TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT KINH TẾ ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN MỘT SỐ TÌM HIỂU VỀ CÔNG TY HỢP DANH GV ThS LỮ LÂM UYÊN SVTH VÕ LÊ MIN[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
MỘT SỐ TÌM HIỂU VỀ CÔNG TY HỢP DANH
GV : ThS.LỮ LÂM UYÊN SVTH : VÕ LÊ MINH LÝ LỚP : KIỂM TOÁN 2 KHÓA : 33
MSSV : 107202120 STT : 24
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Tp.Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm….
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sử loài người Tuy nhiên, loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam chưa lâu Lần đầu tiên loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là ở Luật Doanh nghiệp năm 1999 Những quy định hiện hành về công ty hợp danh tập trung trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 Tại sao loại hình này khá phổ biến ở các nước nhưng lại không được các doanh nghiệp lựa chọn nhiều ở Việt Nam Phải chăng
do chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh, hay ở dấu hiệu pháp lý mang tính đặc thù: có tư cách pháp nhân, đây là điểm khác biệt so với những quy định trước đây cũng như là điểm khác biệt lớn nếu so sánh với pháp luật các nước trên thế giới, bởi công ty hợp danh ở các nước nói chung không có tư cách pháp nhân
Vậy chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh thể hiện như thế nào,
nó tạo ra thuận lợi và khó khăn gì cho chủ doanh nghiệp?Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh có tạo ra ưu thế cho công ty này không? Dưới đây là một số tìm hiểu về ưu điểm, nhược điểm của công ty hợp danh cũng như về tư cách pháp nhân của loại hình công ty này để thấy những điểm mạnh và hạn chế mà công ty hợp danh mang lại
Trang 4KẾT LUẬN
Tuy những qui định về pháp luật của công ty hợp danh còn hạn chế, khiến cho loại hình công ty này ít được ưa chuộng Nhưng, nếu đứng ở một khía cạnh khác nhìn vào ưu điểm của công ty hợp danh ta thấy loại hình công ty này cũng có nhiều lợi thế.Tại hội thảo Luật doanh nghiệp thống nhất có đề cập đến 4 ngành nghề đòi hỏi phải kinh doanh dưới hình thức hợp danh đó là : Dịch vụ kế toán và kiểm toán; Dịch vụ thiết kế công trình xây dựng; Dịch vụ khám và điều trị bệnh và Dịch vụ pháp lý Là một sinh viên kiểm toán, em thấy việc qui định Dịch vụ kế toán
và kiểm toán phải kinh doanh dưới hình thức công ty hợp danh là hợp lý Đây là một nghề đòi hỏi đạo đức và uy tín nghề nghiệp rất cao mà nếu xảy ra sai sót sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của cá nhân, doanh nghiệp.Với những qui định của loại hình công ty này sẽ giúp tăng thêm niềm tin ở các đối tác cũng như tăng cường trách nhiệm của các kiểm toán viên Nhà nước cần có những qui định chặt chẽ và hợp lý hơn để tạo điều kiện cho hình thức công ty hợp danh phát triển để các chủ doanh nghiệp có thêm nhiều lựa chọn khi chọn hình thức kinh doanh cho công ty mình
I Vài nét sơ lược về lịch sử hình thành quy định về hợp danh trên thế giới
Hợp danh theo nghĩa rộng xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Những chỉ dẫn đầu tiên tới hình thức này là trong Bộ luật Hammurabi của Babylon, khoảng năm
2300 trước Công nguyên Người Do Thái, vào khoảng những năm 2000 trước Công nguyên đã hình thành thuật ngữ shutolin (một dạng hợp danh phi thương mại) Sau này, những hợp danh mang tính chất thương mại của người Do Thái hình thành từ những đoàn hội buôn Ở châu Âu, luật về hợp danh hình thành từ tập quán của các thương nhân Người Pháp dùng các thuật ngữ như “societas”,
Trang 5“societe en common dite” để chỉ các hình thức hợp danh “Societas” là hình thức hợp danh chỉ bao gồm các thành viên hợp danh, còn “societe en common dite” bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn
Hợp danh được quy định trong Luật La mã (ví dụ như Bộ luật Justinian) với những điều khoản rất tương đồng với luật hiện đại Người La mã cũng hình thành nên những quy định về đại diện, nền tảng của rất nhiều quy định của luật về hợp danh ngày nay Ví dụ, Luật La mã có quy định “qui facit per alium facit per se” -người thực hiện hành vi thông qua hành vi của -người khác cho bản thân -người đó Luật La mã cũng xác định sự lựa chọn tự nguyện của những người cộng tác với nhau bản chất của hợp danh, và nguyên tắc được gọi tên “delectus personas” - sự lựa chọn của cá nhân, cho đến nay vẫn là thành tố mang tính trung tâm của luật về hợp danh
Người phương Đông cũng không xa lạ với phường, hội, cuộc và đủ loại liên kết bạn buôn Tuy nhiên mô hình hội người (societas) theo dân luật - thương luật hay mô hình hợp danh (partnership) theo pháp luật Anh - Mỹ mới chỉ được du nhập trong một, hai thế kỷ trở lại đây
II.Ưu điểm và nhược điểm của công ty hợp danh :
1.Ưu điểm :
a) Doanh nghiệp tạo được sự tin cậy, uy tín đối với các đối tác và đặc biệt là các chủ nợ.
-Đặc điểm của công ty hợp danh (CTHD) là tập hợp uy tín của nhiều người, đây là những người có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm Tên tuổi của họ cũng phần nào tạo được niềm tin ở các đối tác
-Thêm vào đó, nhờ vào chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh của CTHD nên loại hình doanh nghiệp này có tính an toàn pháp lý cao tạo được uy tín lớn đối với chủ nợ và đối tác Chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh của CTHD được thể hiện ở chỗ, trong trường hợp doanh nghiệp lâm
Trang 6vào tình trạng phá sản thì pháp luật quy định, tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản thuộc sở hữu của các thành viên hợp danh mà không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh của CTHD Còn đối với những loại hình doanh nghiệp khác có chủ sở hữu chịu chế độ trách nhiệm hữu hạn về những nghĩa vụ của doanh nghiệp như Công ty trách nhiệm hữu hạn hay Công ty cổ phần thì phần tài sản của công ty khi lâm vào tình trạng phá sản chỉ gồm những tài sản thuộc sở hữu của công ty
Chính vì lẽ đó, các khoản nợ của CTHD được đảm bảo thanh toán bằng cả tài sản của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp, làm giảm tỷ lệ phải gánh chịu rủi ro của chủ nợ và các đối tác của doanh nghiệp
-Khác với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình nhưng đó là trách nhiệm đối với một cá nhân duy nhất ,còn ở công ty hợp danh thì tại điểm đ khoản 2 điều 134 có quy định các thành viên phải “liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty” Như vậy, khác với chủ DNTN, thành viên hợp danh của CTHD chịu chế độ trách nhiệm vô hạn với tính chất “liên đới”
Tính chất liên đới của trách nhiệm vô hạn đem lại nhiều ưu thế hơn cho chế
độ trách nhiệm này Bởi lẽ, chế độ trách nhiệm vô hạn liên đới đảm bảo quyền của chủ nợ có thể yêu cầu một trong số các thành viên hợp danh phải thanh toán tất cả khoản nợ của các thành viên khác hay một thành viên hợp danh không chỉ có trách nhiệm đối với phần nợ của mình, mà còn có trách nhiệm đối với khoản nợ của các thành viên khác Do đó, trong quá trình kinh doanh các thành viên hợp danh phải
tự giám sát lẫn nhau và việc liên kết giữa các thành viên này phải dựa vào sự tin tưởng nhau là chủ yếu (đây cũng có thể coi là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc xếp CTHD vào loại hình công ty đối nhân), bởi nếu một thành viên không trung thực và tẩu tán tài sản khi công ty có khả năng lâm vào tình trạng phá sản, thì hậu quả là việc các thành viên hợp danh khác phải gánh chịu thay
Trang 7Như vậy, có thể nói rằng, nhờ chế độ trách nhiệm vô hạn liên đới nên khả năng trả nợ của CTHD là cao hơn DNTN, do đó, tính an toàn pháp lý của CTHD là cao hơn hẳn DNTN
b) Doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc của các quy định pháp luật.
Xuất phát từ chế độ trách nhiệm vô hạn của các chủ đầu tư nên tính an toàn pháp lý của loại hình doanh nghiệp này là rất lớn Cùng với nó là sự đơn giản về tổ chức và tham gia của các thành viên trong doanh nghiệp nên pháp luật đã nới lỏng
sự quản lý và trao quyền tự quyết định các vấn đề của doanh nghiệp cho các chủ đầu tư Do vậy, so với Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần thì tổ chức
và hoạt động của CTHD rất đơn giản, gọn nhẹ và khá tự do Các thành viên hợp danh do quen biết nhau nên có sự tin tưởng lẫn nhau, việc điều hành kinh doanh của công ty được phối hợp nhịp nhàng và thuận lợi hơn
2.Nhược điểm :
a).Hạn chế đối với các thành viên hợp danh :
-CTHD có nghĩa vụ gánh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp bằng cả khối tài sản đã đầu tư vào doanh nghiệp và tài sản thuộc sở hữu cá nhân mình Chính vì lẽ đó, nếu doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản, mà tổng khoản nợ lớn hơn tổng số tài sản hiện có của công ty thì rất có khả năng, chủ doanh nghiệp sẽ trắng tay vì phải dùng tất cả số tài sản cá nhân của mình để thanh toán các nghĩa vụ của doanh nghiệp
- Hạn chế về việc thành lập và tham gia doanh nghiệp: các thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hay là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác Trong khi các thành viên của công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn không bị hạn chế về việc tham gia và thành lập các doanh nghiệp Hạn chế này xuất phát từ chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh Một cá nhân không thể đồng thời chịu hai chế độ trách nhiệm vô hạn của hai doanh nghiệp, bởi lẽ giả sử cả hai doanh nghiệp cùng phá sản thì tài sản cá nhân của thành viên hợp danh được xử lý như thế nào, không thể chia đôi cho cả hai
Trang 8doanh nghiệp được, vì như vậy là làm sai lệch bản chất của chế độ trách nhiệm vô hạn
- Tính chất “liên đới chịu trách nhiệm” của các thành viên hợp danh cũng có nhiều bất lợi vì ngoài trách nhiệm với khoản nợ của mình họ còn phải có trách nhiệm với khoản nợ của các thành viên khác ngay cả khi chấm dứt tư cách thành viên hợp danh theo khoản 6 điều 138 : “Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấm dứt
tư cách thành viên của công ty hợp danh theo quy định tại điểm a và điểm d khoản
1 Điều này thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên”
b) Hạn chế về huy động vốn và khả năng tham gia của các thành viên:
- CTHD không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn nên khả năng huy động vốn sẽ khó khăn hơn công ty trách nhệim hữu hạn hay công ty cổ phần
- Khả năng tham gia của các thành viên khác vào doanh nghiệp là hạn chế Chế độ trách nhiệm vô hạn tạo ra khả năng phải chịu rủi ro rất lớn của chủ doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghiệp có khả năng lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp phải nhập tất cả số tài sản hiện có của cá nhân mình vào khối tài sản của doanh nghiệp phá sản Chính vì lẽ đó, mặc dù có được nhiều đặc quyền, song khi đầu tư vào các doanh nghiệp này, các nhà đầu tư cũng ngần ngại trước trách nhiệm vô hạn phải gánh chịu
c) Quy mô của doanh nghiệp thường ở dạng vừa và nhỏ.
Đối với CTHD mặc dù pháp luật không hạn chế số lượng thành viên tham gia song có thể dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập một CTHD với số lượng thành viên lớn là khó có thể xảy ra Điều này xuất phát từ chính chế độ trách nhiệm của các thành viên công ty Một là không có nhiều cá nhân muốn gánh chịu chế độ trách nhiệm vô hạn liên đới nên việc có số lượng lớn thành viên hợp danh tham gia công ty là khó Còn đối với thành viên góp vốn, mặc dù có thể có nhiều cá nhân
Trang 9muốn tham gia CTHD song việc tham gia này phải có sự đồng ý của Hội đồng thành viên trong đó có các thành viên hợp danh, mà chắc chắn một điều rằng các thành viên này không muốn quá nhiều thành viên góp vốn tham gia vì đồng nghĩa với nó là trách nhiệm vô hạn liên đới mà họ phải gánh chịu cũng tăng lên Chính vì thế một CTHD có quy mô lớn như một công ty cổ phần là điều khó xảy ra
III Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh:
1 Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh - quy định mang tính đặc thù
-Tư cách pháp lý của công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam là một đặc điểm mang tính đặc thù Theo quy định hiện hành, công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tại sao pháp luật Việt Nam lại quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân trong khi các quốc gia trên thế giới hầu hết quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân? Khi xây dựng Luật Doanh nghiệp năm 2005, quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân đã dẫn đến nhiều tranh cãi Một số quan điểm cho rằng, không nên công nhận tư cách pháp nhân của công ty bởi hai lý do chính như sau:
+Thứ nhất, việc thừa nhận tư cách pháp nhân mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự.
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi hội đủ bốn điều kiện: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập
+Thứ hai, hầu hết các nước trên thế giới đều quy định công ty hợp danh
không có tư cách pháp nhân
-Quan điểm ngược lại cho rằng, khó có thể chứng minh việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh là mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự và nếu chứng minh được thì cũng không có ảnh hưởng gì về lý luận pháp lý, bởi Bộ luật Dân sự là luật chung còn Luật Doanh nghiệp là luật chuyên ngành; việc thừa nhận này có thể coi là một ngoại lệ của Bộ luật Dân sự Đồng thời, khi trích dẫn pháp
Trang 10luật nước ngoài cho rằng công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân, những người viện dẫn đã không xem xét cụ thể những quy định để công ty hợp danh có thể tham gia giao dịch với người thứ ba và tham gia hoạt động tố tụng Để chứng minh cho tính hợp lý của việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh, ngoài việc phản biện hai ý nêu trên, một số nhà khoa học đưa ra thêm hai lý do
sau: trước hết, pháp luật Việt Nam quy định rằng tổ chức tham gia một ngành nghề
nào đó phải có tư cách pháp nhân Vì vậy, việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh cho phép loại hình doanh nghiệp này được quyền tham gia
những ngành nghề đó; thứ hai, việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp
danh là điều đơn giản và dễ dàng hơn việc xây dựng một loạt khái niệm pháp luật
và kỹ thuật pháp lý khác để công ty hợp danh có thể tham gia giao dịch với bên thứ
ba và tham gia vào hoạt động tố tụng
-Đó là những tranh luận từ trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành Đến thời điểm này, các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đi vào cuộc sống Việc xem xét tính đúng đắn của các quan điểm trên có thể thông qua mấy điểm sau đây:
+ Một là, những quy định về tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh là
chưa triệt để Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại Điều 132 khoản 1 có quy định về việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên thành tài sản của công ty
để khẳng định tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh với các thành viên tạo
ra nó Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp lại đồng thời quy định chế độ chịu trách nhiệm
vô hạn của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của của công ty Chế độ này được hiểu là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình của mình về các nghĩa vụ của công ty Cụ thể hơn, đối với những khoản nợ của công ty, thành viên hợp danh có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công
ty Như vậy, thành viên hợp danh sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, không kể là tài sản đã chuyển quyền sở hữu cho công ty hay tài sản của
cá nhân không đưa vào tài sản công ty