LỜI NÓI ĐẦU Thực trạng áp dụng Incoterms tại Công ty SILICOM Group – Giải pháp đổi mới Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khoa Kinh tế Luật Ngành Luật Thương mại Quốc tế Lớp K05502 Báo cáo thực tậ[.]
Trang 1Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Kinh tế - Luật Ngành Luật Thương mại Quốc tế - Lớp K05502
Báo cáo thực tập
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG INCOTERMS TẠI CÔNG TY SILICOM GROUP - GIẢI
PHÁP ĐỔI MỚI
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hồng Nhung
Sinh viên thực hiện:
HUỲNH NHƯ Ý – K055021473
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế toàn cầu mở ra cơ hội to lớn hơn bao giờ hết để doanh nghiệp tiếp cậntới các thị trường khắp nơi trên thế giới Hàng hoá được bán ra ở nhiều nước hơn, với sốlượng ngày càng lớn và chủng loại đa dạng hơn Giao dịch mua bán quốc tế ngày càngnhiều và phức tạp, do vậy, nếu hợp đồng mua bán hàng hoá không được soạn thảo mộtcách kỹ lưỡng sẽ có nhiều khả năng dẫn đến sự hiểu nhầm và những vụ tranh chấp tốnkém tiền bạc1
Incoterms, quy tắc chính thức của Phòng Thương Mại Quốc tế về giải thích cácđiều kiện thương mại, tạo điều kiện cho giao dịch thương mại quốc tế diễn ra một cáchtrôi chảy
Tuy nhiên, trên thực tế, việc vận dụng Incoterms 2000 một cách có hiệu quả chodoanh nghiệp không phải là một việc đơn giản
Do đó, việc tìm hiểu sâu hơn các điều kiện giao hàng trong Incoterms 2000 là hếtsức cần thiết và bổ ích Nó giúp doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro trong quá trìnhhoạt động kinh doanh.Và sau đây, tôi sẽ tiếp cận và đi vào tìm hiểu về Thực trạng sửdụng Incoterms 2000 trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp- Công
ty SILICOM Group với phương pháp phân tích tổng hợp, từ đó đưa ra các giải pháp đổimới cho doanh nghiệp
Bài báo cáo thực tập cơ bản gồm ba chương đi từ những vấn đề chung vềIncoterms 2000, thực trạng sử dụng Incoterms 2000 tại doanh nghiệp và các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Incoterms tại doanh nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ INCOTERMS 2000
Trang 31.1 Khái quát chung về Incoterms
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Incoterms
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, kinh tế thế giới phục hồi, buôn bán quốc
tế phát triển và mở rộng Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mạiphát triển giữa các quốc gia, khi các thương nhân quốc tế bất đồng về ngôn ngữ,chịu sự điều tiết khác nhau về tập quán thương mại dễ dẫn tới hiểu lầm, tranhchấp kiện tụng làm lãng phí thời gian và của cải của con người và xã hội, PhòngThương mại quốc tế ICC – International Champer of Commerce có trụ sở tạiParis, đã xây dựng Điều kiện thương mại quốc tế ( Incoterms- InternationalCommercial Terms ) lần đầu tiên vào năm 1936 Lập tức, Incoterms được nhiềunhà doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ hiểu,phản ánh được các tập quán thương mại phổ biến trong buôn bán quốc tế Ngoài
ra, khi môi trường và điều kiện kinh doanh quốc tế thay đổi thì Incoterms cũngđược hoàn thiện và đổi mới theo biểu hiện tính năng động và thực tiễn Thật vậy,
từ ngày ra đời đến nay, Incoterms đã được sửa đổi và bổ sung 6 lần vào các năm
1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và 20002
Ở văn bản Incoterms ban hành năm 1936 có nội dung chỉ bao gồm 7 điềukiện thương mại, đến Incoterms 1953 gồm 9 điều kiện, Incoterm 1967 gồm 11điều kiện, Incoterms 1980 gồm 14 điều kiện thương mại, và Incoterms 1990 cũngnhư Incoterms 2000 đều có 13 điều kiện thương mại
Về phương pháp trình bày của Incoterms cũng thể hiện tính cải tiến vàhoàn thiện qua các lần sửa đổi giúp các nhà doanh nghiệp dễ nhớ và dễ nắm vềnghĩa vụ và chi phí của mình trong từng điều kiện thương mại lựa chọn: Cụ thểcác Incoterms ban hành trước năm 1990 trình bày các điều kiện khó hiểu, không
có hệ thống vì không có sự phân nhóm Mỗi điều kiện được trình bày riêng rẽ,độc lập, giữa các điều kiện thương mại không có mối liên hệ với nhau Trong bảnIncoterm 1990 và Incoterms 2000, nội dung trình bày được cải tiến theo một trật
tự logic và khoa học: Các điều kiện thương mại chia 4 nhóm và mỗi điều kiệnthương mại trình bày nghĩa vụ của người bán, người mua trong 10 nhóm nghĩa vụmột cách đối ứng trên cùng một trang sách Điều này cho phép thấy được mộtcách rõ ràng: mỗi nghĩa vụ áp đặt đối với bên này sẽ giải phóng cho đối tác chínhnghĩa vụ đó
1.1.2 Vai trò của Incoterms trong thương mại quốc tế
2 Trích Võ Thanh Thu chủ biên- Đoàn Thị Hồng Vân – Incoterms 2000 & Hỏi và đáp về Incoterms – Nhà xuất bản Thống Kê – 2005 – Trang 15
Trang 4Incoterms trình bày các điều kiện thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho giao dịchthương mại quốc tế diễn ra một cách trôi chảy Việc dẫn chiếu đến Incoterms trong hợpđồng mua bán hàng hóa sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên và làmgiảm nguy cơ rắc rối về mặt pháp lý Như vậy, để hiểu rõ hơn về vai trò của Incoterms,trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu sơ lược về hợp đồng thương mại quốc tế như sau:
1.1.2.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trao đổi hàng hóa đã có lúc là hình thức chủ yếu của hoạt động thươngmại quốc tế Hiện nay, dù đã có nhiều hình thức thương mại mới,nhưng trao đổihàng hóa vẫn chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt
là ở Việt Nam chúng ta Các hình thức thương mại khác được hình thành sau này
có vai trò hỗ trợ cho việc xuất- nhập khẩu hàng hóa Chính vì vậy mà trước đâycũng như hiện nay hợp đồng thương mại hàng hóa quốc tế, đặc biệt là đối với ViệtNam chúng ta trong giai đoạn hiện nay, khi các loại hình thương mại dịch vụ liênquan đến sở hữu trí tuệ chưa được phổ biến và phát triển một cách rộng rãi
- Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các bên
có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Đối tượngcủa hợp đồng là hàng hóa phải được phép mua bán theo pháp luật của quốc giabên mua và bên bán3
- Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Là một hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế, do đó hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế mang đặc điểm của hợp đồng thương mạiquốc tế Đó là
o Luật điều chỉnh: không có pháp luật một quốc gia nào có giátrị áp dụng bắt buộc đối với các bên trong hợp đồng, việc ápdụng luật nào cho hợp đồng là hoàn toàn do sự lựa chọn củacác bên Không những thế hợp đồng thương mại quốc tế đượcđiều chỉnh không những bằng luật quốc gia mà còn được điềuchỉnh bởi: điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tếtùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên
3 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng
Trang 5o Giá cả và phương thức thanh toán: Các bên khi ký kết hợpđồng thương mại quốc tế thường đưa vào hợp đồng nhữngđiều kiện thanh toán đã được nghiên cứu và soạn thảo kỹ vàcác điều kiện bảo đảm thanh toán.Thủ tục hải quan: Để xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa, dịch vụcần thiết phải thực hiện một số thủ tục hải quan do luật củamỗi quốc gia quy định.
o Mối liên hệ mật thiết giữa các loại hợp đồng thương mại quốctế: Việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thươngđược đi kèm với việc ký kết một loạt hợp đồng: vận tải, bảohiểm, vay tín dụng…
o Quy định trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng
o Giải quyết tranh chấp ( thỏa thuận trọng tài)
Ngoài những đặc điểm của một hợp đồng thương mại quốc tế nóichung,hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có một đặc điểm điểnhình, đó là các bên thường áp dụng Tập quán Incoterms với tư cách làcông cụ có hiệu lực pháp lý bắt buộc để điều chỉnh quan hệ phát sinh
từ hợp đồng
1.1.2.2 Vai trò của Incoterms trong thương mại quốc tế
Incoterms 2000 được hiểu là tập quán thương mại quốc tế, là tập quánđược lặp đi, lặp lại nhiều lần trong buôn bán quốc tế và được các tổ chức quốc tế
có liên quan thừa nhận
Trong trường hợp, nếu hợp đồng được ký kết và có hiệu lực thì hai bênđều phải thực hiện Bởi vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì các cơ quan xét xử sẽdựa trên các điều khoản trong hợp đồng để phán quyết Còn trong trường hợp cácbên mua, bán thoả thuận sử dụng một tập quán thương mại quốc tế nào đó vàđược quy định trong trường hợp đồng thì khi có tranh chấp xảy ra các cơ quan xét
xử sẽ dựa trên các điều khoản đã được quy định của tập quán thương mại quốc tế
đó Do vậy, tuy không có tính pháp lý, song tập quán thương mại Incoterms trongthương mại quốc tế vẫn có vai trò quan trọng và được thể hiện trên các mặt sau:
- Nếu hai bên mua, bán nhất trí sử dụng tập quán Incoterms để thựchiện một hợp đồng ngoại thương cụ thể với các quy định cụ thể thì tập quánthương mại này mang tính cưỡng chế, bắt buộc phải thực hiện Điều này sẽ
Trang 6giúp cho việc tránh được những tranh chấp xảy ra do cách hiểu khác nhau vềcác thuật ngữ sử dụng giữa bên mua và bên bán.
- Nếu hai bên mua và bán không đưa ra một quy định cụ thể nào vềviệc áp dụng tập quán thương mại Incoterms trong hợp đồng thì khi xảy ratranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng các cơ quan xét xử bên cạnhviệc dựa vào các điều khoản đã quy định trong hợp đồng để phán quyết, họ cóthể sử dụng tập quán Incoterms trong thương mại quốc tế để phán xét
Tập quán Incoterms trong thương mại quốc tế tự nó không mang tính pháp
lý, bắt buộc nhưng một khi các chủ thể tham gia trong buôn bán quốc tế đã thoảthuận áp dụng Incoterms và đưa vào các điều khoản trong hợp đồng thì nó lạimang tính pháp lý quốc tế và bắt buộc phải thực hiện
Do đó, dù không có tính cưỡng chế nhưng không thể coi nhẹ vai trò của
Incoterms trong thương mại quốc tế Incoterms làm cho thương mại quốc tế dễdàng hơn và giúp người buôn bán ở các nước khác nhau để hiểu nhau Incoterms
là những quy định quốc tế được chấp nhận của chính phủ, chính quyền pháp lý vàchuyên môn trên toàn thế giới cho việc giải thích của hầu hết các thuật ngữthường sử dụng trong thương mại quốc tế Chúng hoặc là giảm bớt hoặc loại bỏnhững bất trắc, sự khác nhau phát sinh từ các điều khoản trong hợp đồng giữa cácnước khác nhau
1.2 Nội dung cơ bản của INCOTERMS 2000 (13 điều kiện giao hàng, chia thành 4 nhóm)
Có bốn vấn đề cơ bản được ấn định liên quan đến quyền và nghĩa vụ các bênphù hợp với mỗi điều kiện giao hàng:
- Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến vận chuyển hànghóa bao gồm cả những chi phí bổ sung có thể phát sinh trong quá trình vậnchuyển;
- Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc giải quyết các thủ tụchải quan ( thủ tục thông quan), liên quan đến việc xuất khẩu, nhập khẩuhàng hóa và quá cảnh sang quốc gia thứ ba bao gồm việc trả lệ phí hảiquan và các khoản lệ phí khác;
- Thứ ba, ấn định thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người muatrong trường hợp hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng;
- Thứ tư, ấn định nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hóa
Trang 7INCOTERMS 2000 bao gồm 13 điều kiện giao hàng, được chia thành 4 nhóm:
- Nhóm 1 gọi là nhóm “E”.Nhóm này chỉ có một điều kiện giao hàng đó là
EX WORK ( EXW ).Nếu hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết với điều kiện giao hang EXW, bên bán có nghĩa vụ duy nhất là giao hàng cho
bên mua tại xưởng của mình trong thời hạn được hợp đồng quy định,không xem xét việc vận chuyển, việc giao hàng hóa cho bên mua coi nhưbên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình Bên bán không cầnquan tâm đến việc bên mua vận chuyển hàng hóa ra khỏi xưởng của bênbán bằng phương tiện gì Nghĩa vụ của bên bán được cụ thể hóa bằng việc
cá thể hóa hàng hóa cho bên mua, có nghĩa là chuẩn bị hàng hóa để bênmua có thể tiếp nhận ( như hàng hóa được xếp riêng, được đóng gói, đượccân, được đếm hay đã được kiểm tra chất lượng…) và thông báo chongười mua ngày và địa điểm giao hàng Bên mua có nghĩa vụ phải làmmọi thủ tục hải quan liên quan đến xuất, nhập khẩu hàng hóa4
Kể từ thời điểm hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của bên mua, tất cảmọi rủi ro do bị mất mát hay hư hỏng đều đã được chuyển từ bên bán sang bênmua
- Nhóm 2 được gọi là nhóm “F” Nhóm này có các điều kiện giao hàng
sau:
FCA ( Free Carrier- giao cho người vận chuyển );
FAS ( Free Alongside Ship- giao dọc mạn tàu );
FOB ( Free On Board- giao lên boong tàu );
Đặc điểm chung của các điều kiện này là bên bán có nghĩa vụ phải giao
hàng đến phương tiện vận chuyển được bên mua quy định và đặt hàng hóa dưới
sự giám sát của người vận chuyển nhưng không có nghĩa vụ tổ chức việc vậnchuyển
Trong nhóm này, hợp đồng FOB thường được sử dụng nhiều nhất Theo Incoterms, thông thường FOB được hiểu là FOB boong tàu tức là người bán được
coi là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình tại thời điểm hàng hóa được
chuyển từ cầu cảng qua lan can tàu Theo pháp luật của Hoa Kỳ, điều kiện FOB chỉ có ý nghĩa chung và khác với FOB được quy định trong Incoterms Điều 2-
319 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ quy định FOB là một địa điểm giao
hàng xác định và bao gồm:
4 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 – Trang 174
Trang 8o Nếu là FOB địa điểm giao hàng thì người bán có nghĩa vụ phải giao
hàng tại địa điểm quy định và chịu mọi phí tổn, rủi ro xảy ra trước thờiđiểm giao hàng cho người vận chuyển
o Nếu là FOB địa điểm quy định thì người bán có nghĩa vụ phải chuyên
chở hàng hóa đến địa điểm quy định đó và giao chúng cho người vậnchuyển hay người mua
o Trong hai trường hợp trên nếu có quy định thêm FOB boong tàu, toa xe
hay một phương tiện vận chuyển nào khác thì người bán ngoài cácnghĩa vụ nói trên còn có thêm nghĩa vụ xếp hàng lên boong tàu hay toa
xe Trường hợp này giống với FOB theo quy định của Incoterms.
- Nhóm “C” có 4 điều kiện giao hàng:
CFR ( Cost and Freight - giá hàng và cước phí );
CIF ( Cost, Insurance, Freight – giá hàng, bảo hiểm và cước phí );
CPT ( Carriage Paid To… - cước phí được trả đến… );
CIP ( Carriage and Insurance Paid to… - cước phí và bảo hiểm đã
được trả đến… )
Đặc điểm chung cho tất cả các điều kiện thuộc nhóm này là, so với các
điều kiện thuộc nhóm “F”, bên bán có thêm nghĩa vụ phải ký hợp đồng vận chuyển đến địa điểm được quy định trong hợp đồng Hai điều kiện CFR và CIF
thường được sử dụng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và đườngsong, còn CIP và CPT được sử dụng đối với mọi loại phương tiện vận chuyển
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, điều kiện giao hàng CIF thường được
sử dụng nhiều nhất Khi nghiên cứu hợp đồng mua bán hàng hóa theo điều kiện
CIF, phải nghiên cứu nó dưới góc độ thương mại và góc độ pháp lý.
Dưới góc độ thương mại, mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa được
ký kết theo điều kiện CIF không phải chính việc mua bán hàng hóa mà là mua
bán chứng từ liên quan đến hàng hóa đó5
Theo hợp đồng mua bán với điều kiện giao hàng CIF, người bán được coi
là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi vận đơn được ký phát cho hàng hóa
5 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng
Trang 9Mục đích của người mua theo hợp đồng mua bán với điều kiện CIF là
nhận được một cách nhanh chóng nhất quyền định đoạt hàng hóa để có thể hoặcbán lại hàng hóa cho người thứ ba hoặc sử dụng chứng từ này để vay tín dụngngân hàng, sau đó là để nhận hàng hay tiền bảo hiểm trong trường hợp hàng hóa
bị mất mát, hư hỏng
Mục đích của người bán là cung cấp hàng hóa cho người mua, đồng thờiđảm bảo cho mình một lợi nhuận tối đa khi trả cước phí vận chuyển, mua bảohiểm cho hàng hóa và hạn chế được rủi ro một cách tối đa bởi vì người bán chỉgiao quyền định đoạt hàng hóa cho người mua khi được thanh toán mà không phảichịu trách nhiệm hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng trên đường vận chuyển
Dưới góc độ pháp lý, hợp đồng mua bán với điều kiện giao hàng CIF kết
hợp ít nhất các yếu tố của ba loại hợp đồng: hợp đồng mua bán; hợp đồng vậnchuyển và hợp đồng bảo hiểm
Theo Incoterms 2000, nếu hợp đồng mua bán hàng hóa với điều kiện giao
hàng CIF thì nghĩa vụ của các bên được quy định như sau:
Nghĩa vụ của bên bán:
o Giao hàng lên tàu tại cảng đi phù hợp với điều kiện của hợp đồngmua bán
o Ký kết hợp đồng vận chuyển, theo đó hàng hóa được vận chuyểnđến cảng đích được quy định trong hợp đồng vận chuyển
o Ký hợp đồng vận chuyển vì lợi ích của người mua
o Ký phát hóa đơn thương mại ( Commercial Invoice) cho người mua
o Giao cho người mua những chứng từ nói trên để người mua có thể:
Biết được số tiền cần thanh toán cho người bán
Nhận hàng khi tàu đến
Nhận được sự đền bù của công ty bảo hiểm trong trường hợphàng hóa bị mất mát, hư hỏng
Nghĩa vụ của bên mua:
o Nhận chứng từ liên quan đến hàng hóa từ bên bán và thanh toántiền hàng
Trang 10o Nhận hàng tại cảng đến, chịu mọi phí tổn liên quan đến hàng hóatrong thời gian vận chuyển, chịu mọi phí tổn liên quan đến việc dỡhàng khỏi tàu nếu các phí tổn này chưa được tính vào cước phí
o Chịu mọi rủi ro do hàng hóa bị mất mát, hư hỏng từ thời điểm hànghóa thực tế được giao qua lan can tàu tại cảng đi
o Trong trường hợp bên mua giành lấy quyền xác định thời hạn, trongkhoảng thời hạn đó hàng hóa phải được xếp lên nhưng đã khôngđưa ra những chỉ dẫn cần thiết, kịp thời thì phải chịu mọi phí tổnphát sinh từ thời điểm mà thời hạn giao hàng do họ quy định kếtthúc Trong trường hợp này, cần lưu ý là hàng hóa đã được cá thểhóa cho hợp đồng cụ thể, bởi vỉ nếu hết thời hạn giao hàng do bênmua ấn định nhưng bên bán không cá thể hóa hàng hóa là đối tượngcủa hợp đồng thì bên bán vẫn không phải chịu trách nhiệm do cácchi phí phát sinh nói trên
o Trả mọi khoản thuế, lệ phí nhập khẩu
o Bảo đảm nhận các loại giấy phép nhập khẩu
Việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo điều kiện giao hàng CIF
có một số đặc điểm, mặc dù những đặc điểm này không được nói đến trongIncoterms, tuy nhiên chúng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn Những đặcđiểm này liên quan đến việc làm chính xác hơn nghĩa vụ của bên bán trong vậnchuyển hàng hóa Ví dụ, trong những trường hợp nếu bên bán không những chỉ cónghĩa vụ chuyên chở hàng hóa mà cón có them nghĩa vụ bốc hàng từ tàu xuống
cầu cảng thì phải bổ sung vào điều kiện CIF thuật ngữ “ landed – bao gồm dỡ
hàng khỏi tàu”
Điểm khác biệt duy nhất giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo
điều kiện CFR và hợp đồng CIF là bên bán không có nghĩa vụ phải mua bảo
hiểm cho hàng hóa
Hợp đồng theo điều kiện CIP tương tự như hợp đồng theo điều kiện CIF, CPT, CFR Tuy nhiên, khác với CIF và CFR là chúng được áp dụng đối với mọi
loại phương tiện vận chuyển
- Nhóm “D” bao gồm 5 điều kiện giao hàng:
DAF ( Delivered At Frontier – giao hàng tại biên giới );
DES ( Delivered Ex Ship – giao tại tàu ở cảng quy định );
Trang 11 DEQ ( Delivered Ex Quay (Duty paid) – giao hàng tại cầu cảng của
cảng đến và trả thuế nhập khẩu );
DDU ( Delivered Duty Unpaid – giao hàng tận nơi nhưng chưa trả
thuế nhập khẩu );
DDP ( Delivered Duty Paid – giao hàng tận nơi, trả thuế nhập khẩu ).
Đặc điểm chung cho tất cả các điều kiện của nhóm này là bên bán phải
chịu mọi rủi ro, phí tổn liên quan đến việc chuyên chở hàng hóa đến địa điểm quy
định Trong nhóm này, hợp đồng mua bán hàng hóa theo điều kiện DAF được áp
dụng phổ biến nhất Điều kiện này thường được sử dụng trong những trường hợp,khi đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa được vận chuyển bằng đường sắt,đường bộ, tuy nhiên nó cũng có thể được sử dụng đối với các loại phương tiệnvận chuyển khác Theo điều kiện giao hàng này, nghĩa vụ của bên bán được coi làhoàn thành khi hàng hóa được qua thủ tục hải quan và được chở đến biên giới củabên mua6
Những nghĩa vụ cơ bản của bên bán và bên mua theo điều kiện DAF:
Đối với bên bán : giao hàng cùng với đơn giá hay một chứng từ nào khác
xác nhận hàng hóa phù hợp với điều kiện của hợp đồng; giao hàng tại biêngiới đúng địa điểm quy định trong ngày hoặc thời hạn được quy định;hoàn tất các thủ tục hải quan cũng như các thủ tục khác cần thiết cho việcxuất khẩu hàng hóa tại địa điểm quy định ở biên giới hay cần thiết chohàng hóa quá cảnh qua nước thứ ba; ký kết hợp đồng vận chuyển đến địađiểm quy định ở biên giới; chịu mọi rủi ro, phí tổn đến thời điểm hàng hóađược đặt dưới sự giám sát của bên mua tại biên giới; thông báo cho bênmua biết việc giao hàng và giao chứng từ vận chuyển cho bên mua
Đối với bên mua : tiếp nhận hàng hóa được giao tại địa điểm được quy
định; thanh toán tiền mua hàng; hoàn thành thủ tục nhập khẩu; chịu mọirủi ro và phí tổn từ thời điểm tiếp nhận hàng theo quy định của hợp đồng
Các điều kiện DES và DEQ được sử dụng trong các trường hợp khi đối
tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển hoặcbằng đường sông
Quyền và nghĩa vụ của các bên theo điều kiện DES hoàn toàn giống với điều kiện DAF Trong trường hợp này, địa điểm giao hàng là cảng đến, vì vậy
6 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 – Trang 179
Trang 12thời điểm giao hàng và thời điểm chuyển rủi ro được coi là thời điểm hàng hóađược đặt dưới sự định đoạt của bên mua trên boong tàu tại cảng đến và việc dỡ
hàng khỏi tàu là nghĩa vụ của bên mua Tương tự như DAF, hàng hóa chưa được
thông quan tại cảng đến
Khác với DES, hợp đồng theo điều kiện DEQ quy định bên bán có them
nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại cầu cảng ở cảng quy định, có nghĩa là bên bán
có thêm nghĩa vụ bốc hàng từ boong tàu xuống cầu cảng quy định trên lãnh thổcủa quốc gia bên mua, và như vậy hàng hóa đã được thông quan Xuất phát từ đó,bên bán có nghĩa vụ bổ sung: xin giấy phép nhập khẩu ở quốc gia bên mua; trảthuế nhập khẩu
Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng DDP tương tự như DEQ, tuy nghiên DDP có thể được sử dung khi hàng hóa được vận chuyển bằng bất kỳ phương tiện vận chuyển nào Điều kiện DDP có nghĩa là, bên bán được coi là
hoàn thành nghĩa vụ của mình từ thời điểm hàng được đặt dưới sự kiểm soát củabên mua tại địa điểm được hợp đồng quy định trên lãnh thổ của quốc gia bên mua.Bên bán chịu mọi rủi ro và phí tổn liên quan đến xuất khẩu, vận chuyển, quá cảnhcũng như nhập khẩu hàng hóa
Trong hợp đồng theo điều kiện DDU, bên bán có nghĩa vụ làm thủ tụcnhập khẩu nhưng không phải trả thuế nhập khẩu cũng như các loại lệ phí khác khinhập khẩu hàng hóa
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INCOTERMS 2000 TẠI CÔNG TY SILICOM GROUP
2.1 Giới thiệu sơ lược Công ty SILICOM Group
- Được thành lập từ năm 1993 và đạt được Cúp Top 5 IT Company,hiện nay công tySILICOM là công ty hàng đầu trong lĩnh vực phân phối trên thị trường công nghệ thông
tin Việt Nam Vài nét sơ lược về lịch sử Công ty SILICOM:
• Thành lập năm 1993 tại Hà Nội
• Năm 1994 thành lập SILICOM Saigon
• Năm 2001 thành lập SILICOM Danang
• Năm 2005 thành lập Công ty Đá Bạc ( SilverStone ) chuyên kinh doanh lốp xe ô tô
• Hiện đang thành lập SILICOM Cantho
• Tổng số nhân sự: 160 người
Trang 13- Sơ lược về hoạt động của Công ty SILICOM:
1 Về hoạt động thương mại:
- Hiện nay Công ty SILICOM đang là đại lý phân phối chính thức của các sảnphẩm công nghệ thông tin của các hãng sau:
• AOC là một sản phẩm của TPV - nhà sản xuất monitor lớn nhất thế giới
• Các sản phẩm monitor AOC được SILICOM phân phối tại Việt Nam baogồm cả CRT và LCD với cơ cấu sản phẩm rất phong phú và đa dạng
• SILICOM triển khai phân phối AOC từ tháng 7/2006; trước đóSILICOM là nhà phân phối của monitor Likom ( Malaysia ).
Mainboard MSI & J&W
• SILICOM là nhà phân phối duy nhất các sản phẩm Mainboard MSI choCPU AMD
• Phân phối các sản phẩm mainboard J&W (bao gồm cả mainboard choCPU AMD và Intel)
VGA card SAPPHIRE
Trang 14• Sapphire là nhà sản xuất VGA card hàng đầu thế giới.
• SILICOM chính thức phân phối các sản phẩm Sapphire từ đầu năm2008
Thiết bị mạng & Internet ZyXEL
• Switch, Hub, NIC
• Phụ kiện máy in và máy fax
- Hoạt động thương mại của SILICOM chủ yếu tập trung vào khâu phân phối trên
cơ sở tổ chức hệ thống đại lý diện rộng và trải đều khắp trên phạm vi toàn quốc
- Các sản phẩm SILICOM phân phối với phương châm "Chất lượng đảm bảo, giáthành và dịch vụ tốt"
• Dòng máy xách tay (Laptop)
- Tổ chức phân phối máy tính SingPC qua các kênh phân phối của hệ thốngthương mại
- SingPC có 2 xưởng sản xuất đặt tại Hà Nội và TPHCM
3 Hoạt động dự án:
Trang 15- Tham gia các dự án lớn trên phạm vi toàn quốc.
- Đặc biệt chú trọng đến các dự án mang tính giải pháp, mạng LAN, WAN và các
dự án sử dụng thương hiệu máy tính Việt Nam
4 Hoạt động Phần mềm:
- Tập trung vào các phần mềm quản trị CSDL
5 Hoạt động dịch vụ:
- Tập trung vào các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ hệ thống
2.2 Sử dụng điều kiện giao hàng khi nhập khẩu:
2.2.1 Hợp đồng sử dụng điều kiện giao hàng EXW:
Hợp đồng mua bán Mainboard được ký kết giữa Công ty Silicom chi nhánh TP
Hồ Chí Minh- Bên nhập khẩu và Công ty J&W Technology Limited ( Hong Kong)- Bênxuất khẩu đã thõa thuận sử dụng điều kiện giao hàng EXW Hong Kong Incoterms 2000
- Những yếu tố làm căn cứ để doanh nghiệp lựa chọn điều kiện giao nhận làEXW7:
+ Người mua có khả năng làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hóa+ Người mua có kinh nghiệm trong việc thuê phương tiện vận tải và việc vậnchuyển hàng hóa quốc tế
+ Người mua có đại diện tại nước xuất khẩu để có thể trực tiếp kiểm tra vànhận hàng hóa tại cơ sở người bán
- Từ những yếu tố trên, ta có thể nhận thấy những khó khăn Công ty Silicom cóthể gặp phải khi lựa chọn điều kiện EXW: Đó là về thủ tục thông quan xuất khẩu chohàng hóa
- Theo điều kiện EXW, vì người bán chỉ đặt hàng hóa dưới sự định đoạt củangười mua tại nước xuất khẩu, nên người mua phải làm tất cả các công việc cần thiết choviệc thông quan hàng xuất khẩu, quá cảnh và nhập khẩu Một lệnh cấm xuất khẩu haycấm nhập khẩu không giải phóng trách nhiệm của người mua theo hợp đồng mua bán
7 Trích Võ Thanh Thu chủ biên- Đoàn Thị Hồng Vân – Incoterms 2000 & Hỏi và đáp về Incoterms – Nhà xuất bản Thống Kê – 2005 – Trang 136
Trang 16- Người mua cần phải hành động thận trọng nhất là khi tình hình chính trị không
ổn định và nên nhớ rằng bất kỳ lệnh cấm xuất khẩu nào cũng sẽ là một rủi ro cho ngườimua chứ không phải là người bán
- Do đó, không nên sử dụng điều kiện này khi người mua không thể thực hiện trựctiếp hoặc gián tiếp các thủ tục cấn thiết để xuất khẩu
- Tuy nhiên, khi đáp ứng được những yếu tố trên thì việc lựa chọn điều kiện giaohàng EXW có thể giúp Công ty Silicom chủ động hơn trong việc quyết định giá sảnphẩm, thuê phương tiện vận chuyển , bảo hiểm…và tăng thêm lợi nhuận khi thực hiệnnhiều nghĩa vụ của người mua theo điều kiện EXW
2.2.2 Hợp đồng sử dụng điều kiện giao hàng CIF:
Hợp đồng mua bán AOC brand LCD Monitor được ký kết giữa Công ty Silicomchi nhánh TP Hồ Chí Minh- Bên nhập khẩu và Công ty Top Victory Investments Limited(Hong Kong)- Bên xuất khẩu đã thõa thuận sử dụng điều kiện giao hàng CIF Cảng TP HồChí Minh theo Incoterms 2000
- Với điều kiện CIF, mặc dù nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ thuê tàu, trả cước phítàu để chuyên chở hàng hóa giao cho người nhận tại cảng đích quy định, nhưng rủi ro tổnthất về hàng hóa đã chuyển từ người bán sang người mua kể từ khi hàng hóa đã qua lancan tàu tại cảng bốc hàng (Port of shipment) Sau khi lấy được vận đơn hoàn hảo, ngườixuất sẽ được ngân hàng thanh toán tiền ngay Mọi rủi ro về hàng hóa như chìm tàu, mấtmát, hư hỏng hàng hóa, gặp công ty vận tải có hành vi lừa đảo lấy hàng…đều thuộc vềngười mua phải chịu
- Địa điểm chuyển rủi ro khi nhập khẩu theo điều kiên CIF hoàn toàn tương tựnhư điều kiện FOB
- Khi mua hàng với điều kiện giao hàng CIF, người mua có thể chịu một số rủi rosau đây:
Thứ nhất, người bán có thể thiết lập một bộ chứng từ giả để yêu cầu thanh toán, nhưng trên thực tế không giao hàng 8
Nếu người chuyên chở là những hãng vận tải không có uy tín, họ sẵn sàng
ký lùi vận đơn hay thậm chí phát hành vận đơn khống cho người bán Hiện tượng
ký lùi vận đơn hiện nau rất phổ biến trong chuyên chở hàng hóa kể cả tàu chợ lẫntàu chuyến Mặc dù người chuyên chở có thể gặp những rắc rối khi ký lùi vận đơncho người bán, nhưng trong thực tế họ vẫn chấp nhận vì trong hầu hết các trường
8 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng
Trang 17hợp, lý do ký lùi vận đơn là nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường chứ không phải vìmục đích lừa đảo Bởi vì đây là thị trường của người đi thuê tàu (chủ hàng- ngườibán), do đó nếu từ chối cung cấp chứng từ theo yêu cầu của chủ hàng thì ngườichuyên chở sẽ gặp khó khăn trong việc tìm khách hàng thuê tàu.
Thứ hai, người bán đã giao hàng một cách thiện chí, tuy nhiên hàng không đến được địa chỉ của người mua 9
Trong buôn bán, không hiếm những trường hợp hàng hóa được chuyênchở trên những con tàu “ma”, chủ tàu có lai lịch, địa chỉ không rõ ràng, bởi vậytổn thất hàng hóa hoặc tàu bị “mất tích” một cách khó hiểu xảy ra liên tục vàthường xuyên, khiến cho các bên phải ngậm đắng nuốt cay khi đã giao hàng chonhững công ty vận tải đó
Trong các hợp đồng CIF, thường không quy định về tuổi của con tàu chởhàng Chính vì vậy mà người bán luôn tìm cách hạ cước phí vận tải xuống để tănglợi nhuận, cho dù có làm cho rủi ro của hàng hóa trong quá trình chuyên chở tăngthêm
Thông thường, người bán CIF muốn tìm thuê những con tàu “già” đểchuyên chở hàng hóa Vì con tàu đó có tuổi “già” nên giá cước chuyên chở sẽthấp hơn so với những con tàu “trẻ” Khi hàng hóa được chuyên chở trên nhữngcon tàu “già” như vậy, rủi ro về hàng hóa trong quá trình chuyên chở sẽ tăng lên
và người mua phải gánh chịu những rủi ro đó
Để ngăn chặn người bán CIF thuê những phương tiện vận tải cũ, ngườimua có thể quy định giới hạn tuổi của phương tiện vận tải chuyên chở trong hợpđồng mua bán
Trong hợp đồng CIF có thể có những quy định cho phép người bán ký hợpđồng vận tải với những điều kiện có lợi cho người bán, nếu chính những điều kiệnnày lại gây những bất lợi cho người mua thì người mua nên quy định trong hợpđồng là người bán phải chịu bất lợi đó cho mình
Thứ ba, trong rất nhiều trường hợp người mua không thể kiểm tra chất lượng của hàng hóa và người bán cố tình giao hàng kém chất lượng hay là không đúng số lượng 10
9 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 – Trang 181
10 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 – Trang 181
Trang 18Thứ tư, người vận chuyển không giao hàng cho người mua vì người bán còn nợ tiền vận chuyển ( có thể là lô hàng trước hoặc lô hàng này) 11 Để tránh tổn
thất cho mình, người mua phải trả cước phí cho người vận chuyển trước để đượcnhận hàng, sau đó người mua sẽ giải quyết với người bán sau
Thứ năm, những rủi ro từ việc mua bảo hiểm của người bán cho người mua 12 Theo điều kiện CIF, rủi ro về hàng hóa di chuyển từ người bán sang người
mua khi hàng qua khỏi lan can tàu tại cảng bốc hàng Nhưng nghĩa vụ mua bảohiểm cho hàng hóa theo điều kiện này lại thuộc người bán Việc người bán muabảo hiểm như vậy là mua vì lợi ích của người mua
Người mua CIF thường có tư tưởng yên tâm là người bán phải mua bảohiểm cho hàng hóa nên không cấn quy định gì thêm về bảo hiểm trong hợp đồng.Tuy nhiên, người mua CIF vẫn có thể gặp những bất lợi nhất định nếu trong hợpđồng không có những quy định ràng buộc bổ sung cho nghĩa vụ mua bảo hiểmcủa người bán
Bởi vì, mặc dù người bán CIF có nghĩa vụ mua bảo hiểm và chịu phí bảohiểm, nhưng người có lợi ích đối với việc bảo hiểm này không phải là người bán
mà là người mua hoặc bất cứ người nào khác được người mua chuyển nhượng lại.Nếu sau này hàng hóa bị tổn thất do những rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm, khôngphải người bán được công ty bảo hiểm bồi thường mà là người mua ( hoặc ngườiđược người mua chuyển nhượng lai lợi ích bảo hiểm này ) mới là người được bồithường Việc đòi công ty bỏa hiểm bồi thường có dễ dàng thuận lợi hay khôngcòn phụ thuộc vào uy tín và khả năng tài chính của công ty bảo hiểm đó
Theo Incoterms nếu không có quy định gì khác, người bán CIF chỉ phảimua bảo hiểm ở mức tối thiểu ( tức bảo hiểm theo điều kiện C ) mà hàng hóa cóthể cần được bảo hiểm ở mức cao hơn, thậm chí cần phải có những điều kiện bảohiểm phụ, bảo hiểm bổ sung Hàng hóa có thể bị thiếu hụt do bao bì bị hư hỏnghay nước biển ngấm vào tàu hoặc xà lan Những rủi ro như vậy không được bảohiểm theo điều kiện C, song chúng lại được bảo hiểm theo điều kiện B và điềukiện A Điều này dẫn đến có những tổn thất xảy ra không nằm trong phạm vi bảohiểm của điều kiện C và công ty bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường
Người bán có thể vì lợi ích của mình mà mua bảo hiểm cho người mua tạingười hoặc công ty bảo hiểm không có uy tín Điều này có thể gây khó khăn cho
11 Trích PGS-TS Nguyễn Văn Luyện- TS Lê Thị Bích Thọ- TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 – Trang 181
12 Trích Nguyễn Trọng Thùy dịch – Hiểu và sử dụng tốt Incoterms 2000 – Nhà xuất bản Thống Kê – 2006
Trang 19người mua khi yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảyra.
Nếu người bán mua bảo hiểm tại công ty bảo hiểm mà công ty bảo hiểm
đó không có quan hệ đại lý với công ty bảo hiểm tại nước người mua, điều này cóthể gây khó khăn cho người mua trong việc đòi công ty bảo hiểm bồi thường Đểtránh gặp phải khó khăn này, người mua nên quy định trong hợp đồng mua bán làngười bán phải mua bảo hiểm có quan hệ đại lý với công ty bảo hiểm ở nướcngười mua
Nếu các bên của hợp đồng CIF thỏa thuận hàng hóa được phép xếp hànglên boong tàu mà việc thanh toán lại được thực hiện bằng phương thức tín dụngchứng từ Cần phải quy định trong hợp đồng để trong L/C có quy định cho phépxếp hàng trên boong tàu và đơn bảo hiểm mà người bán xuất trình trong bộ chứng
từ thanh toán cũng phải thể hiện điều này Nếu việc xếp hàng lên boong tàu khôngđược quy định cho phép trong L/C thì các ngân hàng sẽ từ chối chứng từ vận tải
có ghi là hàng được xếp trên boong Còn nếu nó không được thể hiện trong Đơnbảo hiểm thì người bán sẽ có lợi vì chỉ trả phí bảo hiểm thấp, trong khi đó thìngười mua sẽ bị thiệt thòi vì sẽ không được công ty bảo hiểm bồi thường nếuhàng hóa bị tổn thất do việc xếp hàng trên boong tàu
Các điều kiện bảo hiểm chính A, B, C không bảo hiểm rủi ro chiến tranhcũng như các tổn thất thiệt hại hay chi phí phát sinh do đình công, rối loạn laođộng, bạo động và các trường hợp dân biến khác Nếu người mua CIF dự đoánhàng hóa có thể gặp phải những rủi ro này, nên quy định bổ sung cho nghĩa vụmua bảo hiểm của người bán đối với những rủi ro
Thứ sáu, trong hợp đồng CIF, cũng không cần quy định việc chuyển tải có được phép hay không 13 ( Khoản 5 điều 3 Hợp đồng mua bán với công ty Top Victory investment Limited ) Điều này làm cho người bán hoàn toàn tự do ký hợp
đồng vận tải có chuyển tải để chuyên chở hàng hóa Nếu hàng hóa có chuyển tảidọc đường, rủi ro của hàng hóa tăng lên, thời gian chuyên chở kéo dài Tất cảnhững bất lợi đó người mua phải gánh chịu
Thứ bảy, về quy định tên cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa 14
13 Trích Nguyễn Trọng Thùy dịch – Hiểu và sử dụng tốt Incoterms 2000 – Nhà xuất bản Thống Kê – 2006 – Trang 28
14 Trích Nguyễn Trọng Thùy dịch – Hiểu và sử dụng tốt Incoterms 2000 – Nhà xuất bản Thống Kê – 2006 – Trang 27
Trang 20Khi mua bán theo điều kiện CIF, các bên nên quy định rõ tên cảng bốchàng và cảng dỡ hàng trong hợp đồng.
Trong hợp đồng CIF quy định cảng đến một cách chung chung như “CIF
HCM City port” ( khoản 4 điều 3 hợp đồng CIF với công ty Top Victory Investment Limited ) thì người mua bất lợi vì người bán có quyền đưa hàng đến
bất cứ cảng nào trong số những cảng mà hợp đồng quy định Người mua hoàntoàn bị động trong việc tiếp nhận hàng từ người chuyên chở tại cảng đến và phátsinh thêm chi phí, rủi ro, tốn thêm thời gian trong quá trình vận chuyển nội địa từcảng do người bán chọn về cơ sở của mình
Trong hợp đồng CIF với Công ty Top Victory Inbestment Limited chỉ quyđịnh cảng bốc hàng một cách chung chung: Any port of China ( khoản 3 điều 3Hợp đồng ) Nhiều người cho rằng việc này chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến khả nănggiao hàng của người bán, đến việc ký kết hợp đồng vận tải và đến số tiền cướcchuyên chở, hoặc phí bảo hiểm mà người bán phải chịu chứ không ảnh hưởng gìđến quyền lợi của người mua Nhưng phân tích kỹ các tình huống có thể xảy ra,chúng ta sẽ thấy nếu không quy định cảng bốc hàng cụ thể, có thể ảnh hưởng đếnquyền lợi người mua
Nếu hợp đồng theo điều kiện CIF, mặc dù người bán là người phải muabảo hiểm cho hàng hóa nhưng người mua vẫn phải chịu rủi ro về hàng hóa trongquá trình vận chuyển Nếu cảng bốc hàng hoặc nơi xuất phát đã được quy địnhtrước, người mua sẽ lường trước được những rủi ro có thể xảy ra như chiến tranh,đình công, cướp biển, mất trộm, mất cắp…Vì vậy, người mua có thể đòi ngườibán giảm giá hàng để tự mình mua bảo hiểm bổ sung nếu thấy rủi ro mình phảichịu đựng tăng lên hoặc yêu cầu người bán mua bảo hiểm bổ sung cho hàng hóa
Theo hợp đồng theo điều kiện CIF, người bán phải giao hàng tại cảng bốchàng Người bán sẽ được miễn trách khi vi phạm nghĩa vụ giao hàng của mình( không giao được hàng hay giao hàng chậm ) nếu người bán chứng minh đượcmình đã gặp phải trường hợp bất khả kháng trong quá trình thực hiện nghĩa vụgiao hàng tại cảng bốc hàng Nếu cảng bốc hàng chưa được quy định cụ thể tronghợp đồng, người bán hoàn toàn có thể chọn một cảng nào đó đang xảy ra một sựkiện được coi là bất khả kháng như đình công, cấm vận, ….để làm cảng bốc hàng.Nhờ đó mà người bán tránh được những hình thức chế tài đối với người mua
Thứ tám, những rủi có thể xảy ra về chứng từ bảo hiểm theo điều kiện CIF 15 Một điều rất quan trọng đối với người mua lá người mua phải có quyền độc
15 Trích Nguyễn Trọng Thùy dịch – Hiểu và sử dụng tốt Incoterms 2000 – Nhà xuất bản Thống Kê – 2006
Trang 21lập với người bán trong việc đòi người bảo hiểm bồi thường Vì mục đích này,cần thiết phải cung cấp cho người mua đơn bảo hiểm trong đó người bảo hiểmtrực tiếp cam kết với người mua Tốt nhất trong đơn bảo hiểm nên đứng tên người
được bảo hiểm là người mua ( trong đơn bảo hiểm do Công ty Top Victory Investment Limited thì tên người được bảo hiểm là người bán- Công ty Top Victory Investment Limited )
2.3 Nguyên nhân của thực trạng nhập CIF
Tình hình phổ biến tại Việt Nam từ trước đến nay là các doanh nghiệp thườngxuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF, tức là chúng ta khônggiành được quyền thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa Việc làm này đã hình thànhngay từ khi chúng ta tham gia buôn bán với thị trường thế giới và đã trở thành một thóiquen16
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan xuất phát từ Nhà nước và từ các doanhnghiệp kinh doanh vận tải và bảo hiểm như chính sách bảo hộ ngành vận tải và bảo hiểmtrong nước, chất lượng tàu biển thấp… thì thực trạng trên tồn tại trong suốt một thời giandài còn do những nguyên nhân sau:
- Do thói quen buôn bán
- Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa thấy được những lợi ích của việc giành được quyền thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm, những bất lợi khi không giành được những quyền này
Có nhiều nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam cho rằng nên “xuất FOB,nhập CIF cho “khỏe” vì khỏi phải thuê tàu, khỏi phải mua bảo hiểm” Nếu có quan điểmnhư vậy, chúng ta hãy tự suy nghĩ vì sao khách hàng của chúng ta lại làm ngược lại vớichúng ta “xuất CIF, nhập FOB” khi buôn bán với chúng ta? Phải chăng họ không muốn
“khỏe” theo cách nghĩ của chúng ta? Rõ ràng là trong khi chúng ta không nhận ra nhữngbất lợi của việc “xuất FOB, nhập CIF” và thuận lợi cho việc “xuất CIF, nhập FOB”, cònkhách hàng của chúng ta hoàn toàn hiểu rõ điều này
- Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu không đúng các quy định của Incoterms về điều kiện CIF
Nhiều người làm công tác xuất nhập khẩu không nắm vững về nghiệp vụ ngoạithương, thông thường họ hiểu lầm rằng theo điều kiện CIF thì người bán phải giao hàngtại tận cảng đến cho người mua và rủi ro của hàng hóa trong quá trình người bán phảichịu Chính vì hiểu sai về điều kiện CIF, nên nhiều doanh nghiệp cho rằng : “xuất POB
16 Trích Nguyễn Trọng Thùy dịch – Hiểu và sử dụng tốt Incoterms 2000 – Nhà xuất bản Thống Kê – 2006 – Trang 32