ông viễn vô hiệu Căn cứ Điều 137 BLDS buộc ông Viễn phải hoàn trả lại số tiền là 28.000.000 đồng cho vợ chồng bà Thanh

Đối với yêu cầu đền bù giá trị vật liệu 50.000.000 đồng mà vợ chồng bà Thanh yêu cầu vì đã bỏ ra mua nguyên vật liệu để xây dựng lại nhà do nhà bị phá dỡ vật liệu để tại đất nhà ông Viễn đã bị mất Ông Viễn đã nói miệng là

sẽ đảm bảo để người nhà ông Viễn xây dựng lại nhà cho ông bà, giữa hai bên không có thoả thuận nào về việc trông coi nguyên vật liệu nói trên nhưng do ông Viễn bán nhà không hợp pháp dẫn đến ông bà bị thiệt hại mất mát nguyên vật liệu thì ông Viễn phải có trách nhiệm Nhận thấy, nguyên vật liệu thuộc sở hữu của vợ chồng bà Thanh; được ông bà vận chuyển đến để tại nền đất lấn chiếm của ông Viễn bi phá dỡ vì xây dựng trái pháp luật dẫn đến mất tài sản do không ai trông dữ Vì ông bà muốn xây dựng nhà ở trên đất mà không biết ông Viễn lấn chiếm nên đã đưa nguyên vật liệu đến đây nhưng lại không thuê người trông giữ và ông Viễn cũng không được xác định là người trông giữ nên có thiệt hại xảy ra chủ sở hữu là người phải chịu Vì vậy, yêu cầu của vợ chồng bà Thanh không có cơ sở và không buộc ông Viễn không phải bồi thường trong trường hợp này

Yêu cầu ông Viễn phải bồi thường số tiền vợ chồng bà đã phải chi phí thuê nhà ở một năm 7.492.000 đồng, vì ông Viễn bán nhà không hợp pháp đã bị

Trang 6

phá dỡ, vợ chồng ông bà Thanh Thịnh không có chỗ ở nên ông Viễn phải có trách nhiệm chi phí thuê nhà trên Căn cứ khoản 2 Điều 137: bên có lỗi phải bội thường thiệt hại, chấp nhận yêu cầu của vợ chồng bà Thanh buộc ông Viễn phải bội thường cho vợ chồng bà số tiền 1.492.000 đồng tiền thuê nhà trong thời gian đợi nhận nhà và thời gian giải quyết tranh chấp

Kết luận: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là vợ chồng bà Thanh; tuyên

bố giao dịch mua bán nhà của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh và ông Viễn

vô hiệu Buộc ông Viễn hoàn trả và bội thường thiệt hại số tiền tổng cộng 35.492.000 đồng cho vợ chồng bà Thanh Ông Viễn còn phải chịu án phí, hoang trả cho vợ chồng bà Thanh tiền tạm ứng án phí Các bên đương sự, người đại diện của các bên có quyền kháng nghị quyết định này trong vòng

15 kể từ ngày ra quyết định này

4 Chỉ ra những điểm hạn chế trong các quy định của BLDS liên quan đến tình huống và đưa ra quan điểm hoàn thiện pháp luật.

Như nhóm đã phân tích ở câu 1, khi viện dẫn ra các điều luật thì đã dẫn đến một số vướng mắc và mâu thuẫn giữa chính các điều luật với nhau

Quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự là sự cụ thể những quy định chung

về điều kiện hình thức của hợp đồng Các tranh chấp về một hợp đồng cụ thể

có liên quan đến hình thức của hợp đồng là phải áp dụng Điều 401 mà đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự đã ghi rõ là “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Điều luật này có vẻ như mâu thuẫn với các quy định tại Điều 134

và Điều 136 Bộ luật Dân sự Có nhiều ý kiến cho rằng các tranh chấp hợp đồng mà vi phạm điều kiện về hình thức là không bị vô hiệu Nhiều ý kiến khác lại tỏ ra phân vân không hiểu phải xử lý như thế nào cho đúng khi hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức vì các quy định ở phần giao dịch và phần hợp đồng mâu thuẫn nhau

Trang 7

Tuy nhiên, để tránh các hiểu lầm không đáng có, theo nhóm chúng tôi khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005 cần bỏ đoạn hai khoản 2 Điều 401 Mặc

dù chúng tôi cũng cho rằng có lẽ dụng ý khi bổ sung thêm đoạn hai khoản 2 Điều 401 nhà làm luật muốn lưu ý khi áp dụng Điều 401 phải gắn với quy định ở phần giao dịch trong Bộ luật Dân sự và các quy định khác có liên quan đến hình thức của giao dịch hoặc hợp đồng Nhưng vì các quy định về hình thức, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu ở phần giao dịch là đã khái quát và đầy đủ Hơn nữa, Điều 121 Bộ luật Dân sự đã định nghĩa rất rõ: “Giao dịch dân sự là một hợp đồng…” thì đương nhiên các quy định ở phần giao dịch phải áp dụng ở phần hợp đồng, trừ trường hợp các quy định ở phần hợp đồng là cụ thể và có tính đặc thù khác với quy định ở phần giao dịch thì mới áp dụng quy định ở phần hợp đồng mà không áp dụng quy định chung ở phần giao dịch Do đó, việc thêm đoạn hai khoản 2 Điều 401 dẫn đến phản tác dụng gây lúng túng, hiểu lầm đây là một quy định mới riêng biệt đặc thù chỉ áp dụng cho phần hợp đồng, từ đó cho rằng “… quy định khác” là các quy định của pháp luật về hợp đồng mới có giá trị áp dụng cho các tranh chấp riêng về hợp đồng như quan điểm hai nói trên Nếu muốn giữ tinh thần đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự thì phải viết rõ hơn nữa

TÌNH HUỐNG 14.

1 Phân tích tình huống và chỉ rõ những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết tình huống:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn Tráng – Sinh năm 1964

Bị đơn: Anh Ngô Ngọc Diên - Sinh năm 1974

Ngày 11/8/2008 Anh Tráng cho anh Diên vay 70.000.000 đồng hạn trả từ

10 đến 15 ngày với lãi suất 8000 đồng/triệu/ ngày tức với lãi suất 24%/ tháng

Trang 8

Khi vay tiền anh Diên để lại chứng minh nhân dân để bảo đảm Do làm ăn thua lỗ nên quá hạn anh Diên chưa có tiền trả đủ cho anh Tráng nhưng do anh Tráng đòi nhiều lần nên anh Diên trả cho anh Tráng 3 lần vào các ngày 11/6/2008; Ngày 13/10/2008;Ngày 22/10/2008 Với tổng cộng 73 triệu đồng Khi trả tiền anh Diên đề nghị tính vào gốc nhưng anh Tráng không đồng ý Anh Tráng kiện anh Diên đòi anh Diên trả 70.000.000 đồng tiền gôc và 22.000.000 đồng tiền lãi chậm trả còn thiếu Anh Diên thì yêu cầu Tòa trừ số tiền 73.000.000 vào tiền gốc và số tiền lãi còn thiếu từ ngày vay đến nay sẽ trả theo lãi suất ngân hàng Nhà nước

Những tình tiết có ý nghĩa:

1 Theo tình huống đã nêu thì anh Tráng cho anh Diên vay 70.000.000 đồng với lãi suất 8000 đồng/ triệu/ ngày tức 24%/ tháng so với mức lãi suất

cơ bản tại thời điểm này của Ngân hàng nhà nước 0,729%/tháng Theo Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản (150%x 0,729%= 1,0935%) Như vậy việc anh Tráng cho anh Diên vay với lãi suất 24% là tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc Không chỉ có vậy anh Tráng có giảm tiển lãi cho anh Diên xuống mức 12%/tháng cũng không phù hợp với quy định của pháp luật

2 Sau khi quá hạn vay anh Diên đã trả cho anh Tráng 3 lần với tổng số tiền là 73.000.000 đồng Theo anh Diên số tiền này được trừ vào tiền gốc nhưng anh Tráng không đồng ý và cho rằng số tiền này được trừ vào tiền lãi Thời hạn thực hiện nghĩa vụ của anh Diên là 15 ngày kể từ ngày vay tiền, nhưng sau 15 ngày anh Diên đã không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình, đến ngày 11/6/2008 anh Diên mới trả một khoản tiền trị giá 10000000 đồng, và đến ngày 13/10/2008 anh Diên trả tiếp một khoản thứ hai là

15000000 đồng, đến ngày 20/10/2008 anh trả khoản thứ ba là 48000000 đồng

Trang 9

3 Anh Diên yêu cầu trừ số tiền đã trả vào tiền gốc và số “tiền lãi còn

thiếu được tính từ ngày vay đến nay anh sẽ có trách nhiệm trả nốt cho anh Tráng nhưng tiền lãi tính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” Như vậy

theo anh Diên thì tiền lãi từ ngày vay sẽ được tính theo quy định của Ngân hàng bao gồm cả lãi trong hạn và lãi quá hạn Có thể nhận thấy quan điểm của anh Tráng và anh Diên là trái ngược nhau về việc tính lãi điều này sẽ dẫn tới việc xảy ra tranh chấp giữa hai bên về việc tính lãi suất

2 Viện dẫn các điều luật được áp dụng để giải quyết tình huống:

Đối với tình huống đã cho ở trên, sau khi phân tích chúng em thấy có thể

áp dụng được các điều luật sau đây để giải quyết:

Thứ nhất, áp dụng Điều 427 BLDS quy định về thời hiệu khởi kiện của hợp đồng dân sự để có thể xác định được chính xác nhất thời gian xảy ra vi phạm

trong hợp đồng từ đó thấy được quyền và nghĩa vụ của các bên khi vi phạm

Thứ hai, chúng ta còn áp dụng Điều 471 BLDS xác định rằng hợp đồng trong tình huống đã cho là hợp đồng vay tài sản từ đó áp dụng các điều luật

có liên quan về quyền và nghĩa vụ của các bên, lãi suất… để giải quyết tình huống sao cho hợp lý nhất

Cũng từ đó, chúng ta áp dụng Điều 474 quy định về Nghĩa vụ trả nợ của

bên vay đặc biệt là ở khoản 5 mà cụ thể là : “trong trường hợp vay có lãi mà

khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Mặt khác, chúng ta còn áp dụng Điều 476 BLDS quy định về lãi suất đối

với tình huống trên, cụ thể : “1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Trang 10

2 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Ngoài ra còn có thể tham khảo Mục 4, Phần I Thông tư liên tịch số 01/

1997 của Toà án nhân dân tồi cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ Tài chính.

3 Cách giải quyết vụ việc của nhóm và kết luận của nhóm:

Căn cứ vào khoản 1 điều 476 BLDS: “lãi suất vay do các bên thỏa thuận

nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” Trong tình huống trên anh

Tráng đã cho anh Diên vay với lãi suất 24%/tháng, theo (Quyết định số 978/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực từ ngày 1/5/2008 công bố mức lãi suất cơ bản là 0,729%/tháng) Trong thỏa thận anh Tráng đã cho anh Diên vay với mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố do đó khoản lãi trong hạn 15 ngày sẽ được tính theo quy định của pháp luật Tại khoản 2 điều 476 BLDS

có quy định: “trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng

không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất

cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” Như vậy lãi suất giữa anh Tráng và anh Diên trong hạn 15 ngày

kể từ ngày 11/5/2008 sẽ được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố (0,729%/tháng) Sau thời hạn 15 ngày anh Diên không trả được

nợ cho anh Tráng và đến tận ngày 11/6/2008 anh Diên mới trả cho anh Tráng một khoản trị giá 10000000 đồng Theo quy định tại khoản 2 điều 305:

“Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w