Kết quả hoạt động kinh doanh của hợp tác xã cổ phần Việt Nhật (2005 - 2008)
Trang 1PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ HTX CỔ PHẦN VIỆT NHẬT
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển
HTX cổ phần Việt Nhật là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh, được hình thành từ vốn góp cổ phần của các cá nhân Doanh nghiệp chính thức được cấp giấy phép kinh doanh và có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được
ký và hợp tác với mọi cá nhân, tổ chức , và hoạt động kinh doanh theo luật doanh nghiệp:
Tên doanh nghiệp : HTX cổ phần Việt Nhật
Được thành lập theo Quyết định 20 QĐ/CP của chủ tịch UBND TP Bắc Ninh và được sở Đầu tư TP Bắc Ninh cấp giấy phép kinh doanh số :
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất các loại giấy:
- Giấy trắng -Giấy gói bao bì
- Giấy xi măng -giấy vệ sinh
- Giấy kraft -Giấy in các loại…
Thành viên sáng lập: 9 thành viên
Tổng vốn ban đầu: 22,5 tỷ(năm 2000)
Trang 2làm 3 giai đoạn
1.1.1Giai đoạn 1986 đến 1995
Đây là giai đoạn phát triển đầu tiên của HTX với tên gọi là Nhà Máy Giấy Văn Vương , khi mới đi vào hoạt động cả Nhà máy chỉ có 20 công nhân lao động thủ công với trang bị thô sơ,hoạt động của Nhà máy dựa vào 1 công nghệ dây chuyền sản xuất cũ mua lại từ Trung Quốc chuyên sản xuất giấy xi măng và bao bì Sản lượng hàng năm chỉ đạt 300 tấn/1 năm,chủ yếu các sản phẩm được tiêu thụ trong nước.Cơ sở vật chất cũng như điều kiện làm việc của cán bộ công nhân viên HTX hết sức khó khăn
Trong thời gian này HTX còn gặp nhiều khó khăn về vốn khi mà hàng loạt đơn xin vay vốn của các thành viên hợp tác xã gửi đến các Sở đầu tư cũng như UBND huyện Yên Phong gặp nhiều trở ngại
Không có vốn,công nghệ thì thô sơ lạc hậu tưởng chừng HTX đã phải đóng của nhiều lần.Nhưng ý chí kiên cường của các thành viên cùng sự giúp
đỡ của bạn bè đã giúp HTX duy trì hoạt động trong thời kỳ này
1.1.2Giai đoạn từ 1995 đến 2000
Sau bao thăng trầm hoạt động đây là giai đoạn tương đối phát triển mạnh
và ổn định của HTX cổ phần Việt Nhật Trong giai đoạn này HTX đã bổ sung thêm 1 dây chuyền sản xuất mới cũng từ Trung Quốc nâng sản lượng bình quân trong 1 năm của thời kỳ này lên 10.000 tấn.Lúc này HTX đã mở rộng thị trường nhập khẩu từ nhiều quốc gia trên thế giới như:Mỹ,Singapo,Hồng Kông (Trung Quốc) Newdiland và nhiều quốc gia khác cũng như duy trì nguồn hàng nhập khẩu từ những quốc gia này cho đến bây giờ Hàng nhập khẩu lúc này chủ yếu là nguyên liệu sản xuất như bột giấy,nguyên liệu sơ chế và sản phẩm dở dang.Kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 15tỷ/1năm
Những năm đầu của thời kỳ này HTX cũng như nhiều doanh nghiệp
Trang 3khiến việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn,nhưng cũng trong thời điểm quan trọng này những chính sách hỗ trợ xuất khẩu của nhà nước cho các doanh nghiệp phát huy tác dụng.HTX mạnh dạn hướng ra xuất khẩu,ban đầu chỉ xuất khẩu sang những nước trong khu vực ASEAN và Trung Quốc như Malaysia,Lào,Campuchia sau đó là những thị trường lớn như EU Mỹ,tuy nhiên giá trị xuất khẩu vẫn còn nhỏ.
Kim ngạch xuất khẩu có từ giai đoạn này ước tính đạt khoảng10-15tỷ những năm 97-98 và tăng mạnh trong 2 năm cuối thập niên 90 khoảng 30 tỷ VND
Ngày 11/3/1999 HTX chính thúc đựơc thành lập với tên gọi HTX cổ phần Việt Nhật theo quyết định 20 QĐ/CP của chủ tịch UBND TP Bắc Ninh
và được sở Đầu tư TP Bắc Ninh cấp giấy phép kinh doanh số : 0203075472 năm 1999
1.1.3.Giai đoạn từ 2000 đến nay
Giai đoạn này HTX phát triển khá mạnh,khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế cũng như nội địa Các sản phẩm của HTX trở nên đa dạng về mẫu mã kích thước cũng như chất lượng đã được cải tiến.Ngoài ra HTX còn làm nhiều hợp đồng về nhãn hiệu cho các sản phẩm trong nước như sữa vinamilk, gạch granit
Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng đều đạt khoảng hơn 10%-12%/1 năm,Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10-15%/năm Năm 2006 tổng doanh thu đạt 93,195 tỷ với tốc độ tăng trưởng là 14,05%.Năm 2007 khi mà tổng doanh thu đạt 97,022 tỷ thì tốc độ tăng trưởng là 53,52% con số này của năm
2008 là 125,593 tỷ với tốc độ tăng trưởng là 29,45%.Trong thời kỳ này HTX chú trọng bồi dưỡng,đào tạo trình độ cho cán bộ công nhân viên.Cho đến
Trang 4cao học.Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý vẫn còn hạn chế về năng lực,nhất
là trong việc đàm phán với các đối tác nước ngoài.Chính vì vậy chủ nhiệm HTX cũng như ban lãnh đạo HTX luôn chú trọng đến việc đào tạo cán bộ nhất là trong lĩnh vực ngoại giao
Trên đà phát triển đó cuối năm 2006 HTX đã quyết đinh xây dựng chi nhánh 2 tại khu công nghiệp Nam Thăng Long với tên gọi HTX cổ phần Việt Nhật 2.Dự tính cuối năm 2009 HTX này sẽ đi vào hoạt động Với quy mô gấp
2 lần HTX Việt Nhật 1,HTX Việt Nhật 2 hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút đầu tư cũng như đẩy mạnh xuất khẩu
Với những cố gắng kể trên cuối năm 2007 HTX cổ phần Việt Nhật được UBND thành phố Bắc Ninh phong tặng danh hiệu Doanh nghiệp xuất sắc
1.2.Chức năng,vai trò,nhiệm vụ,quyền hạn của HTX trong liên minh HTX tại Bắc Ninh và nghành sản xuất giấy Việt Nam
1.2.1 Chức năng
Trực tiếp sản xuất các mặt hàng như giấy trắng,bao bì,giấy vệ sinh,giấy
in phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại địa phương,các doanh nghiệp,các xí nghiệp trong nước
Xuất và nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ cho sản xuất nguyên liệu giấy như lề OCC,lề AKD keo clomaset bột sợi,bột tẩy trắng và các nguyên liệu khác
Nhận sản xuất và gia công chế biến hàng hoá liên quan đến giấy và bao
bì để xuất khẩu
1.2.2 Nhiệm vụ
Xây dựng và thực hiện hiệu quả các hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ kể cả xuất nhập khẩu tự do cũng như uỷ thác xuất nhập khẩu
Trang 5Tự tạo nguồn vốn, quản lý, khai thác sử dụng một cách có hiệu quả, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước.
Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý kinh tế, quản lý xuất khẩu và giao dịch đối ngoại
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế có liên quan
Nâng cao chất lượng, gia tăng lượng hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường nước ngoài, thu hút ngoại tệ và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
Đào tạo cán bộ lành nghề, có kinh nghiệm phục vụ lâu dài cho HTX.Làm tốt mọi nghĩa vụ và công tác xã hội khác
1.2.3 Quyền hạn
Được phép vay vốn bằng ngoại tệ và tiền mặt tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh và trong nước
Được ký kết các hợp đồng kinh tế trong và ngoài nước
Được mở rộng buôn bán các sản phẩm hàng hoá theo quy định của nhà nước
Dự các hội chợ triển lãm để giới thiệu các sản phẩm của HTX trong và ngoài nước
Đặt đại diện và chi nhánh ở nước ngoài
Tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, kỷ luật cán bộ, công nhân viên
Trang 61.3.Cơ cấu tổ chức,vai trò,nhiệm vụ các phòng ban của bộ máy quản
Phòng tài chính kế toán
Phòng kinh doanh
và marketing
Bộ phận sản xuất
Trang 7các phòng ban, chi nhánh và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của HTX, đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của HTX trước Nhà nước.
Các phó tổng giám đốc: Có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc hoặc quản
lý một lĩnh vực nào đó do giám đốc uỷ quyền Phó tổng giám đốc chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước tổng giám đốc
Phòng tổ chức cán bộ: Phòng nắm toàn bộ nhân lực của HTX, tham mưu cho giám đốc, sắp xếp, tổ chức bộ máy, lực lượng lao động trong mỗi phòng ban sao cho phù hợp, đạt hiệu quả cao Phòng cũng có nhiệm vụ xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn, ngắn hạn, đào tạo lại nguồn lực HTX, đưa ra các chính sách, chế độ về lao động và tiền lương của cán bộ công nhân viên đồng thời tuyển dụng lao động và điều tiết lao động phù hợp với các mục tiêu, tình hình kinh doanh
Phòng hành chính tổng hợp: Phòng có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kinh doanh, lập báo cáo các hoạt động kinh doanh từng tháng, quý, năm trình lên ban giám đốc Phục vụ văn phòng phẩm của HTX, tiếp khách và quản lý toàn bộ tài sản của HTX Bên cạnh đó phòng có trách nhiệm theo dõi, sửa chữa lớn, nhỏ và sửa chữa thường xuyên đồng thời giải quyết các vấn đề liên quan dến hành chính sự nghiệp
Phòng kế toán, tài vụ: Nhiệm vụ chính của phòng là hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ về hoạt động kinh doanh của HTX Ngoài ra phòng còn có nhiệm vụ lập bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo tài chính theo yêu cầu trình ban giám đốc Tiến hành xây dựng tài chính, quyết toán tài chính với các cơ quan cấp trên và các cơ quan hữu quan theo quy định
Trang 8cứu thị trường tiêu thụ cho sản phẩm đề ra các phương thức bán hàng,các chiến lược quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng cũng như các đối tác xuất khẩu.
Bộ phận sản xuất: Nhận nguyên vật liệu từ thủ kho trực tiếp sản xuất sản phẩm,chịu trách nhiệm về số lượng và chất lượng sản phẩm.Sau khi sản phẩm được tạo ra thì thông báo cho phòng kế toán nghiệm thu và lưu kho
1.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh
1.4.1 Đặc điểm về sản phẩm kinh doanh và công nghệ sản xuất
Các loại giấy,bao bì là những mặt hàng thiết yếu phục vụ trong nhiều lĩnh vực đời sống nên có nhu cầu cao,dễ tiêu thụ.Hiện nay, khả năng đáp ứng tiêu dùng trong nước của toàn ngành giấy là 61,92%, trong đó giấy in báo đáp ứng 68,42%, giấy in và viết 89,29%, giấy bao bì (không tráng) 71,50%, giấy tráng 5,75% và giấy lụa 96,97%, sản xuất bột giấy ở Việt Nam mới đáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu,chủ yếu là từ Trung Quốc.Các loại giấy và bao bì thường rất đơn giản, có giá trị thấp nên không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư,thời gian quay vòng vốn đầu tư nhanh
Tuy nhiên công nghệ sản xuất của HTX cũng như các doanh nghiệp sản xuất giấy và bao bì khác ở Việt Nam thường đã quá cũ và lạc hậu Dây chuyền bột giấy lớn nhất nước ta hiện chỉ đạt công suất 61.000 tấn/năm, trong khi ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) là 1.000.000 tấn/năm Máy seo lớn nhất của ta có công suất 50.000 tấn/năm, chiều rộng lưới là 4,15m, tốc độ 600-700 m/phút Còn ở Trung Quốc, đó là 800.000 tấn /năm, chiều rộng 10,4m và tốc độ 2.000 m/phút.(Theo ông Vũ Ngọc Bảo_tổng thư ký hiệp hội giấy Việt Nam)
Trang 91.4.2 Đặc điểm về thị trường tiêu thụ
Các sản phẩm giấy và bao bì của HTX nói riêng cũng như các doanh nghiệp khác nói chung có chất lượng chưa cao nên việc tiêu thụ các sản phẩm này thường chỉ dừng lại ở thị trường trong nước.Việc xuất khẩu vẫn còn rất hạn chế.Năm 2005 tổng sản xuất của HTX đạt hơn 2000 tấn trong đó phục vụ trong nước chiếm hơn 90% còn lại là xuất khẩu Thị trường xuất khẩu cũng rất hạn chế,thường chỉ tái xuất sang Trung Quốc sau khi đã nhập nguyên liệu sản xuất từ quốc gia này.Đến năm 2006 tổng sản phẩm của HTX đạt 15000 tấn trong đó xuất khẩu đạt 1609,5 tấn chiếm 10,73%.Năm 2007 thì con số này đạt 11.05% và 11.85% ở năm 2008
1.5.Nguồn vồn và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh
Trang 10Tự có Vay từ các quỹ Hỗ trợ khác
Sơ đồ cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của HTX
(Nguồn: phòng kế toán tài chính 2009)
Hiện nay HTX có tổng tài sản trị giá 80,982tỷ và 60,982 tỷ vốn lưu động.Trong đó vốn tự có là 15,5 tỷ đồng đạt 19,14% còn lại là vốn vay từ các quỹ tín dụng ,các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và từ các quỹ hỗ trợ phát triển khác
Việc vay vốn là không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp.Tuy nhiên, là một doanh nghiệp,để đững vững trên trường trong nước và quốc tế HTX nên tăng cường,bổ xung vốn tự có nhằm hạn chế những rủi ro về lãi suất
1.6.Nguồn nhân lực
Bảng 2: Cơ cấu nguồn lao động HTX 2009
STT Phân loại theo trình độ Số người Tỷ lệ
1 Trình độ đại học và trên đại học 22 7,33%
2 Trình độ cao đẳng va trung cấp 150 50%
3 Công nhân kỹ thuật, học nghề 128 42,67%
Trang 11150 128
0 50 100
150
Trình độ
Trình độ đại học và trên đại học Trình độ cao đẳng va trung cấp
Công nhân kỹ thuật, học nghề
( Nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực HTX 2008_phòng hành chính tổng hợp)Ban đầu khi HTX mới thành lập chỉ có 20 nhân viên đều chưa có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn còn yếu kém,việc vận hành máy móc gặp nhiều khó khăn Nhất là khi máy gặp sự cố HTX lại phải mời chuyên gia từ Trung Quốc sang để sửa chữa Cho đến nay toàn thể HTX có hơn 300 công nhân lành nghề hầu hết là người địa phương trong đó có hơn 20 người đạt trình độ hết đại học và trên đại học,một nửa tốt nghiệp cao đẳng chuyên nghành công nghiệp nhẹ,còn lại là công nhân trung cấp và học việc Trong
đó nam là 241 người,60 nữ giới Vì đây là công việc nặng nhọc,việc trả lương tính theo đợn vị sản phẩm nên hầu hết công nhân trong HTX là nam giới,nữ giới chủ yếu làm việc văn phòng hành chính,số ít làm công nhân So với năm 2005 thì nhân lực tăng không đáng kể (295 người năm 2005) nên hầu như công nhân của HTX đều có trên 3 năm kinh nghiệm.Do HTX luôn chú trọng đến việc bồi dưỡng nghiệp vụ,chế độ tiền lương ,bảo hiểm xã hội
và các chế độ khác nên số công nhân bỏ việc hầu như rất ít.Tính đến năm
2008 thu nhập bình quân của công nhân đạt 2,5 triệu đồng/1 người /1tháng cao hơn 1 triệu so với năm 2007
Trang 12PHẦN 2 KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA HTX CỔ PHẦN
Trang 13Bảng 3: Kết quả chung
Đơn vị:tỷ đồng
STT Chỉ tiêu
Năm 2005
Kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng
Kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng
Kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng
Trang 142.Tình hình xuất nhập khẩu của HTX
2.1.1 Kết quả xuất khẩu
Bảng 4: Xuất khẩu của HTX giai đoạn 2005-2008
Sản lương đơn vị: tấn
Trị giá đơn vị :triệu đồng
Sản phẩm
Sản lưọng Trị giá Sản lượng Trị giá Sản lượng Trị giá Sản lượng Trị giá
120
140
160
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Giấy trắng Giấy Kraft liner Giấy Kraft Giấy vệ sinh
Xuất khẩu của HTX giai đoạn 2005 – 2008
(Nguồn:báo cáo kết quả kinh doanh HTX 2005-2008)
Đứng đầu xuất khẩu hàng năm là giấy Kraft liner, đây là loại giấy dùng làm bao bì,thùng đựng cho hàng xuất khẩu.Sản lượng sản xuất loại giấy này cũng luôn chiếm vị trí hàng đầu trong danh mục các sản phẩm sản xuất của HTX(khoảng70% sản lượng sản xuất).Sản lượng xuất khẩu tăng nhanh qua các năm (50tấn năm 2005;150 tấn 2007) tuy nhiên đến năm 2008 thì sản lượng xuất khẩu có xu hướng giảm do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 15khẩu FOB Hải Phòng là:40000-500000/1tấn.
Giấy vệ sinh là hàng có giá trị cao nhất( bình quân 1200000/1tấn) vì là hàng có chất lượng cao,sử dụng công nghệ hiện đại.Tuy nhiên sản lượng xuất khẩu thì còn hạn chế
Các mặt hàng khác như giấy trắng, giấy Craft tuy có tỷ trọng xuất khẩu không cao nhưng luôn duy trì được sản lượng xuất khẩu
2.1.2 Về thị trường xuất khẩu:
Trang 16Bảng 4: Thị trường xuất khẩu của HTX
ST
T Sản phẩm
2006
2007
2008
2006
2007
2008
2006
2007
2008
2006
2007
2008
2006
Trang 17Đứng đầu là Trung Quốc với tổng sản lượng xuất khẩu đạt 85tấn năm 2006,155 tấn 2007(tăng 82,35%) và 120 tấn năm 2008 Dễ dàng nhận thấy rằng sản lượng xuất khẩu sang thị trường này chiếm vị trí số 1 vì Trung Quốc cũng chính là quốc gia chiếm phần lớn tỷ trọng hàng nhập khẩu của HTX.Tuy nhiên ảnh hưởng của khủng hoảng toan cầu làm sản lượng xuất khẩu năm
2008 bị giảm sút( giảm 30 tấn so với năm 2007)
Tiếp theo là thị trường Malaysia với tổng sản lượng xuất khẩu trong 3 năm đạt 85 tấn,Thai Lan 45 tấn,Singapo 35 tấn,Mỹ 30 tấn.Tuy nhiên , mặt hàng xuất khẩu tại những quốc gia này không đầy đủ và ổn định
2.1.3 Hình thức xuất khẩu và kênh phân phối
Hình thức xuất khẩu trực tiếp:
Đối tác gặp mặt và ký hợp đồng xuất khẩu ngay tại HTX sau đó HTX gom hàng theo yêu cầu phía đối tác,vận chuyển đến nơi quy định Đối tác kiểm tra hàng hoá,thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản rồivận chuyển hàng về nước
Hình thức xuất khẩu gián tiếp:
Thông qua môi giới, đại lý hàng hoá đựơc kết chuyển đến cảng Hải Phòng theo yêu cầu của môi giới, đại lý.Sau khi kiểm tra xem xét,hàng được lưu kho hoặc vận chuyển qua biên giới,HTX sẽ nhận được thông báo thanh toán từ phía ngân hàng do bên môi giới trả
2.1.4 Chất lượng hàng xuất khẩu
Các loại giấy,bao bì của HTX được sản xuất bằng công nghệ Trung Quốc Nhìn chung hàng xuất khẩu luôn đảm bảo được các tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước và yêu cầu từ phía đối tác,không có hiện tượng hàng kém chất lượng,bị trả lại