1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 RA ĐỜI, ĐÒN BẨY PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

11 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Doanh Nghiệp 2005 Ra Đời, Đòn Bẩy Phát Triển Loại Hình Công Ty Cổ Phần Ở Việt Nam
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Ngọc Duy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẨU GVHD TH S Nguyễn Ngọc Duy Mỹ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA LUẬT KINH TẾ ((( TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ ĐỀ TÀI LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 RA ĐỜI, ĐÒN BẨY PHÁT TRIỂN[.]

Trang 1

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

KHOA LUẬT KINH TẾ



TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ

ĐỀ TÀI:

LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 RA ĐỜI, ĐÒN BẨY PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TY CỔ

PHẦN Ở VIỆT NAM

GVHD : TH.S NGUYỄN NGỌC DUY MỸ

TÔ QUỐC BẢO QUÁCH HŨU HỒNG

LỚP : NT2- KHÓA 32

TP.HCM 04-2008

Trang 2

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

LỜI MỞ ĐẨU

Sau hơn 20 năm thực thi chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đang có đổi thay to lớn và ngày càng đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế Những thành tựu đạt được trong việc cổ phần hóa và phát triển lọai hình công ty cổ phần đang có những bước chuyển mình đáng kể, bên cạnh đó xu hướng cổ phần hóa là điều tất yếu của đại đa số doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Song hành với thực tại đó chúng ta phải vận hành cơ chế pháp lý thật là hiệu quả, và một trong những khâu quan trọng đóng góp to lớn vào quá trình trên đó là sự

ra đời của luật doanh nghiệp 2005 xung quanh những vấn đề về công ty cổ phần phải chăng những quy định mới, những điều khoản tiến bộ mang tính đột phá của luật doanh nghiệp mới là chìa khóa lý giải cho những thành quả trên? Và liệu luật doanh nghiệp 2005 đã thật sự kiện toàn chưa? Có thể vận hành cơ chế pháp lý cho sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng?

Xuất phát từ lý do trên nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “luật doanh nghiệp

2005 ra đời, đòn bẩy phát triển loại hình công ty cổ phần ở Việt Nam”. Đi sâu vào việc tìm hiểu căn nguyên của những vấn đề này sẽ giúp ta có được lời giải cho những thắc mắc ở trên

Trang 3

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

A- CƠ SỞ LÝ LUẬN

1- Tinh thần chung về công ty cổ phần trong luật doanh nghiệp 1999

 Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp góp vốn, trong đó số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông

 Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

 Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa

 Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông

là cổ đông phổ thông

- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi

là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

Cổ phần ưu đãi biểu quyết

Cổ phần ưu đãi cổ tức

Cổ phần ưu đãi hoàn lại

Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định

Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như:

 Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết

 Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông

 Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định

 Các cổ phần còn lại (ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác) thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định

Trang 4

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau

2- Những quy định mới trong luật doanh nghiệp 2005

Tăng cường và củng cố thêm các quyền của thành viên, cổ đông (điều 41); bảo vệ mạnh hơn quyền và lợi ích của  thành viên, cổ đông (điều 79)

- Về cơ cấu tổ chức quản  lý công ty cổ phần, Luật quy định áp dụng bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo quy chế cộng dồn phiếu bầu (điểm c khoản 3 điều 104); đó là cơ chế đảm bảo các cổ đông phổ thông luôn có đại diện của mình trong Hội đồng quản trị

- Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhiệm  kỳ của Hội đồng quản trị  là năm năm, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm Thành viên Hội đồng quản trị  có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế

- Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng có  những quy định khác biệt so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 về việc thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông Theo Luật mới, quyết định của Đai hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ một trong các điều kiện:

 Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất

cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy đinh;

 Đối với quyết định về loại cổ phần và  tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, sửa đổi, bổ sung theo Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả số  cổ động dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

 Việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng

số phiếu biểu quyết tương ưúng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên

 Các quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với

số cổ đông trực tiếp và uỷ quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình

tự và thủ tục triệu tập, nội dung chương trình họp và thể thức tiến hành họp không được thực hiện đúng quy đinh; (5)Trường hợp thông qua

Trang 5

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

- Về vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị: Khoản 1 Điều 111 quy định: Điều lệ công ty quy định Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch HĐQT Trường hợp HĐQT bầu Chủ tịch HĐQT thì Chủ tịch được bầu trong

số thành viên của HĐQT Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác Như vậy, trong

cơ cấu này Chủ tịch HĐQT là cơ quan thường trực của HĐQT, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và công việc của HĐQT giữa hai kỳ họp; không phải là một chức danh có thẩm quyền độc lập tách biệt riêng

- Nếu Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Chủ tịch HĐQT có thể phát sinh

xung đột trong quản lý, điều hành của Công ty Cụ thể là Chủ tịch Hội đồng quản trị lúc này chịu trách nhiệm trực tiếp trước Đại hội đồng cổ đông, chứ không phải Hội đồng quản trị Do đó, khi các quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ đúng theo quy định của pháp luật và quyết định, nghị quyết của HĐQT thì công việc của Hội đồng quản trị có nguy cơ bị đình trệ thậm chí không thực hiện được ? Vì vậy, Luật đã quy định: Điều lệ công ty quy định thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp     nội bộ tại khoản 9 Điều 22

Quy định về công khai các lợi ích liên quan: Đối tượng phải công khai: Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của Công ty (Điều118).Xác định rõ hơn quyền lợi và nghĩa vụ của người quản lý: Thiết lập chế độ thù lao, tiền lương gắn với kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty (các Điều 58,73,117,125);  Nghĩa vụ của người quản lý, nhất là đối với thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc, đặc biệt là nghĩa vụ trung thành, trung thực và cẩn trọng (Điều 56,72,119,126,134); Nâng cao, tăng cường và quy định cụ thể hơn vai trò, vị trí và trách nhiệm của Ban kiểm soát, Thành viên Ban kiểm soát (các Điều 123,124,126)

B- THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Trang 6

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

Nền kinh tế xã hội của Việt Nam có nhiều sự biến đổi, lúc bấy giờ việc cổ phần hoá các công ty nhà nước đang được nhà nước đẩy nhanh, đã tạo ra một bức tranh đầy hứa hẹn cho các công ty cổ phần ở Việt Nam Với việc tiếp thu những kinh nghiệm quý báo được đúc kết từ chính nền kinh tế Việt Nam bộ Luật doanh nghiệp 1999 ra đời, với những sự thay đổi tích cự về mặt pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các công

ty cổ phần đặc biệt là vấn đề xuất khẩu Công ty CP Thực phẩm Lâm Đồng một ví dụ minh hoạ rõ nét cho vấn đề trên :

“Trong những năm đầu, sản phẩm nhân điều tiêu thụ chủ yếu bằng con đường

xuất ủy thác và qua tiểu ngạch Trung Quốc Từ năm 1999, công ty đã mở rộng quan

hệ giao dịch và xuất khẩu trực tiếp qua các thị trường Anh, Mỹ, Hà Lan, Ôxtrâylia Đến nay, sản lượng điều xuất khẩu trực tiếp đã chiếm tới 74% tổng sản lượng Kim ngạch xuất khẩu tăng hàng năm từ 20% đến 50% Để mở rộng sản xuất, năm 2004, công ty tiếp tục xây dựng thêm một nhà máy chế biến hạt điều tại huyện Đạ Tẻh, nâng tổng công suất chế biến lên 7.000 tấn nguyên liệu/năm”

Với sự thông thoáng trên tinh thần hội nhập Luật doanh nghiệp 2005 đã gián tiếp tạo cơ hội cho các công ty cổ phần thay đổi các chính sách, chiến lược kinh doanh của mình, nâng tổng sản lượng, doanh thu cũng như vốn đầu tư ở các công ty cổ phần gia tăng đáng kể qua từng năm:

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm

1992 Tính đến ngày 31/12/2005, cả nước đã cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước Trong đó, doanh nghiệp thuộc các ngành  công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,0% ; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,4% Phân theo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 61,7%; thuộc các Bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3% Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5tỷ đồng chiếm 54,0%; từ 5-10tỷ đồng chiếm 23,0%; trên 10tỷ đồng chiếm 23,0%

 Nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn Theo báo cáo của các Bộ, ngành địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11% Cổ phần hóa tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp

C- LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 RA ĐỜI MỘT BƯỚC TIẾN DÀI VỀ MẶT PHÁP LÝ|

Trang 7

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

1- N

h ững ưu điểm vượt trội so với luật doanh nghiệp 1999.

Tinh thần chung của luật, yêu cầu minh bạch, trung thực, công bằng, để bảo vệ

và duy trì niềm tin cho môi trường đầu tư, đã được tập trung khá rõ trong chương IV chế định về công ty cổ phần Nhưng cũng do đây là loại tổ chức doanh nghiệp có “độ phức tạp cao”, làm sao để có được một môi trường đủ tốt, có khả năng tạo ra một

“rừng cây lâu năm” cho nền kinh tế, là điều không dễ

 Có thể bắt đầu từ điều 79 về “quyền của cổ đông phổ thông”, đặc biệt là phần

“cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông” (khoản 2, 3, 4) Phần này hầu như đã được viết lại rất chi tiết và là những nội dung cần ghi nhận, làm cơ sở nghiên cứu, cân nhắc trong việc soạn điều lệ công ty Tuy nhiên, tại khoản 1, điều 80, quy định “nghĩa vụ cổ đông phổ thông phải thanh toán đủ số cổ phần mua trong thời hạn 90 ngày” có vẻ đã nhầm với quy định về cam kết của cổ đông sáng lập Cũng vậy, ở khoản 5.c,

“cổ đông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty”

đã nhầm với quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty (vì tư cách cổ đông không làm được việc này)

 Về “cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập” (điều 84), luật mới đã bổ sung một số điểm có tính điều chỉnh cụ thể, có ý nghĩa thực thi rất đáng chú ý Chẳng hạn, “trường hợp cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán hết trong thời hạn ba năm” (khoản 4) Quy định này là mới và hợp lý Thế nhưng, quy định

“cổ đông sở hữu 5% tổng số cổ phần phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh” (khoản 4, điều 86) nếu có cần thiết với công ty đại chúng thì e rằng sẽ

ít ý nghĩa (lại có hơi phiền) với các công ty cổ phần nội bộ, là loại nhỏ chiếm

đa số hiện nay ở ta Vả lại, nếu sở hữu 5% đã được xem là cổ đông lớn, thì tại sao tại khoản nói về “hợp đồng, giao dịch phải được đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) hoặc hội đồng quản trị chấp thuận” (điều 120) cổ đông lớn lại được nới đến 35%? (Luật cũ là 10%) Mặt khác, quy định về “số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu” trên giá bán cổ phần cho người môi giới hoặc người bảo lãnh mà

“phải được sự chấp thuận của số cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết” (điều 87.1.c) thì e sẽ khó bán được nhanh

 Trong luật cũng có một số thay đổi tuy nhỏ mà không nhỏ, như việc mua lại cổ phần theo quyết định của công ty (điều 91) quy định “hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần trong mỗi 12 tháng” Hoặc, việc chi trả cổ tức sẽ không còn tình trạng “ăn đong” với quy định khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty (điều 93) Đồng thời, hàng loạt tỷ lệ liên quan đến điều kiện họp ĐHĐCĐ, tỷ lệ tối thiểu trong biểu quyết thông qua (điều 102, điều 104) đã được nâng lên

Trang 8

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

Thông thường, các mức 51% của luật cũ nay là 65%, các mức 65% nay là 75%, ngoại trừ hình thức lấy ý kiến bằng văn bản đã được nâng từ 51% lên 75%

 Liên quan đến ĐHĐCĐ, việc họp và lấy ý kiến bằng văn bản, LDN 2005 có hai điều mới quy định về trình tự, thủ tục, các yêu cầu cần tôn trọng hoặc phải thực hiện Cụ thể, điều 103 nói về thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ, trong số những nội dung cơ bản có cả nội dung về tình huống hoãn hoặc dừng họp ĐHĐCĐ (luật cũ không có) Không biết nếu luật mới có hiệu lực sớm hơn thì “bi kịch” Đay Sài Gòn có dễ phân xử hơn? Tương tự, điều 105 quy định về thẩm quyền và thể thức thông qua quyết định của ĐHĐCĐ theo hình thức lấy ý kiến bằng văn bản cũng hoàn toàn mới Cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên nay cũng đã được nới đến tháng 4, thay vì chỉ trong quí 1 như luật cũ

 Về hội đồng quản trị (từ điều 108-115) có một số nội dung cần ghi nhận

“Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị là năm năm - Nhiệm kỳ của thành viên hội đồng quản trị là không quá năm năm” Cách quy định này có cái lý riêng Vậy

có lẽ các công ty niêm yết sẽ phải thay đổi cách bầu luân phiên như theo điều lệ mẫu Thành viên hội đồng quản trị cũng đã được khẳng định “không nhất thiết phải là cổ đông của công ty” Điều này nghe hơi lạ, nhưng là một cách làm từ lâu của thế giới, vấn đề là cần biết rõ và nắm vững đó là gì Đối với tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên hội đồng quản trị, tuy luật có ghi “là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông” nhưng đó chỉ là một chuẩn Luật mới còn quy định “cuộc họp của hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên”, là cao hơn luật cũ (chỉ cần hai phần ba) Đồng thời, một số yêu cầu liên quan đến họp hội đồng quản trị nay đã được nâng lên thành luật, gồm các đề nghị của ban kiểm soát, tổng giám đốc, của năm người quản lý, và của hai thành viên hội đồng quản trị Vậy, dù hội đồng quản trị có 11 người thì cũng chỉ cần hai người yêu cầu là phải họp!

 Luật mới cũng quy định việc bầu hội đồng quản trị theo thể thức bầu dồn phiếu (điều 104) Thể thức này đáp ứng tính đại diện tốt hơn, có lợi cho cổ đông nhỏ hay các nhóm cổ đông, hoàn toàn khác với cách ở ta thường làm trước đây Những nội dung vừa kể kết hợp với rất nhiều chi tiết khác trong luật cho thấy hội đồng quản trị quả là đầy trọng trách, lắm áp lực Bởi thế, nếu thành viên hội đồng quản trị mà thấy cứ “khỏe re” thì đó có thể là điều lạ

 LDN 2005 cũng đã chính thức đưa chi phí, thù lao, tiền lương của hội đồng quản trị và ban kiểm soát vào chi phí kinh doanh của công ty (điều 117) Việc công khai các lợi ích liên quan đến các “VIP” trong công ty cổ phần cũng được nêu rất chặt chẽ (điều 118) với yêu cầu phải “kê khai”, “niêm yết”, đáp ứng quyền được xem xét nội dung kê khai bất cứ lúc nào thấy cần Luật vậy là khá sâu Hy vọng hiệu lực triển khai cũng đạt được độ sâu mong đợi

Trang 9

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

2- N h ững tồn tại trong luật mới cần khắc phục.

Không ai phủ nhận những đóng góp của Luật DN trong việc thay đổi bộ mặt kinh

tế dân doanh bằng các thay đổi tích cực trong khung pháp lý, nhưng số đông các DN đều cho rằng việc thực thi các chính sách, chế độ, quy định (luật, nghị định, thông tư)

vẫn còn nhiều bất cập mà nguyên nhân chính là do tổ chức thực hiện, cơ cấu triển khai, con người (quan chức Trung ương, địa phương ); Vẫn còn sự bất bình đẳng giữa DNNN và DN vừa và nhỏ tư nhân trong tất cả các lĩnh vực mà tập trung nhiều nhất ở đất đai, vay vốn, quan hệ với các cơ quan nhà nước, nguồn vốn ODA, ký hợp đồng với chính phủ, thành phố

Các quy định về công ty cổ phần cho thấy nhiều sự lúng túng của nhà làm luật Trước hết xin nói về điều 80, có hai vấn đề:

- Khoản 1: cổ đông phổ thông phải “thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Ở đây có sự nhầm lẫn Sự thật chỉ riêng các cổ đông sáng lập là phải thanh toán đủ số cổ phần phổ thông đăng ký mua trong thời hạn trên Đối với các cổ đông khác, trên nguyên tắc họ phải thanh toán đủ một lần khi đăng

ký mua, nhưng không nhất thiết phải trong thời hạn 90 ngày như nói trên, bởi vì công ty có quyền rao bán cổ phần trong thời hạn ba năm sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (điều 84)

- Khoản 5: “cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty… thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty” Quy định này vô nghĩa bởi vì khó có thể hình dung làm thế nào một cổ đông phổ thông lại có thể nhân danh công ty thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn của công ty nếu họ không phải là người có thẩm quyền trong cơ cấu quản lý công ty

 Điều 84, khoản 5 quy định: “trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông”

Quy định này không rõ ràng, có thể dẫn đến các giải thích sai lệch Sự thật quy định này chỉ liên quan đến số cổ phần phổ thông tối thiểu (20% tổng số cổ phần được quyền chào bán) mà các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua khi đăng ký kinh doanh; số cổ phần này không được tự do chuyển nhượng trong thời hạn ba năm

Trang 10

GVHD: TH.S.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Ngoài số cổ phần tối thiểu này, cổ phần phổ thông khác của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng như đối với các cổ đông khác

 Điều 86, khoản 4 quy định: “cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày được tỷ lệ sở hữu đó”

Vấn đề đặt ra là: mục đích của việc đăng ký này là gì? Phải chăng để Nhà nước kiểm soát công ty? Nhưng như thế là vi phạm quyền tự chủ của doanh nghiệp được xác nhận tại điều 8 Hoặc Nhà nước muốn kiểm soát việc đầu tư của tư bản tư nhân? Nhưng điều này đã lỗi thời trong thời đại mới Dầu sao thì thủ tục này cũng có thể khiến các nhà đầu tư e ngại

3- Một số đề xuất và kiến nghị.

Nhanh chóng hoàn thiện và bổ sung thể chế Đẩy mạnh việc hoàn thiện các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và các luật liên quan như luật Đầu tư, Luật Đất đai

- Giảm tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần, giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần

mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Mở rộng hơn nữa tỷ lệ cho phép nắm giữ cổ phần đối với các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài để thu hút nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, quản trị doanh nghiệp  hiện đại

- Bỏ quy định dành 20% cổ phiếu bán cho người lao động trong doanh nghiệp  với giá ưu đãi Thay vào đó, người lao động được hưởng một khoản lợi ích theo năm công tác khi thực hiện CPH DN, không nên ép người lao động trở thành cổ đông bất đắc dĩ

- Bổ sung thêm các phương pháp định giá phù hợp Khi chúng ta chủ trương CPH các doanh nghiệp  có quy mô lớn thì phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp  được quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP là không còn phù hợp Bởi vì, đối với doanh nghiệp  này, ngoài giá trị hữu hình, còn nhiều giá trị vô hình như uy tín, thương hiệu…

- Xoá bỏ chính sách ưu đãi thuế cho các DN thực hiện CPH Quy định về ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp  quy mô nhỏ, kinh doanh thua lỗ kéo dài khi chuyển sang công ty cổ phần là cần thiết, nhằm giúp doanh nghiệp  vượt qua khó khăn trong thời kỳ đầu Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay CPH đã được áp dụng đối với những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp  đang hoạt động kinh doanh có lãi thì việc ưu đãi thuế sau CPH là không cần thiết, gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w