Ý nghĩa của luận án Bên cạnh việc đưa ra những dẫn liệu khoa học về đặc trưng cơ bản của thảm thực vật, đề tài nghiên cứu đã lượng hóa đặc điểm cấu trúc và khả năng sinh trưởng của cây
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đóng một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, đối với môi trường, cảnh quan và cũng là một đối tượng quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học
Quảng Ninh là một tỉnh có hệ thực vật núi đá vôi phong phú và đa dạng, là nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng của tỉnh Cho đến nay tính đa dạng sinh vật trong các thảm thực vật này vẫn chưa được khám phá hết và còn nhiều điều mới đối với khoa học Hiện nay nguồn tài nguyên sinh vật vô giá đó đang bị suy giảm nghiêm trọng Độ che phủ của các thảm thực vật và các nguồn tài nguyên sinh vật bị suy giảm, trong đó các loài thực vật đặc hữu và quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá lại hiện trạng của nguồn tài nguyên sinh vật nói chung và thảm thực vật trên núi đá vôi của tỉnh Quảng Ninh nói riêng là rất cần thiết, trên cơ sở
đó đề ra các giải pháp hữu hiệu để quản lý, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên sinh vật trên địa bàn tỉnh đang là một việc làm cấp bách hiện nay
Thành phố Cẩm Phả có vịnh Bái Tử Long (vùng đệm của vịnh Hạ Long) là một trong những khu du lịch của tỉnh Quảng Ninh, hiện nay thảm thực vật trên núi đá vôi đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng do các nguyên nhân như khai thác tài nguyên thực vật làm gỗ củi, khai thác đá vôi cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và việc lấn biển, mở rộng quỹ đất dân sinh
Sự suy giảm tài nguyên thực vật trên núi đá vôi dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới giá trị địa chất địa mạo của kì quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long (hai lần được UNESCO công nhận là kì quan thiên nhiên thế giới)
Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững thảm thực vật trên núi đá vôi ở thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, nhằm nâng cao giá trị cảnh quan địa mạo của kì quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, chúng tôi lựa chọn
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc trưng cơ bản và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển bền vững thảm thực vật trên núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được những đặc trưng cơ bản của thảm thực vật trên núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 2Đề xuất một số giải pháp trong việc sử dụng, bảo vệ hợp lí thảm thực vật trên núi đá vôi ở thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,
xã hội và môi trường
3 Ý nghĩa của luận án
Bên cạnh việc đưa ra những dẫn liệu khoa học về đặc trưng cơ bản của thảm thực vật, đề tài nghiên cứu đã lượng hóa đặc điểm cấu trúc và khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, kết quả nghiên cứu là cơ sở định hướng các giải pháp bảo tồn phát triển bền vững thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả
4 Đóng góp mới của luận án
- Về mặt lí luận: Cung cấp dẫn liệu khoa học về thảm thực vật trên núi đá vôi ở thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh Đề tài đã phát hiện được các đặc trưng cơ bản của thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả ở các vị trí chân núi, sườn vách núi và thung lũng về cấu trúc tổ thành, phân lớp tầng tán, độ che phủ, mật độ, khả năng tái sinh của cây gỗ Đề tài đã phát hiện được 608 loài thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, trong đó có 12 loài đặc hữu hẹp và 27 loài quý hiếm
- Về mặt thực tiễn: Đề tài đưa ra được 5 nhóm giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững thảm thực vật trên núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả nói riêng và khu vực tỉnh Quảng Ninh nói chung
5 Bố cục của luận án
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về thảm thực vật được triển khai từ rất sớm, nhưng phải đến thế kỉ XVII việc nghiên cứu về thảm thực vật mới trở thành bộ môn khoa học độc lập Ở giai đoạn này, các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc mô tả, định tên và hệ thống hóa các loài Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của tác giả Ray (1963),trong
cuốn “Historia plantarum”, luận bàn về nơi sinh trưởng của thực vật, trong đó ông đã
vạch rõ ảnh hưởng của độ vĩ địa lí và độ cao so với mặt biển Và tác giả J.P de Tournefort (1656-1708), đã xác định đặc điểm thành phần của hệ thực vật và các vành đai cao (dẫn theo[48])
Nghiên cứu về thảm thực vật tiếp tục phát triển trong thế kỉ XIX, các công trình nghiên cứu của Heer (1838), Unger (1836), Schnizlein và Frickhinger (1848), Sendtnerr (1854, 1860), Lorenz (1858), Marilaun (1863), Wirtgen (1864), Senft (1865), Goppert (1868), Gradmann (1898) và nhiều tác giả khác đã chú ý đến địa lý học thảm thực vật: điều kiện lập địa, đặc điểm địa phương, thảm thực vật nguyên thủy, thảm thực vật thứ sinh, các quần thể thực vật cảnh quan (dẫn theo [50])
Grisebach (1872), Drude (1890) và Warming (1895) đã đề xuất những hệ thốngphân loại chung cho thảm thực vật thế giới Sau đó Schimper A.F (1898) chia quần hệ thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi (dẫn theo [114])
Wettstein và V.V.Dokuchaep (1898) cho rằng một hệ thống phân loại thảm thực vật phản ánh được tồn tại khách quan đúng quy luật của nó chỉ có thể dựa trên kết quả phân tích tổng hợp các mối quan hệ tác động qua lại các nhân tố phát sinh quần thể thực vật (dẫn theo [62])
Schimper (1903) đã phân biệt 3 kiểu quần hệ là: quần thụ (woodland), quần thảo (grass land), hoang mạc (desert) Theo ông trong 3 loại quần hệ nói trên có thể phân biệt được những loại hình quần hệ nhỏ hơn là kiểu thảm thực vật (vegetation types) (dẫn theo [112])
Morodov (1904) [69] đã công bố công trình “Học thuyết về các kiểu rừng” phục vụ mục đích kinh doanh Trong đó, ông trình bày những vấn đề cơ bản về sinh thái rừng
Trang 4Hội nghị sinh học lần thứ 3, tại Brussels, trong bản báo cáo của Flao và Srichora
đã đề nghị dùng thuật ngữ Quần hợp làm đơn vị cơ sở của lớp phủ thực vật Quần hợp là quần xã thực vật có thành phần loài xác định với sự đồng nhất về môi trường, đồng nhất về ngoại mạo (dẫn theo[6])
Dudley- Stamp (1925) đã dựa trên cơ sở lượng mưa hàng năm để chia những khu vực khí hậu, và trong mỗi khu vực ông tìm được những xã hợp có loài cây chiếm
ưu thế khác nhau trên các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau (dẫn theo [112]) Sukachev (1928) đã xây dựng hệ thống phân loại với đơn vị cơ bản là kiểu rừng [85] Rubel (1933) đã hoàn thiện thêm hệ thống phân loại của Brocman- Erosth (1912), hệ thống bao gồm 4 kiểu thảm thực vật và 25 lớp quần hệ, các kiểu được xây dựng trên cơ sở dấu hiệu ngoại mạo, còn các lớp được xây dựng trên cơ sở dấu hiệu sinh thái ngoại mạo, đây là hệ thống được nhiều người dùng (dẫn theo [6])
Champion (1936), đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt, bao gồm: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Cách phân biệt này hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến (dẫn theo [98]) Theo Thái Văn Trừng (1998) [112], hệ thống phân loại của Champion là một hệ thống mang tính chất tự nhiên khá nhất vì nó dựa trên nguyên lí sinh thái và đặc biệt là kiểu thảm thực vật được xếp theo một trật tự hợp lí, làm nổi bật mối quan hệ nhân quả giữa thực vật và hoàn cảnh sống
Burt-Davy (1938) đã tổng hợp tất cả những bảng phân loại đã có và đề nghị một khung phân loại thảm thực vật nhiệt đới áp dụng cho toàn thế giới (dẫn theo [114]) Obrevin (1938) khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới ở châu Phi đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh rừng và đưa ra lí luận bức khảm tái sinh (dẫn theo [6]) Sennhicop (1941, 1964) [84] đưa ra quan điểm phân loại rừng theo nơi sống và quần xã thực vật, trên đó có các kiểu thảm thực vật đặc trưng Kiểu phân loại này thích hợp với việc phân loại quần xã phục vụ chăn nuôi
Bear (1944), nhà lâm học người Anh đã đề nghị một hệ thống phân loại cho những quần thể thực vật vùng nhiệt đới Nam Mỹ, hệ thống phân loại của ông gồm 3 cấp: một cấp thuộc về thành phần loài cây là quần hợp, một cấp thuộc về hình thái và cấu trúc là quần hệ, và một cấp về môi trường sinh trưởng là loạt quần hệ (dẫn theo [114])
Clements, Gorotkop (1946), Whittaker (1953) (là các tác giả điển hình cho trường phái Anh-Mỹ) đã đưa ra hệ thống phân loại dựa vào các đặc điểm khác nhau của thảm thực vật ở các trạng thái Đó là quần xã dẫn xuất hay quần xã cao đỉnh (dẫn theo [85],[140])
Trang 5Richard (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái, theo ông đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là các cây thân gỗ, ông đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa nhiệt đới thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành cây đơn giản [81]
Theo Van (1956) đối với rừng nhiệt đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt [124]
Sukachev (1957) đã đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn về quần hợp Theo ông, quần hợp thực vật là đơn vị phân loại cơ sở của thực vật quần lạc học, bao gồm các thực vật quần giống nhau về khả năng tích lũy và chuyển hóa vật chất và năng lượng trên
bề mặt Trái đất, hay có thể nó là đồng nhất về sinh địa quyển Ông đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên cơ sở nguồn gốc tiến hóa hệ thực vật (dẫn theo [6]) Fosberg (1958) đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật trên cơ sở hình thái và cấu trúc của quần thể Tác giả đã phân biệt một nhóm cấu trúc dựa theo khoảng cách giữa các cá thể trong quần thể, một lớp quần thể dựa theo chức năng vật hậu, một cấp
cơ sở là quần hệ dựa trên dạng sống ưu thế trong quần thể (dẫn theo [112])
Theo Schmithuesen (1959) thảm thực vật trên Trái đất được phân thành 9 lớp quần hệ sau: lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ savan và quần xã, lớp quần hệ quần xã, lớp quần hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống một năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển (dẫn theo [6])
Các nhà lâm học Trung Quốc đã căn cứ vào nguyên tắc sinh thái quần xã, kết cấu ngoại mạo, phân bố địa lí, động thái diễn thế, môi trường sinh thái để chia ra các cấp phân loại khác nhau: Loại hình thực bì (đơn vị cấp cao); Quần hệ (đơn vị cấp trung) và đơn vị cơ bản Trên mỗi cấp,lại chia ra các cấp phụ Căn cứ phân loại đơn vị cấp cao chủ yếu dựa vào ngoại mạo, kết cấu và đặc trưng địa lí sinh thái, cấp trung và dưới cấp trung chủ yếu căn cứ vào tổ thành loài (dẫn theo [71])
Aubreville (1963) dùng tiêu chuẩn độ tàn che trên nền đất của tầng ưu thế sinh thái
để phân loại các kiểu thảm thực vật, đã phân chia được những kiểu quần thể thưa như kiểu rừng thưa và kiểu truông thảm thực vật (dẫn theo [112])
Ellenberg, Museller, Dombois (1967) (là tác giả tiêu biểu cho trường phái Thủy Điển) đã đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật gồm 7 lớp quần hệ, các lớp lại được chia thành lớp phụ, nhóm quần hệ và sau cùng là quần hệ (dẫn theo [6])
Trang 6Theo Utkin và Đưlít (1968) (trường phái Xô Viết), toàn bộ sinh quyển trên đất liền có các kiểu sau: rừng, đầm lầy, thảo nguyên, hoang mạc Kiểu rừng là đơn vị phân loại lớn nhất Kiểu rừng được chia ra 2 kiểu phụ: 1A- kiểu rừng có khoảng không phân bố trên 8-10m; 1B- rừng cây bụi và rừng thấp cao dưới 8-10 m Các kiểu phụ lại được chia thành các sinh địa quần lạc rừng (dẫn theo [6])
Theo Vipper (1973) khi nghiên cứu về tái sinh rừng đã kết luận tầng cỏ quyết và cây bụi có ảnh hưởng xấu đến sự tái sinh của cây con (dẫn theo [114])
Theo Tolmachop (1974) khi nghiên cứu thảm thực vật nhiệt đới ông đã kết luận rằng thành phần thực vật rất đa dạng, tổng tỉ lệ phần trăm của 10 họ có số loài lớn nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài, trong một quần thụ thường có 1-2 loài chiếm ưu thế (dẫn theo [114])
Whitmore (1975) đã cho xuất bản quyển sách Những rừng mưa nhiệt đới của
vùng Viễn Đông, trong đó ông đã lập một khung phân loại khá độc đáo của vùng
nhiệt đới gió mùa, chia thành hai kiểu rừng lớn: rừng mưa nhiệt đới và rừng gió mùa (dẫn theo [114])
Liên Hợp Quốc (1973) đã chấp nhận sử dụng hệ phân loại thảm thực vật của Ellenberg và Muller (1967) dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và có thể thể hiện được trên bản đồ 1:2.000.000 Hệ thống được sắp xếp như sau [114],[6]:
Lamprecht (1989) đã nghiên cứu ảnh của các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng, độ ẩm, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi đến khả năng tái sinh của cây [135] Theo David và cộng sự (1993) khi nghiên cứu rừng nhiệt đới Nam Mỹ đã nhận định sự xuất hiện hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành
Trang 7loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố (dẫn theo [114])
Nhận xét: Các tác giả trên thế giới khi nghiên cứu về thảm thực vật đã tập trung
vào xác định loài, xây dựng khung phân loại để phân chia kiểu thảm thực vật, tìm hiểu ảnh hưởng của khí hậu thổ nhưỡng đến sự sinh trưởng và tái sinh của cây, nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố địa lí, ảnh hưởng tương hỗ của các tầng cây trong thảm…Đây là cơ sở quan trong cho việc đề xuất các biện pháp khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững thảm thực vật rừng
Trang 8Pócs (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài của hệ thực vật miền Bắc nước ta thành 22 yếu tố địa lí Phổ yếu tố do ông đưa ra cho thấy hệ thực vật miền Bắc có yếu
tố đặc hữu chiếm 23,6%, yếu tố Đông Dương 16,4%, Yếu tố Indo-Malaisia 25,7%, yếu tố Ấn Độ 9,3% và yếu tố Nam Trung Quốc 5,1% [136] Từ đó cho thấy hệ thực vật Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với các hệ thực vật lân cận
Vũ Đình Huề (1969), khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu, đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Ông cũng đã kết luận tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới [40]
Trần Ngu Phương (1970) khi nghiên cứu thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam
đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật (dẫn theo [121]) Ông cũng đã đưa ra bảng phân loại chia rừng miền Bắc thành ba đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa và đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao Bảng phân loại gồm có các đai rừng và kiểu rừng sau (dẫn theo [114])
- Đai rừng nhiệt đới mưa mùa: Bao gồm: Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn; Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh; Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lũng; Kiểu phụ rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
- Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa: Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh; Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
- Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao:
Vũ Tự Lập (1976) đã sử dụng độ ưu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác định quần hợp và ưu hợp trong công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” Theo ông, quần hợp là tập hợp có quy luật của một số loài cây, trong đó có 5 loài chính chiếm ≥ 80% sinh khối, cây lập quần chiếm ≥ 50%; bán quần hợp là tập hợp thực vật chỉ đạt 1 trong 2 nội dung của quần hợp, đó là loài lập quần chiếm trên
≥ 60% sinh khối nhưng tập hợp cả 5 loài chỉ chiếm ≥ 75% hoặc tập hợp 5 loài chiếm trên 80% nhưng loài lập quần < 50%; ưu hợp là tập hợp có quy luật của các loài thực vật, trong đó loài chính chiếm > 50% sinh khối, cây lập ưu hợp ≥ 30% sinh khối; bán ưu hợp là tập hợp thực vật chỉ đạt 1 trong 2 nội dung của ưu hợp tập hợp, đó là 5 loài chiếm ≥ 50%, nhưng loài lập ưu hợp lại < 30% sinh khối hoặc tập hợp 5 loài chỉ đạt đến 45% còn loài lập ưu hợp ≥ 30% sinh khối (dẫn theo [98])
Trang 9Theo Thái Văn Trừng (1978), trong tất cả các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực vật thì nhóm nhân tố khí hậu thủy văn là nhóm nhân tố chủ đạo quyết định hình dạng và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật [112]
Vũ Đình Huề (1984) đã đưa ra hệ thống phân loại rừng phục vụ mục đích kinh doanh, theo ông kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vật thuộc một kiểu trạng thái trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng và tương ứng có một biện pháp lâm sinh thích hợp (dẫn theo [6])
Phạm Hoàng Hộ (1991) khi nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã công bố công trình “Cây cỏ Việt Nam” gồm 3 tập, trong đó tác giả mô tả 10.500 loài thực vật có mạch, đây là công trình đầy đủ có hình vẽ kèm theo về toàn bộ hệ thực vật rừng Việt Nam [32],[33]
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa ra khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam có thể thể hiện trên bản đồ 1:2.000.000 Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ, mỗi phân lớp quần hệ lại phân thành các nhóm quần hệ, quần hệ và thấp nhất là dưới quần hệ [58]
Nguyễn Vạn Thường (1991) đã kết luận tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam diễn ra liên tục, không mang tính chu kì Sự phân bố cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổi khác Quần
xã thực vật tái sinh tự nhiên sau nương rẫy có tính đa dạng sinh học cao [106]
Vũ Tiến Hinh (1991) khi nghiên cứu quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ thành tính theo phần trăm số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy Từ đó, nếu biết mật độ chung của những cây tái sinh có triển vọng sẽ xác định được số lượng tái sinh của từng loài [30]
Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư (1995) khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng ở Hoành Bồ, Quảng Ninh đã đề xuất quy phạm tạm thời về khoanh nuôi phục hồi rừng tại Quảng Ninh [63]
Nguyễn Vạn Thường (1995) đã xây dựng bản đồ thảm thực vật Bắc-Trung, đây
là sơ đồ tổng quát nhất về thảm thực vật Việt Nam (dẫn theo [6])
Trần Xuân Thiệp (1995) khi nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc Việt Nam, đã kết luận mật độ cây tái sinh khá cao đạt từ 500-8.000 cây/ha [94],[95]
Trang 10Lê Sáu (1996) [83] và Trần Cẩm Tú (1999) [118] đã nghiên cứu cấu trúc rừng
tự nhiên ở Kon Hà Nừng, Gia Lai và Hương Sơn, Hà Tĩnh, các tác giả đều kết luận sự phân bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm, cấp tổ thành càng cao thì số loài càng giảm
Thái Văn Trừng (2000) đã công bố công trình nghiên cứu trong cuốn “Những hệ
sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam”, ông đã chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành
14 kiểu: I Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới; II Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới; III Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới; IV Kiểu rừng kín lá cứng hơi ẩm nhiệt đới; V Kiểu rừng thưa, cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; VI Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô nhiệt đới; VII Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp; VIII Kiểu trảng cây to, cây bụi, thảm thực vật cao, khô nhiệt đới;
IX Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; X Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp; XI Kiểu rừng kín hỗn giao cây lá rộng, và lá kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp; XII Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm, ôn đới, núi vừa; XIII Kiểu quần hệ khô vùng cao; XIV Kiểu quần hệ lạnh vùng cao [114]
Phạm Ngọc Thường (2003), khi nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của thảm thực vật cây gỗ sau canh tác nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn, đã kết luận tổ thành cây gỗ phụ thuộc vào mức độ thoái hóa đất, trong đó loài cây gỗ có giá trị kinh tế chiếm tỉ lệ tổ thành thấp Mật độ cây tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi rừng [107],[108]
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu về quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã có nhận xét: quá trình diễn thế phục hồi rừng diễn ra chậm chạp, trong giai đoạn đầu diễn thế số lượng loài cây và mật độ cây tái sinh giảm từ chân đồi lên sườn đồi tới đỉnh đồi, giai đoạn này cây tái sinh có phân bố cụm, sau đó chuyển dần sang phân bố ngẫu nhiên, quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải các loài cây [15]
Ngô Minh Mẫn (2005) [66] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn quốc gia Cát Tiên và Võ Văn Sung (2005) khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 11Bình Châu đều đi đến kết luận cấu trúc tổ thành ở trạng thái IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách [86]
Trần Đình Lý (2006) đã vận dụng hệ thống phân loại của UNESCO (1973) khi nghiên cứu hệ sinh thái gò đồi các tỉnh Bắc Trung Bộ, theo ông ở vùng gò đồi Bắc Trung Bộ có 4 lớp quần hệ là: lớp quần hệ rừng kín; lớp quần hệ rừng thưa; lớp quần
hệ thảm cây bụi, lớp quần hệ thảm cỏ [62]
Ma Thị Ngọc Mai (2007) khi nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận đã kết luận: Trong giai đoạn đầu của diễn thế, mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên sườn đồi tới đỉnh đồi [64]
Trần Văn Con (2009) khi nghiên cứu về động thái tái sinh tự nhiên lá rộng thường xanh vùng núi phía Bắc Việt Nam, đã kết luận quá trình tái sinh diễn ra rất phức tạp [111]
Lê Đồng Tấn, Đỗ Hữu Thư và cộng sự (2007) khi nghiên cứu về khả năng tái sinh của cây gỗ trong thảm cây bụi tại trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc, đã tính toán được chỉ số đa dạng của cây gỗ tái sinh, mật độ, nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh, phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao, phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang và đánh giá được triển vọng tái sinh ở khu vực nghiên cứu [88],[105],[114]
Ma Thị Ngọc Mai và cộng sự (2013) khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy tại Đại Từ (Thái Nguyên) đã kết luận: Quá trình tái sinh
tự nhiên phục hồi rừng sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái như địa hình, độ dốc, mức độ thoái hóa đất [65]
Nhận xét: Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam khá phong
phú Các tác giả cũng tập trung vào xây dựng khung phân loại để phân chia kiểu thảm thực vật, định dạng loài, tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố địa lí, ảnh hưởng của các yếu
tố khí hậu, nghiên cứu khả năng tái sinh của cây gỗ… Nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu động thái sinh trường của cây gỗ thông qua các chỉ tiêu mật độ, đường kính và chiều cao
Trang 121.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi
1.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, núi đá vôi chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất liền Núi đá vôi
có vai trò quan trọng đối với con người, 1/4 dân số thế giới sống phụ thuộc vào nguồn nước ngầm có nguồn gốc đá vôi Nhiều cảnh quan núi đá vôi trên thế giới và trong nước được công nhận là thắng cảnh hay di sản thế giới như: Vườn quốc gia Port Campbel (Úc), quần thể hang động thờ Phật tại Pak Ou (Lào), Quế Lâm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Thạch Lâm tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)… hòn Phụ Tử (Kiên Giang), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Non Nước (Đà Nẵng), Phong Nha (Quảng Bình), hòn Vọng Phu (Lạng Sơn), động người xưa ở Cúc Phương (Ninh Bình) (dẫn theo [37])
Bảng 1.1 Danh sách các địa hình Karst trên thế giới
Trang 13STT Châu Quốc gia Tên gọi Tọa độ Diện tích
Obyek Wisata Batu Karst
2
Lào
Malayxia
Philippin
Eastern region of the
Trang 14Hình 1.1 Phân bố các địa hình Karst trên thế giới
Nguồn: Wikipedia, the free encyclopedia, download ngày 13/2/2016
1.Madagascar National Parks
2 Parcs Nationaux Madagascar
13 Gunung Sewu
14 Obyek Wisata Batu Karst Rammang-Rammang
15 Khammouane Province 16.Vang Vieng
17.Gunung Mulu National Park 18.Kilim Karst Geoforest Park 19.Perlis State Park
20.El Nido
21.Caramoan Peninsula 22.Ao Phang Nga National Park 23.Krabi
24 Phang Nga Bay 25.Hạ Long Bay 26.Phong Nha-Kẻ Bàng 27.Tam Cốc - Bích Động 28.Cao nguyên đá Đồng Văn 29.Eastern region of the Northern Limestone Alps 30.Paparoa National Park 31.Los Haitises National Park 32.Akiyoshidai Quasi-National Park 33.Gangwon-do
Ở châu Âu: Các nhà thực vật người Anh có nhiều đóng góp trong nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá vôi, tiêu biểu là các tác giả Moss (1911,1913) và White (1912), Hepburn (1942, 1955) Ở Nauy, tác giả Coombe và White (1951) nghiên cứu
quần xã thực vật ưa caxi Ở Thụy Điển, Halden (1950) chú ý đến Asplenium
Trang 15ruta-muraria, loài có nhu cầu về đá vôi, tìm thấy trên đá canxi granite ở Sodermanland
Đóng góp vào nghiên cứu thực vật ở Phần Lan là nhờ Pesola (1928, 1937, 1952, 1955), Brenner (1937), Eklund (1946), ông chia thực vật thành 3 nhóm: Cây ưa vôi bắt buộc (obligate calciphiles), Cây ưa vôi (calciphiles), Cây ưa vôi không bắt buộc (subcalciphiles) Ở Đức, Drude (1887) đã chú ý đến môi trường sống giàu canxi của
loài Carex humilis Kvasninas và Samarinas (1926) điều tra thảm thực vật của vùng
Mts Kyffhausen, dựa vào môi liên quan giữa thảm thực vật với đất canxi Range (1962) đã khảo sát thực vật ở Lubeck, ông đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm, nhóm kị vôi và nhóm ưa đất vôi Deppe (1928) đã có nghiên cứu thảm thực vật có loài Dẻ gai và Thủy tùng còn lại trên vùng núi đá vôi phía đông của Gottingen ở trung tâm châu Âu Ở Gottingen, Ruhl (1952) cũng nghiên cứu hệ thực vật ưa canxi trên vùng giàu đá vôi và đã bổ sung được 50 loài thực vật ưa canxi Bên canh đó, Volk (1935), Gluck (1935) và Gilomen (1938) có đề cập đến những điều tra khác về
thảm thực vật đá vôi ở Đức Ở Đan Mạch, Klein (1932) đề cập đến loài Asplenium
ruta-muraria ở Devonian của Luxemburg không cần canxi, và giải thích lí do này
Olsen (1943) đã nghiên cứu thực vật xung quanh vùng đá vôi tự nhiên ở vùng Allin của Đan Mạch, sự thay đổi của thực vật ở đây có thể quan sát trực tiếp từ xa qua các trảng thực vật như sau: Vùng cây thân thảo (herbaceous zone) Vùng cây bụi (cornel shrubberyzone), vùng dẻ gai xanh thấp (low chlorotic beechzone), vùng dẻ gai xanh (green beech zone) Delforge (1934) và Nihoul (1935) nghiên cứu thực vật Bergian Thế hệ trước ông đã quan sát ảnh hưởng của đất đến sự phấn bố của thực vật., và đưa
ra một danh sách sự tương quan của cây với từng loại đất trong 18 vùng của Entre- Sambre-et-Neuse Sau đó ông phân chia hệ thực vật đá vôi của Belgium thành 3 nhóm: 1 Querceto- Fagetum; 2 Prunetum spinosae; 3 Brometuumerecti Ở Pháp,việc nghiên cứu cũng được thực hiện vào thể kỉ gần đây, nhiều nhà phân loại như Planchon (1854), Ivolas (1886), Bonnier (1879, 1889) và Flahhault (1893) đã có nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá vôi Theo Flahault (1901), cây ưa đá vôi có giá trị của Pháp phân bố ở các vùng có khí hậu ôn hòa Jouaune (1928), Litardiere (1928), Issler (1938) và Dupont (1956) nghiên cứu thảm thực vật của đầm lầy giàu canxi ở Aisne, và của vách đá phấn ở Blanc Nez, và của cây mọc trên đất vôi ở Vosges, và vùng duyên hải Basque Astrian giàu canxi Theo Litardiere, loài
Brachypodium cũng là loài ưa canxi ở trên vùng đá phấn của Anh (dẫn theo [84])
Ở Châu Phi, chỉ có một vài nghiên cứu về thực vật trên các vùng đá vôi, quan trọng nhất là báo cáo của Gimingham và Walton (1954), nghiên cứu về hệ thực vật đá
vôi ở bắc Cyrenaica Ở đó, ông phát hiện 2 loài bản địa Cyclamen rohlfsianum và
Trang 16Hypericum decaisneanum sinh trưởng ở các khe nứt đá vôi như dạng chasmophytes
(là một dạng thực vật sống ở kẽ nứt của đá vôi) Ở phía nam Châu Phi, Herre (1938)
đã bổ sung thêm các dạng thực vật ưa vôi (lime loving plants) thuộc loài Titanopsis
setifera Ở vùng biển phía tây Madagasca, ông đã phát hiện được nhiều loài thực vật
sinh trưởng ở môi trường này [84]
Ở Bắc Phi, Fernald (1918) đã có công trình so sánh giữa hệ thực vật canxi với
hệ thực vật silic ở Newfounndland, là người tiên phong nghiên cứu hệ thực đá vôi ở châu Phi Eames (1926) đã nghiên cứu loài Hedeoma hispida ở Connecticut và khu vực lân cận Happer (1939) có báo cáo về hệ thực vật đầm lầy ở Virginia vào mùa xuân Ở đó ông đã phát hiện các cây ưa vôi và ưa axít [84]
Ở tây Ấn Độ, có các nghiên cứu của Gleason và Cook (1927), Howard và Briggs (1953) và Loveless và Asprey (1957) [84]
Ở châu Á, ở các quốc gia này (trừ Nhật Bản), việc nghiên cứu hệ thực vật hoặc thảm thực vật đá vôi còn ít Ở Trung Quốc, Hou (1954) và Lee (1957) là các nhà phân loại thực vật, đã có các nghiên cứu kết nối giữa một số loài thực vật với đá vôi [110] Ở Nhật Bản, đặc trưng của hệ thực vật đá vôi đã hấp dẫn nhiều nhà phân loại học thực vật Tiêu biểu là Makino (1983) đã nghiên cứu về môi trường sống của
Asplenium ruta-muraria Trong báo cáo của ông về loài dương xỉ bản địa, ông kết
luận rằng chúng sinh trưởng giới hạn trong các kẽ nứt của đá vôi Takeda (1905) chỉ
ra sự liên quan giữa các loài Asplenium ruta-muraria, Cyrtomium caryotideum,
Camptosorus sibiricus, Boniniella ikenoi và Aleuritopteris krameri Honda (1929) và
Murai (1934) cũng có báo cáo về loài Asplenium ruta-muraria trên đá vôi Kawata
(1932) giới thiệu công trình của Unger, theo ông các loài ưa canxi được phân chia thành 3 lớp: (1) Không phụ thuộc canxi, (2) Nhóm phụ thuộc vừa, (3) Nhóm bị phụ thuộc Shirofuyo (1932), Kosaka (1932) và Sasamura (1935) đã công bố hệ thực vật ở các tỉnh Bingo, Bittchu và Rikuchu trên tạp chí địa phương [139]
Ở Trung Quốc, Viện Lâm nghiệp Quảng Đông và Quảng Tây đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trồng trên núi đá vôi, như: Tông
dù, Dầu choòng, Xoan nhừ, Lát hoa, Bạch đàn, Nghiến trong (dẫn theo [128])
Theo Geoffrey P Chapman,Yin-Zheng (2002),Trung Quốc có diện tích núi đá vôi lớn nhất trên thế giới, thuộc trầm tích CaCO3 trắng, với diện tích 283.000 km2 Thảm thực vật trên núi đá vôi ở Trung Quốc rất đa dạng, đặc biệt là sự phong phú về các loài đặc hữu.Theo Xu (1993,1995), đã phát hiện 4287 loài và nhóm loài thực vật
có mạch trên núi đá vôi ở miền Nam và Tây Nam Trung Quốc [130] Trong đó, có
Trang 17nhiều loài cổ xƣa và một số loài có nguy cơ tuyệt chủng Các loài cổ xƣa nhƣ: Cycas
baguanheensis, C panzhihuanensis, C micholitzii [130]
Hình 1.2 Phân bố núi đá vôi ở Việt Nam
Nguồn: Trần Tân Văn và cộng sự (2005), “Phát triển bền vững các vùng đá vôi ở Việt Nam”
Trang 18Trần Ngũ Phương (1970,2000), trong công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam”, đã phân chia rừng trên núi đá vôi thành các kiểu sau [76],[77]:
- Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam (điều tra năm 1963)
+ Kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh rừng hai tầng Nghiến- Mạy tèo- Lạng Sơn Rừng gồm hai tầng, tầng I với các loài cây ưu thế là Nghiến, cây cao trung bình
24 m, đường kính ngang ngực trung bình là 1,4 m, Nghiến đang ở giai đoạn thoái hóa, tầng II với các loài ưu thế là Mạy tèo, cây cao trung bình 15 m, đường kính ngang ngực trung bình 0,3 m, sức sống tốt
+ Kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh rừng hai tầng Nghiến - Mạy bông - Cao Bằng
Rừng gồm hai tầng, tầng I với loài Nghiến chiếm ưu thế, tầng II với loài Mạy bông chiếm ưu thế
+ Kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh rừng hai tầng Nghiến - Ôrô - Hà Giang
Rừng gồm một tầng do Nghiến và Ô rô chiếm ưu thế, tán rừng bằng phẳng và khá liên tục
+ Kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh rừng một tầng Nghiến - Trai - Lạng Sơn
Rừng gồm một tầng do Nghiến và trai chiếm ưu thế, tán rừng tương đối liên tục, Nghiến và Trai cao trung bình 24,5 m, đường kính ngang ngực trung bình 0,9 m
- Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi:
+ Kiểu phụ khí hậu rừng Vân sam - Hà Giang
Rừng một tầng, loài chiếm ưu thế là Vân sam, cao trung bình 18 m, đường kính ngang ngực 0,4 m và sức sống tốt
+ Kiểu phụ khí hậu rừng Hoàng đàn (Cupressus torulosa)- Lạng Sơn
Rừng một tầng, không đều và không liên tục, cây cao trung bình 15 m, đường kính trung bình 0,3-0,35 m
+ Kiểu phụ khí hậu rừng Kim giao (Podocarpus latifolus)
Rừng một tầng, loài ưu thế là Kim giao, cây có thể cao đến 30 m, đường kính 1,4 m, phân bố trên đỉnh các núi đá vôi, ở độ cao 400-500 m
Thái Văn Trừng (1978), khi phân loại các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, với quan điểm sinh thái phát sinh, đã xác định rừng trên núi đá vôi thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu và được phân loại như sau [111]:
Trang 19- Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:
Kiểu thảm thực vật này trên vùng núi đá vôi với ưu hợp Nghiến - Trai lí xuất hiện ở các lèn đá, sườn núi có độ dốc lớn, có nhiều khoảng trống để lộ đá gốc, sườn núi thường lởm chởm, phân bố ở độ cao dưới 700 m, tập trung ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam Dây leo thân gỗ phát triển mạnh như các loài trong họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae) Tại những sườn có độ dốc lớn, đá dạng khối, đất mỏng hay không có đất, thành phần thực vật thường chủ yếu là những loài có khả năng bám rễ chắc, kích thước nhỏ như Mạy tèo, Teo nồng và một số loài thuộc chi Ficus như Đa, Xanh, Si Tại những khu vực tương đối bằng phẳng, đất dốc tụ tầng dày thảm thực vật thường có những cá thể có kích
thước lớn như Phay (Duabanga grandiflora), Trường sâng, Chò chỉ, Chò đãi
- Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới:
Kiểu thảm thực vật này phân bố ở những nơi có địa hình thung lũng núi đá vôi, trên các loại đất dốc tụ thấp và ẩm Thảm thực vật có sự hỗn giao nhiều loại cây thường xanh như Trường sâng, Xoan nhừ, Dâu da xoan, Lòng mang, Củi rừng Kiểu rừng này phổ biến ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và Ninh Bình, Quảng Bình
- Hệ sinh thái rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp:
Phân bố ở đai cao trên 700 m như Chợ Rã (Bắc Kạn), Nguyễn Bình (Cao Bằng), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang) và phần lớn núi đá vôi Tây Bắc Ngoài những đặc điểm về thành phần loài cây lá rộng đặc trưng phân bố tại núi đá vôi như các vùng khác, tại kiểu rừng này còn có sự xuất hiện khá phổ biến của các loài cây lá kim như thông Pà Cò, sam Kim Hỷ, trắc bách diệp Quản Bạ Tại những vùng cao hơn 1000 m
vùng Tây Bắc còn có các loài như Kiểng (Burretiodendron brilletti), Heo (Croton
Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri)
Trang 20- Hệ sinh thái rừng thứ sinh sau khai thác, sau nương rẫy trên núi đá:
Tại những khu vực bị khai thác kiệt, tổ thành loài cây gỗ thay đổi rất cơ bản do
sự xuất hiện nhiều các loài tiên phong ưa sáng có nguồn gốc núi đất như Ràng ràng
mít (Ormosia balansae), Ba bét (Mallotus paniculatus), Bọ nẹt (Cleidion
brevipetiolatum) Đối với những khu có hoạt động nương rẫy như Hòa Bình, Lạng
Sơn, Cao Bằng, Ninh Bình, Hà Nam… xuất hiện một số kiểu thực bì chủ yếu là dạng cây bụi, cây gỗ nhỏ có gai như Mạy tèo, Ô rô, Xẻn gai Có một số nơi xuất hiện các quần xã tre nứa nhỏ như Cúc Phương, Yên Tử, Nguyên Bình (Cao Bằng) [55]
Hoàng Kim Ngũ (2005) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loại cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lí, Hoàng đàn trên núi đá vôi
ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn Đề tài đã đề xuất được một số biện pháp kĩ thuật để gây trồng các loài cây này ở địa phương trên [71]
Theo Viện điều tra quy hoạch rừng (1996), rừng trên núi đá vôi được chia thành các trạng thái sau (dẫn theo [128]):
- Trạng thái IV: diện tích rừng nguyên sinh trên núi đá vôi còn rất ít, nhưng có kết cấu ổn định, rừng chia thành 3 tầng là tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái và tầng dưới tán, dưới tầng cây gỗ là tầng cây bụi và thảm tươi [128]
- Trạng thái IIIB: loại rừng này đã bị khai thác một số cây có giá trị kinh tế, tầng tán bị phá vỡ nhẹ, kết cấu tầng thứ vẫn rõ [128]
- Trạng thái IIIA3: là loại rừng đã bị khai thác vừa phải, những cây có giá trị kinh tế đã bị chặt, tầng tán đã bị phá vỡ, cây bình quân không đều, rừng thường có 2 tầng rõ rệt [128]
- Trạng thái IIIA2: rừng đã bị khai thác quá mức, cấu trúc rừng của trạng thái rừng đã bị thay đổi nhiều Rừng có 2 tầng, tầng trên tán không liên tục, được hình thành chủ yếu của những cây ở tầng giữa trước đây [128]
- Trạng thái IIIA1: rừng đã bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ từng mảnh lớn, cấu trúc rừng đã bị xáo trộn nhiều [128]
- Trạng thái II (rừng non có trữ lượng): là rừng phục hồi sau nương rẫy hay khai thác kiệt, diện tích loại rừng này thường nhỏ phân bố rải rác [128]
Trần Hữu Viên (2004), rừng trên núi đá vôi phần lớn đều bị tác động hay tàn phá, hiện chỉ còn 55 % diện tích núi đá vôi còn rừng Tuy nhiên, diện tích có rừng này phần lớn là rừng thứ sinh nghèo [128]
Rừng trên núi đá vôi hiện nay hầu hết là rừng thứ sinh, mật độ cây thưa, chiều cao thấp
Trang 21Bảng 1.2 Thống kê trữ lượng rừng núi đá vôi
Trung bình
m3/ha
Tổng
Trung bình
m3/ha
Tổng
Trung bình
Nguồn: Trần Hữu Viên 2004 [128]
Theo Đỗ Hữu Thư và cộng sự (2000), đối với thảm thực vật trên núi đá vôi thì nhân tố đá mẹ, thổ nhưỡng cùng với các nhân tố khí hậu thủy văn là nhóm nhân tố quyết định tạo nên diện mạo của thảm thực vật trên núi đá vôi [104]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2001), khi nghiên cứu ở vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam đã tuyển chọn được 40 cây bản địa để phục vụ mục đích khôi phục lại rừng trên núi đá vôi [2]
Trần Hữu Viên và cộng sự (2004) đã bước xây dựng hệ thống phân vùng sinh thái rừng trên núi đá vôi Theo ông, hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi được phân thành
5 vùng lớn theo địa danh, theo sự chi phối, ảnh hưởng của chế độ khí hậu và đặc trưng về khu hệ thực vật như sau [128]:
- Vùng Cao Bằng- Lạng Sơn: đây là vùng có vĩ độ cao và là vùng có tính chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang á nhiệt đới Núi đá vôi khu vực này thuộc dạng núi trung bình thấp, bao gồm nhiều cao nguyên đá vôi khối uốn nếp, có quá trình hoạt động Karst trên mặt và ngầm Đây là vùng núi đá vôi xen kẽ trầm tích lục nguyên [128]
Hệ thực vật mang tính pha trộn giữa các luồng di cư, nhưng đặc trưng bởi luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa như: Hoàng đàn Hữu Liên, Trai
lý, Ngọc am Kim Hỷ…[74],[128]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thanh và Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), đã phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên có 45 loài thuộc 27 chi của
Trang 22họ thầu dầu ở vùng núi đá vôi Trong đó, phân họ đa dạng nhất là phân họ Phyllanthoideae với 18 loài, 11 chi, 7 tông, đặc biệt có 3 loài đặc hữu của Việt Nam:
Alchornea petelotii, Sauropus racemosus, Phyllanthus dongmoensis [89]
- Vùng Tuyên Quang - Hà Giang: núi đá không tạo thành dải liên tục, khối núi lớn, tạo nên cảnh quan hùng vĩ, như cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) [128]
Hệ thực vật mang tính pha trộn của nhiều luồng thực vật, trong đó tiêu biểu là thực vật bản địa Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa với những đặc trưng của các loài cây trong họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) Ngoài ra, do ảnh hưởng của vị trí địa lí hệ thực vật của vùng còn chịu sự chi phối của luồng di cư thực vật từ Hymalaya- Vân Nam- Quí Châu Các đại diện như Hoàng đàn
(Cupressus torulosa), Pơmu (Fokienia hodginsii), Thông lá tre (Podocarpus
neriifolius) [128]
- Vùng Tây Bắc- Tây Thanh Hóa- Nghệ An: chủ yếu là núi đá cao và cao nguyên đá vôi Khối uốn nếp xen kẽ đá phiến, cát kết kéo dài hình thành nên một dải khá đồng nhất từ Phong Thổ (Lai Châu) đến phía Tây Thanh Hóa [128]
Khu hệ thực vật trong vùng có đầy đủ các vành đai thực vật, từ vành đai nhiệt đới đến các vành đai á nhiệt đới núi cao Vành đai thực vật nhiệt đới chủ yếu là các loài cây lá rộng thường xanh thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Cáng lò (Betulaceae), Hồ đào (Juglandaceae), Dầu (Dipterocarpaceae) và có xuất hiện một số loài theo luồng di cư
Tây Á như Săng lẻ (Lagerstroemia corniculata), Chò nhai (Anogeissus acumminata)
Và các loài thực vật tiêu biểu cho vành đai á nhiệt đới núi cao như Pơmu, Thông Pà
cò (Pinus kwangtungensis) [128]
Nguyễn Huy Dũng và cộng sự (2005), thống kê trong cả nước có 20 khu rừng đặc dụng phân bố trên diện tích núi đá vôi (có lẫn cả núi đất), tổng diện tích của khu bảo tồn là 366.371 ha [25]
Theo Vũ Thị Liên và cộng sự (2009), khi nghiên cứu hệ thực vật trên núi đá vôi tại khu vực Bản Đấu, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, đã phát hiện 108 loài cây có giá trị làm thuốc thuộc 98 chi, 54 họ Trong đó, ngành Mộc lan chiếm 92,6%, ngành Dương xỉ chiếm 6,48%, ngành Thông đất chiếm 0,93% [57]
Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Ngọc Đài và Phạm Hồng Ban (2007), đã phát hiện ở vườn quốc gia Bến En có 332 loài, 224 chi, 96 họ của 3 ngành thực vật bậc cao: ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm 95,18%; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chiếm 4,22%; ngành Thông đất (Lycopodiophyta) chiếm 0,6% [20],[21]
Trang 23- Vùng Trường Sơn Bắc: hệ thống núi đá vôi tập trung chủ yếu tại Phong Nha-
Kẻ Bàng và Khe Ngang (Quảng Bình) với độ cao trung bình từ 700-800m Đá vôi vùng này có cấu tạo phấn lớp dày, màu sáng xám, đồng nhất và tinh khiết [128]
Về thực vật khu vực này có tính đa dạng cao nhất ở nước ta, đây là nơi hội tụ của ba luồng di cư thực vật Từ Hymalaya và Vân Nam xuống mang tính chất của khu hệ Ấn Độ- Vân Nam, từ phía Nam lên mang dấu ấn của khu hệ thực vật Malaysia- Indonesia Thành phần thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc các họ phân
bố rộng rãi vùng nhiệt đới như họ Xoan (Meliaceae), họ Đậu (Fabaceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Dầu (Dipterocarpaceae), Bồ Hòn (Sapindaceae) Vùng núi đá vôi trên cao có những loài cây lá kim rất điển hình như các quần thể Pơmu hay Bách
xanh và một số loài khác như Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia
fleuryi), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) [128]
- Vùng các đảo và quần đảo: đây là vùng sinh thái núi đá vôi rất đặc biệt, chủ yếu tập trung vùng thềm lục địa và vùng biển Đông Bắc Việt Nam, tạo nên cảnh quan không chỉ hùng vĩ mà còn có những giá trị văn hóa và di sản thiên nhiên lớn Các đảo
đá vôi trong khu vực này có đầy đủ các dạng địa hình của một vùng Karst ngập nước biển Phần lớn các đảo phân bố rải rác trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, một số đảo lớn có phần núi đá vôi chiếm diện tích lớn là đảo Cát Bà và đảo Cái Bầu [128]
Khu hệ thực vật vùng này nghèo nàn hơn so với các vùng đá vôi khác, chủ yếu tập trung tại khu vực Vườn quốc gia Cát Bà Do sự phân tán của các đảo nên hệ thực vật của vùng này chưa thực sự được nghiên cứu một cách toàn diện, vẫn còn nhiều loài thực vật mới chưa được khám phá [128]
Theo Vũ Tấn Phương và cộng sự (2012), hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi phân
bố theo vĩ độ từ Hà Tiên đến Cao Bằng (230 B), chủ yếu từ Quảng Bình trở ra Phân
bố theo đai độ cao từ vài trục mét lên đến 1.200 m so với mực nước biển Có thể chia
hệ sinh thái theo đai cao như sau [78]:
- Rừng núi đá vôi ở đai thấp dưới 700 m:
+ Rừng kín thường xanh chân núi đá vôi: Cấu trúc rừng phức tạp, gồm 5 tầng:
Tầng vượt tán (A1): Cao trên 40 m,các đại diện phổ biến như: Sấu (Dracontomelum duperreanum), Thung (Tetrameles nudiflora), Sâng (Pometia pinnata), Chò nhai
(Anogeissus acuminata); Tầng ưu thế sinh thái (A2): Gồm những cây gỗ cao từ 20
đến 30 m thuộc các họ: Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), Vang (Caesalpiniaceae), Trinh nữ (Mimosaceae), Đậu (Fabaceae), Bồ hòn (Sapindaceae),
Trang 24Ngọc lan (Magnoliaceae), Xoan (Meliaceae) và các loài Sao xiêm (Hopea siamensis), Máu chó (Knemasp.), Sao (Hopea sp.); Tầng dưới tán (A3): Gồm những cây cao dưới
15 m, mọc rải rác thuộc các họ: Bứa (Clusiaceae), Du (Ulmaceae), Na (Annonaceae)
cùng với các loài: Lọ nồi (Hydnocarpus sp.), Trôm (Sterculia sp.), Mang (Prerospermum sp.), Dâu da đất (Baccaurea ramiflora) và các loài đặc trưng Ruối ô
rô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Streblus macrophyllus); Tầng bụi (B): Gồm những
cây bụi, gỗ nhỏ cao dưới 8 m thuộc các họ: Trúc đào (Apocynaceae), Cà phê (Rubiaceae), Mua (Melastomataceae), Ngũ gia bì (Araliaceae), Thầu dầu
(Euphorbiaceae), Ô rô (Acanthaceae); Tầng thảm tươi (C): Gồm các cây thân thảo
thấp (dưới 2m) thuộc các họ: Araceae, Acanthaceae, Urticaceae, Zingiberaceae,
Begoniaceae, Convallariaceae; Thực vật ngoại tầng gồm dây leo thuộc các họ: Nho
(Vitaceae), Đậu (Fabaceae), Dây khế (Connaraceae) và các cây bì sinh, kí sinh thuộc
họ Lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthaceae), họ Ráy (Araceae)
+ Rừng thường xanh sườn núi đá vôi: Các loài cây của rừng thường xanh sườn núi đá vôi gồm có: Ruối ô rô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Quất hồng bì (Clausena lansium), Lòng tong (Walsura sp.), Sếu (Celtis sp.), Trai (Garcinia fagraeoides), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Táo vòng (Drypetes
perreticulata), An phong (Alphonsea sp.), Mại liễu (Miliusa balansae), Cơm rượu
(Glycosmis sp.), Thị (Diospyros sp.), Búng báng (Arenga pinnata), Máu chó (Knema sp.), Cách hoa (Cleistanthus sumatranus), Nhọc (Polyalthia sp.), Bình linh (Vitex sp.), Gội (Aglaia gigantea), Dâu da xoan (Spondias lakonensis)
+ Rừng kín thường xanh đỉnh núi đá vôi: Cấu trúc rừng đơn giản thường chỉ 1 đến 2 tầng gồm những cây cao từ 8- 15 m như: Ngũ gia bì (Schefflera sp.), Sầm (Memecylon sp.), Sến đất (Sinosideroxylon sp.), Bông mộc
(Boniodendron parviflorum), Bì tát (Pistacia cucphuongensis), Cánh kiến (Mallotus
philippinensis) Thực vật tầng thấp là những loài cây bụi như Mua (Melastoma sp.),
Trâm (Syzygium sp.) và lớp thảm tươi như Ráng cánh bần (Dryopteris sp.), Ráng cổ lí (Colysis cucphuongensis), Ráng yểm dực (Tectaria sp.), Quyển bá (Selaginella sp.), Riềng (Alpinia sp.), Thu hải đường (Begonia sp.), Bóng nước (Impatiens sp.), Thuốc bỏng (Kalanchoe sp.) với các loài cây thuộc họ Lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthus sp.), dây leo như Vằng (Jasminum sp.), Mảnh bát (Coccinia grandis), Đại hái (Hodgsonia macrocarpa)
- Rừng núi đá vôi ở đai cao 700 - 1.000 m:
Khu vực núi đá vôi có độ cao trên 700 m, phân bố chủ yếu ở miền Bắc, tập trung ở khu vực Đông Bắc: Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn Ngoài ra, còn một số
Trang 25đỉnh núi đá vôi rải rác ở Bắc Trung Bộ dọc theo biên giới Việt - Lào như: Pu Xai, Lai Leng, Pù Hoạt, Pù Huống, Xuân Liên Các kiểu rừng chính gồm:
+ Rừng cây lá rộng thường xanh thung lũng và chân núi đá vôi: Phổ biến có các loài thuộc Gội (Aglaia sp.), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Chò chỉ (Parashorea
chinensis), Táu ruối (Vatica diospyroides), Giẻ (Quercus sp.), Sồi (Lithocarpus sp.),
Ngọc lan (Michelia sp.), Mỡ (Manglietia sp.) và các loài thuộc họ Long não như
Litsea sp., Cryptoccarya sp., Machilus sp Ở tầng 1 và các loài: Thị (Diospyros sp.),
Chẹo (Engelhardtia sp.), Nhội (Bischofia javanica), Cà muối (Cipadessa baccifera), Nhọ nồi (Hydnocarpus clemensorum), Lòng mang (Pterospermum sp.), Sếu (Celtis
cinnamomea), Sơn trà (Eriobotrya poilanei), Re (Cinnamomum bonii), Xoan hôi
(Toona sinensis), Lát núi (Koelreuteria sp.) ở tầng 2 là thị (Diospyros sp.), Ngát (Gironniera subaequalis), Nhọc (Polyalthia sp.), Mắc mật (Clausena sp.) ở tầng 3
+ Rừng cây lá rộng thường xanh sườn núi đá vôi: Phổ biến loài Nghiến
(Excentrodendron tonkinense), nhô lên với đường kính 70-80 cm, Trai (Garcinia sp.), Đinh (Markhamia sp.), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Trâm (Syzygium sp.), Thị (Diospyros sp.), Kháo (Phoebe sp.), Nhọc (Polyalthia sp.), Thôi ba (Alangium chinense)
+ Rừng hỗn giao cây lá rộng, lá kim ở đỉnh núi đá vôi:Chủ yếu là các loài cây
Đa, Sanh (Ficus sp.), Trâm (Syzygium sp.), Chân chim đá vôi (Schefflera octophylla),
Hồ Đào núi (Juglans sp.), Du đá vôi (Ulmus sp.), Pít tô (Pittosporum sp.), Ngũ gia bì
hạ long (Schefflera alongensis) Ngoài các loài cây lá rộng như trên, còn có các loài như: Các loài Tuế (Cycas sp.), Hoàng đàn (Cupressus torulosa), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre lá ngắn (Podocarpus
pilgeri), Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Du sam đá vôi (Keteleeria davidiana), Sam bông sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), , Sam bông sọc trắng
(Amentotaxus yunnanensis), Thông đỏ (Taxus chinensis), Sam kim hỷ (Pseudotsuga
chinensis), Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) Tầng thấp chủ yếu là các loài
cây như Thanh hương (Pistacia weimanifolia), Cồng (Calophyllum bonii), Mắc mật (Clausena indica), Huyết giác (Dracaena cambodiana), Han (Laportea sp.), Thu hải đường (Begonia sp.), Mã hồ (Mahonia nepalensis), Cỏ lá tre (Setaria palmifolia) v.v
+ Rừng lùn cây lá rộng đỉnh núi đá vôi: Cấu trúc rừng chỉ có một tầng với
những cây gỗ nhỏ chiều cao khoảng 6 - 10 m Các loài đặc trưng như: Tuế (Cycas sp.), Thiết sam giả (Pseudotsuga chinensis), Thiết sam giả lá ngắn (P brevifolia), Thiết sam đông bắc (Tsuga chinensis), Hồi núi (Illiciumgriffithii), các loài Ngũ gia bì
Trang 26(Schefflera spp.), Dẻ (Quercus sp., Lithocarpus sp.), Chè núi (Ternstroemia
japonica), Đỗ quyên (Rhododendronlanceolarium), Câng (Tirpitzia sinensis)
Theo Thái Thành Lượm và cộng sự (2013), khi nghiên cứu hệ sinh thái trên núi
đá vôi vùng Kiên Lương (Kiên Giang) đã phát hiện được 6 loài rêu, 26 loài khuyết thực vật, 1 loài hạt trần, 56 loài một lá mầm, 233 loài hai lá mầm [60]
Theo kết quả điều tra (2015) của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp (Viện Điều tra Quy hoạch rừng),đã phát hiện ở vườn quốc gia Cát Bà có 1.585 loài, thuộc 850 chi, 187 họ, 5 ngành thực vật Trong đó bao gồm cả một số loài thực
vật nông nghiệp gây trồng phổ biến (245 loài) như: Cà pháo (Solanumundatum), Khoai lang (Ipomoea batatas), Rau muống (Ipomoea aquatica), Sắn (Manihot
esculenta), Lúa (Oryza sativa), Ớt (Capsicum frutescens), Cùng một số loài cây
rừng được đem về gây trồng thuộc nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Sao đen
(Hopea odorata), Dầu con rái (Dipterocarpus alatus), Dầu song nàng (Dipterocarpus
dyeri), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Chò chỉ (Parashorea chinensis)
thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Du sam (Keteleeria evelyniana), Thông caribe
(Pinus caribaea), Thông nhựa (Pinusmerkussii)họ Thông (Pinaceae), Móng bò hoa
tím (Bauhinia purpurea), Hoa ban (Bauhinia variegata), Cà te (Afzelia xylocarpa) họ Vang (Caesalpiniaceae), Quỳnh (Epiphyllum oxypetalum), Càng cua (Zygocactus
truncatus) thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), Tràm bông đỏ (Callistemon citrinus),
các loài Bạch đàn (Eucalyptus spp.) thuộc họ Sim (Myrtaceae) [110]
Nhận xét: Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi khá phong
phú, tập trung chủ yếu là nghiên cứu núi đá vôi trên đất liền, có ít các công trình nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá vôi ở các đảo Các công trình nghiên cứu thường tập trung vào phân chia kiểu thảm, định loài Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về động thái sinh trưởng và tái sinh của thảm thực vật trên núi đá vôi
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở tỉnh Quảng Ninh
1.3.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật nói chung
Theo Gagnepain (nhà thực vật học nghiên cứu ở Đông Dương), hệ thực vật ở Quảng Ninh (Cẩm Phả) chịu ảnh hưởng của hệ thực vật Hoa Nam Trung Quốc, có nhiều đặc điểm giống hệ thực vật ở Hải Nam, chúng di cư từ Đông Nam Trung Quốc sang (dẫn theo [109])
Trang 27Mặt khác, luồng di cư từ phía Himalaya, Miến Điện tới, cùng với các loài thực vật bản địa chúng tạo ra sự phong phú đa dạng [109]
Có những loài thực vật vùng ôn đới (á nhiệt đới) như các họ Dẻ (Fagaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Du (Ulmaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Nhài (Oleaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae)… Có những họ cây nhiệt đới như họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae) [109]
Theo Nguyễn Thế Hưng (2010), khi nghiên cứu thảm thực vật ở khu vực Cẩm Phả, đã phát hiện 54 loài cây gỗ, thuộc 46 chi và 33 họ của lớp 2 lá mầm thuộc ngành hạt kín [44]
Theo Địa chí Quảng Ninh (2011), thực vật Cẩm Phả phân bố trên những vùng sinh thái từ thấp đến cao như sau [109]:
- Vùng bãi triều ngập mặn, cửa sông: có các loài Sú (Aegyceras corniculatum)
mọc ở các bãi triều ngập trung bình; các loài Giá (Excoecaria agallacha), cóc Vàng (Lumnitzera racemosa), Ôrô (Acanthus ilicifolius) ở các bãi ngập triều cao; các loài Tra (Hibiscus tiliaceus), Củi biển (Heritiera littoralis), Mướp sát (Cerbera manghas), Vạng hôi (Clerodendroninerme sp.), Dứa dại (Pandanus tectorius), Cốc kèn (Derris
trifoliata) ở các bờ đầm, bờ sông ít khi ngập mặn [109]
- Vùng bãi cát: loài Phi lao (Casuarina equisetlifolia) được trồng để ngăn cát
cùng với một số loài cây bụi và thảm thực vật biển [109]
- Vùng gò đồi ven biển lên đến độ cao 200 m: có các loài Lim xanh
(Erythrophloeum fordii), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Sồi phảng (Castanopsis fissa), Dẻ quấng (Quercus chrysocalyx), Dẻ cau (Quercus platycalyx),
Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Sồi hồng (Lithocarpus henryi), Hà nu (Ixonanthes
cochinchinensis), Trâm (Syzigium sp.), Chẹo (Engelhartia sp.), Dung (Symplocossp.),
Ngát (Gironniera subaequalis), Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis), Bạch đàn lá nhỏ (Eucalyptus resinifera), Re gừng (Cinnamomumzeylanicum), Quế (Cinnnamomun cassia), Thông mã vĩ (Pinusmassoniana), Thông nhựa (Pinus
merkusii)…[109]
- Vùng đồi từ 200 đến 500 m: có các loài Lim xanh, Táu mật
(Vaticatonkinensis), Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Dẻ gai (Castanopsis
chinensis), Sến đất (Syderoxylon rostratum), Vối thuốc (Schima wallichii), Trám
Trang 28trắng (Canarium album), Ngát (Gironniera subaequalis), Thông mã vĩ, Thông nhựa, Sau sau (Liquidambar formosana), Giổi và Ba bét lông (Mallotus sp.) [109]
- Vùng núi cao từ 500 đến 1.000 m: có các loài cây chủ yếu như: Giổi bà
(Talauma sp.), Táu mật (Vatica tonkinensis), Giổi nhung (Michelia faveolata), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), các loài trong họ Dẻ (Fagaceae) [109]
- Vùng núi đá vôi: có các loài cây Vàng anh (Saraca dives), Táu mật, Sến đất
(Syderoxylum rostratum), Thị đen (Diospyros pilosella), Nhọc (Polyalthia sp.), Trường kẹt (Mischocarpus oppositifolius), Phong lan (Orchidaceae), Huyết dụ (Dracaena), Bún (Vitex limolifolia), Trâm sừng (Syzygium chanlos), Vỏ hôi (Photinia sp.), Trâm sách (Canthium dicoccum), Kim giao (Podocarpus wallichii), Gội nếp (Amoora gigantea), Sâng nước (Haymea trijusa), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Táo bông (Drypetes perreticulatus), Sồi lá tròn (Sapium rotundifolium), Vấp (Garcinia
fagraeoides)…[109]
1.3.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi
Có rất ít tác giả nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi tỉnh Quảng Ninh (dẫn theo [45]) Trong số đó có công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Hiệp (2005) là tiêu biểu nhất, được báo cáo trong “Kỷ yếu hội thảo đa dạng sinh học khu di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long” Ông đã phân chia thảm thực vật trên núi đá vôi ở khu vực vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (thuộc thành phố Cẩm Phả) như sau [29]:
- Thảm thực vật bờ cát ven đảo
Phân bố trên các bãi cát ven đảo, có các đại diện như: Tra làm chiếu (Hibiscus
tiliaceus), Tra lâm vồ (Thespesia populnea), Mướp sát (Cerbera manghas), Hếp (Scaevola taccada), Hồ da hạ long (Hoya balansae), Hồ da thịt (H.cornosa) và cây
Tiết căn (Sarcostema brevistigma) rất phổ biến [29]
- Thảm thực vật ở thung lũng
Thảm thực vật này được phân bố ở lòng chảo các đồi núi đá vôi hoặc hẻm núi Lớp đất ở đây dày và độ ẩm cao hơn so với các nơi khác Thảm thực vật ở đây rất quan trọng đối với tất cả các đảo trong khu vực Nó có tính đa dạng cao và có nhiều thực vật nổi trội và đặc hữu Hầu hết các cây trong hệ thực vật Hạ Long đều có thể
được tìm thấy trong sinh cảnh này Phổ biến là các loài Chè đắng (Ilex kaushue), Tắc
kè đá (Drynaria bonii), Dây ông lão (Clematis cadmia), Cọ hạ long (Livistona
Trang 29halongensis), Huyết giác (Dracaena cambodiana), Lan hài đốm (Paphiopedilum concolor), Riềng núi đá (Alpinia calcicola),Sừng dê (Strophanthus divaricatus),Ngũ
gia bì hạ long (Scheffelera alongensis), Bóng nước hạ long (Impatiens halongensis), Quao nước (Dolichandrone spathacea), Hòe lông (Sophora tonkinensis), Ri ta drake
(Chirita drakei), Khổ cự hạ long (Chirita halongensis), Rita hiệp (Chirita hiepii), Song
bế hạ long (Paraboea halongensis), Sung hạ long (Ficus alongensis), Xương rồng
(Euphorbia antiquorum), Bình vôi (Stepphania rotunda), Mỏ quạ (Maclura cochinchinensis), Dây ông lão (Clemalis cadmia), Bướm bạc (Mussaenda glabra),
Bông mộc (Boniodendron parviflorum), Trôm mề gà (Sterculia lanceolata), Lòng mang (Pterospertum truncatolobatum), Nan ông hạ long (Pilea alongensis), Ngọc nữ
(Clerodendrum tonkinensis), Thiên tuế hạ long (Cycas tropophylla) và Kháo (Machilus thunbergii) [29]
- Thảm thực vật trên các sườn núi
Là các loài thực vật mọc rải rác trên sườn dốc, núi đá vôi Ở đây độ ẩm thấp và khô hơn sinh cảnh ở thung lũng Tại sinh cảnh này, thực vật gần giống với sinh cảnh vách núi và đỉnh núi, nhưng số loài có nhiều hơn Hầu hết các loài thực vật đều chịu
hạn, nhẹ hoặc ưa nắng Các thực vật phổ biến là Sung hạ long (Ficus alongensis), Si quả nhỏ (Ficus microcarpa), Bông mộc (Boniodendron parviflorum), Huyết giác
(Dracaena combodiana), Quất hồng bì (Clousena lansium), Màng kiên (Pterospermum truncatolobatum), Trôm mề gà (Sterculia lanceolata), Ngũ gia bì hạ
long (Schefflera alongensis), Bóng nước hạ long (Impatiens halongensis), và Riềng núi đá (Alpinia calcicola) [29]
- Thực vật vách đá
Gồm các loài thực vật bám vào vách đá dựng đứng bằng cách cho rễ thâm nhập vào những khe nứt vô cùng nhỏ hẹp trên đá Thực vật phổ biến nhất có thể tồn tại
trong điều kiện khắc nghiệt này là Huyết giác (Dracena cambodiana), Sòi lá tròn
(Sapium rotundiflorum), Thiên môn đông (Asparagus cochinchinensis), Lan hài đốm
(Paphiopedilum concolor), Lan kiếm (Cymbidium aloifolium), Riềng núi đá (Alpinia
calcicola), Ngũ gia bì hạ long (Schefflera alongensis), Cẩm cù ba lan sa (Hoya balansae), Xuyên tâm thảo (Phyllocyclus lucidissimus), Rita drake (Chirita drakei),
Song bế hạ long (Paraboea halongensis), Bời lời nhớt (Litsea glutinosa), Sung hạ long (Ficus alongensis), Si (Ficus microcarpa), Sanh (Ficus benjamina), Đa (Ficus
superba), Bông mộc (Boniodendron parviflorum), Màng kiên (Pterospermum
Trang 30truncatolobatum), Trôm mề gà (Sterculia lanceolata), Niệt dó (Wikstroemia indica)
và một số cây tre trúc và bụi thảm thực vật Trong số những loài đó có những viên
ngọc của Vịnh Hạ Long như Hài vệ nữ hoa vàng (Paphiopedilum concolor), Khổ cử đại tím (Chirita drakei), Thiên tuế hạ long (Cycas tropophylla), Màng kiên
(Pterospermum truncatolobatum) và Mộc tặc (Psilotum nudum) Cũng có những thực
vật giống Xương rồng với thân mọng nước, màu xanh, có gai nhưng chúng thuộc về 2
họ: Euphorbiaceae (Euphorbia antiquorum) và Asclepiadaceae (Sarcostemma acidum)
- Thảm thực vật mọc ở khe đá và cửa hang
Gồm các loài thực vật mọc ở khe đá và cửa hang, nơi có lớp đất dày tạo điều
kiện cho cây mọc cao từ 6-8 m và xoè tán như Bông mộc (Boniodendron
pariviflorum) và Quao nước (Dolichandrone spathacea), Khổ cử đại móc lá mềm (Chirita hamosa, Chirta modesta) và các loài khác như: Xuyên tâm thảo (Phyllocyclus lucidissimus), Si quả nhỏ (Ficus microcarpa)
- Thảm thực vật trên đỉnh núi
Gồm các cây bụi, thấp, mọng nước như: Sòi lá tròn (Sapium rotundiflorum), Hoa giẻ lông đen (Desmos cochinchinensis), Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis), Nhài hạ long (Jasminum halongensis), Mộc (Planchonella abovata), Huyết giác (Dracaena
cambodiana), Tuế hạ long (Cycas tropophylla), Sanh (Ficus benjamina), Si (Ficus microcarpa), Mai vàng (Ochna integerrima), Muối (Rhus chinensis), Pita cúc phương (Pistacia cuphuongensis), Thủy ma lá khiên (Pileapeltata), Rita drake (Chirita drakei),
Rita hiệp (Chirita hiep), Khổ cự hạ long (Chirita halongensis), Hồ da (Hoya balansae) Các loài cây lớn trên cao là Cọ hạ long (Livistona halongensis) là một loài mới được
phát hiện gần đây ở Hạ Long và vườn Quốc gia Cát Bà, cao tới 15 m
Nhận xét: Trên thế giới núi đá vôi chủ yếu tập trung ở Châu Á Vì vậy, các
nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi còn ít Tiêu biểu là tác giả Nhật Bản và Trung Quốc đã công bố công trình nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi Tuy nhiên, các công trình của các tác giả trên cũng chỉ dừng lại ở việc định tên loài thực vật Chưa có công trình nghiên cứu về cấu trúc thảm thực vật trên núi đá vôi Ở Việt Nam cũng có một số tác giả nghiên cứu về thảm thực vật trên núi đá vôi, như công
trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn [100] (Đánh giá tính đa dạng hệ
thực vật thuộc hệ sinh thái khô hạn trên núi đá vôi Việt Nam), tác giả Trần Hữu Viên
2004 (Cơ sở khoa học xây dựng các giải pháp quản lí bền vững rừng trên núi đá vôi
ở Việt Nam), tác giả Lê Trần Chấn 2003 [4] (Điều tra nghiên cứu đánh giá tính đa
Trang 31dạng sinh học của khu rừng trên núi đá vôi ở Thanh Sơn- Hà Nam) Các công trình
nghiên cứu trên mới chỉ tập trung đánh giá về tổ thành loài, kiểu thảm, thành phần dạng sống, yếu tố địa lí Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc đường kính, chiều cao và khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật trên núi đá vôi để làm cơ sở dẫn liệu cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững Do vậy, luận án sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu về cấu trúc thảm thực vật theo đường kính, chiều cao, tương quan giữa đường kính và chiều cao của cây gỗ trong thảm thực vật rừng tại các vị trí địa hình khác nhau
- Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của cây gỗ trong thảm thực vật rừng núi
đá vôi khu vực thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đánh giá tổng hợp về giá trị, tình hình quản lý sử dụng và xác định các nguy cơ gây thoái hóa thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất các biện pháp quản lý, bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững thảm thực vật núi đá vôi khu vực thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thảm thực vật tự nhiên trên núi đá vôi thuộc địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng của thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
Nghiên cứu về trạng thái thảm thực vật trên núi đá vôi; Nghiên cứu đa dạng thảm thực vật dựa trên yếu tố địa hình và thành phần loài thực vật; Đa dạng về hình thái, cấu trúc của các thảm thực vật; Đa dạng về các taxon và các yếu tố địa lý về giá trị sử dụng tài nguyên thực vật; Xác định loài đặc hữu và quý hiếm; Đa dạng về thành phần kiểu dạng sống (life form formula)
2.2.2 Nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật trên núi đá vôi thông qua kết cấu về một
số chỉ tiêu về mật độ và chỉ tiêu sinh trưởng (N-D, N-H, H-D)
- Nghiên cứu cấu trúc các cấp đường kính của cây gỗ trong thảm thực vật núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
- Nghiên cứu cấu trúc chiều cao của các quần thể cây gỗ trong thảm thực vật núi
đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
2.2.3 Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của cây gỗ trong thảm thực vật núi đá vôi khu vực thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Nghiên cứu cấu trúc tổ thành, mật độ, nguồn gốc và phẩm chất cây gỗ tái sinh
trong thảm thực vật núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
2.2.4 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật trên núi
đá vôi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh theo biến đường kính thân cây
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật núi đá vôi ở khu vực thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh theo biến chiều cao của cây
Trang 332.3.2 Phương pháp ô tiêu chuẩn, phương pháp điều tra theo tuyến
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn [99]:
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Được áp dụng với thảm thực vật ở sườn vách núi Tùy thuộc vào địa hình của núi, thiết kế các tuyến với cự li tuyến 50-100 m, với
bề rộng tuyến là 5 m Trên các tuyến tiến hành điều tra, lấy mẫu và đo đạc số liệu tại
18 tuyến điều tra ngẫu nhiên trên các sườn vách núi đá vôi trên biển và đất liền thuộc thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Phương pháp ô tiêu chuẩn: Được áp dụng với thảm thực vật chân núi và thung lũng núi đá vôi Ô tiêu chuẩn có diện tích 2500 m2
(50 m x50 m), thiết lập 50 ô tiêu chuẩn, chia đều cho 2 kiểu địa hình ở chân núi và thung lũng, mỗi kiểu 25 OTC Tại các OTC tiến hành điều tra, đo đạc, ghi chép số liệu và lấy mẫu thực vật
Trang 34Địa điểm điều tra được bố trí trong phạm vi địa giới hành chính của thành phố Cẩm Phả Thông tin chi tiết về địa điểm điều tra, bố trí ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra được thể hiện trong phụ lục 2.1
Ghi chú: Các số từ 1 đến 34 là các điểm điều tra
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí điều tra
Tiến hành điều tra trong ô tiêu chuẩn và trên các tuyến theo các chỉ tiêu sau [12],[43],[47]:
+ Đường kính ngang ngực (D1.3): Được đo chu vi bằng thước dây tại vị trí 1,3 m của tất cả các cây có chu vi từ 19 cm trở lên (tương ứng với cây có đường kính từ 6
cm trở lên) từ đó suy ra đường kính thân cây
+ Chiều cao vút ngọn (Hvn): Được đo bằng thước đo có vạch chia độ của tất cả các cây trong ô tiêu chuẩn
Mẫu vật được thu thập, bảo quản và xử lí theo phương pháp của Mary Susan Taylor (1990), The Herb Society of America (2005) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [99]
Trang 352.3.3 Phương pháp phân loại và xác định độ che phủ của thảm thực vật
- Phân chia kiểu thảm thực vật dựa trên yếu tố địa hình và thành phần loài thực vật [29],[87]
- Độ che phủ được xác định bằng tỉ lệ phần trăm hình chiếu của tán cây trên diện tích đất [7]
- Xác định cấu trúc tầng tán của thảm thực vật bằng phân mềm Autocad 2007
2.3.4 Xác định thành phần loài, giá trị sử dụng và thành phần kiểu dạng sống (life form formula) thực vật
- Định loại loài bằng phương pháp hình thái so sánh [99]; Danh pháp và sắp xếp các taxon được xử lí theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam Tên loài cây được xác định theo Phạm Hoàng Hộ (1999,2003) [33], [34], Trần Đình Lý (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [96], Nguyễn Tiến Bân (2003, 2005,1997) [1],[50], Lê Khả Kế (1976) [49]
- Mẫu tiêu bản thực vật được lưu giữ tại Viện Tài nguyên và Sinh vật Việt Nam
- Các loài thực vật quý hiếm được xác định theo Sách Đỏ Việt Nam (2007)- phần thực vật, Danh lục đỏ của IUCN cập nhật đến 2016 Version 3.1; Nghị định số 32/2006-CP của Chính phủ về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm; Thông tư số 40/2013/TT-BNNPTNT; Thông tư ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước về buôn bán
quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)
- Yếu tố địa lí thực vật được xác định theo Lê Trần Chấn (1999) [3]
- Giá trị sử dụng được xác định dựa trên các tài liệu chuyên ngành sau: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [59]; Từ điển cây thuốc Việt Nam [5]; Tài nguyên cây gỗ Việt Nam [39]; Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam [68]; 1900 cây có ích [61] Ngoài ra đề tài còn sử dung phương pháp phỏng vấn
- Các kiểu dạng sống thực vật (life form) được phân chia theo thang phân chia dạng sống của Raunkiaer (1934) [137]
2.3.5 Phương pháp tính chỉ số Sorensen
Chỉ số Sorensen (SI) Trong đó, c là số lượng loài xuất hiện ở cả hai khu vực a và b, a là số loài ở khu vực a, b là số loài ở khu vực b [117],[138]
Trang 362.3.6 Phương pháp xác định cấu trúc tổ thành
- Thảm thực vật trong các thung lũng: Tổ thành theo trị số IVIi % (Importance Value Index) được tính theo công thức (theo Phạm Xuân Hoàn (2003)) [355],[36]:
Trong đó: IVIi là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thức i
Ai là độ phong phú tương đối của loài thứ i
Di là độ ưu thế tương đối của loài thứ i
Trong đó: Ai % (Ni là số cá thể của loài thứ i, s là số loài trong quần xã)
Di % (Gi là tiết diện thân của loài thứ i, s là số loài trong quần xã)
Trong đó: Gi được tính theo công thức: Gi (cm2)
2.3.7 Phương pháp mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính, chiều cao của cây
Số liệu được phân tích bằng phần mềm của Bùi Mạnh Hưng (2005) [41],[42]:
Số liệu sau khi được nhập vào vùng số liệu sẽ lập tức được kiểm phiếu vào cột tần số thực nghiệm fi, kết quả sẽ được xuất ra ở vùng riêng, cùng với biểu đồ phân bố tần số thực nghiệm Giá trị giữa tổ Xi được mặc định là: 6, 8, 10, 12 (k=2) Giao diện của bảng tính như sau:
Trang 37Hình 2.2 Giao diện bảng tính fi và Xi (theo [41])
Sau khi nhập số liệu bao gồm giá trị giữa tổ Xi, tần số thực nghiệm fi, cùng với những yêu cầu về sai số tương đối của ước lượng, mức ý nghĩa (bảng tính được xây dựng ứng với 3 mức ý nghĩa là: 0.05, 0.01, 0.001), diện tích ô mẫu, đơn vị Kết quả tính toán: đặc trưng phân bố thực nghiệm, ước lượng điểm, ước lượng khoảng số trung bình tổng thể và biểu đồ phân bố tần số thực nghiệm sẽ xuất hiện ở vùng bên cạnh như giao diện hình 2.3
Hình 2.3 Giao diện tính toán các đặc trưng mẫu [41]
Mô phỏng quy luật cấu trúc tần số theo các hàm phân bố Weibull, phân bố
Khoảng cách, phân bố Giảm Thực hiện bằng cách nhập các giá trị Xi, fi vào bảng
tính được lập trình sẵn Kết quả tính toán sẽ được xuất ra ở vùng riêng, có giao diện như sau:
Trang 38Hình 2.4 Giao diện mô hình hóa quy luật cấu trúc tần số
Để đánh giá sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm dựa vào tiêu chuẩn 2 m
fll
fll ft
1
2 2
05
2
tra bảng với bậc tự do k thì giả thuyết H0 bị bác bỏ (H0-)
2.3.8 Phương pháp mô phỏng quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (H vn /D 1.3 )
Mô phỏng tương quan giữa chiều cao và đường kính bằng phần mềm của tác giả Bùi Mạnh Hưng (2005) [41] được thực hiện bằng cách nhập các giá trị Xi (đường kính) và Yi (chiều cao) vào giao diện được lập trình sẵn (phụ lục 2.2 đến 2.5) [41] Kết quả tính toán sẽ được xuất ra vùng riêng Từ kết quả tính toán, cho phép lựa chọn được phương trình mô phỏng tốt nhất tương quan giữa đường kính với chiều cao dựa vào chỉ số R2 (R2 càng cao tương quan càng chặt chẽ)
Trang 392.3.9 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng của cây gỗ trong thảm thực vật núi đá vôi
- Phương pháp xác định tuổi cây
Do khí hậu khu vực nghiên cứu có sự khác biệt lớn trong năm, vào mùa hanh khô cây thiếu nước sinh trưởng chậm nên tạo thành các vòng tăng trưởng thân có thể quan sát bằng mắt thường Vì thế, có thể đếm vòng tăng trưởng thân để suy ra tuổi của cây [7]
- Phân tích phương quan phi tuyến để tìm phương trình sinh trưởng
Để đưa ra đánh giá về khả năng sinh trưởng của các loài cây gỗ trong thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả, tác giả sử dụng phương pháp mô phỏng bằng các biểu thức toán học để biểu diễn sự sinh trưởng thông qua 2 chỉ tiêu là sinh trưởng đường kính (D1.3) và sinh trưởng chiều cao (Hvn) [111]
Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm 3 hàm phổ biến là Gompertz, hàm Johnson-schumacher và hàm Verhults để mô phỏng sinh trưởng của các loài cây gỗ trong thảm thực vật rừng trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả [9],[10],[14],[311],[38],[120],[131],[138] Phân tích đó dựa vào phân tích phi tuyến tính Các phân tích được thực hiện trong ngôn ngữ R
Bảng 2.1 Tổng hợp các phương trình được áp dụng mô phỏng sinh trưởngcủa
thảm thực vật trên núi đá vôi thành phố Cẩm Phả
Để phân tích tương quan phi tuyến cho hàm Gompertz, Schumacher và hàm Verhulst thì các lệnh sau được sử dụng trong R, áp dụng cho biến đường kính Các câu lệnh áp dụng cho biến chiều cao hoàn toàn tương tự [129], [132], [133], [134] Hàm Gompertz:
Model1=nls(D1.3 ~ b0*exp(-b1*exp(-b2*Tuoi)), Data_D1_3,
list(b0=13.5, b1=0.577, b2=0.04))
Hàm Schumacher:
Trang 40Model2=nls(D1.3 ~ b0*exp(-b1/(Tuoi + b2)), Data_D1_3,
list(b0=19.3, b1=35.3, b2=37.5))
Hàm Verhulst:
Model3=nls(D1.3 ~ b0/(1+b1*exp(-b2*Tuoi)), Data_D1_3,
list(b0=12.8, b1=0.68, b2=0.05))
- Kiểm tra sự tồn tại của các tham số
Trong các mô hình tương quan nói trên, các tham số hồi quy được kiểm tra sự tồn tại bằng tiêu chuẩn t Giả sử b là một tham số hồi quy bất kỳ Các bước thực hiện như sau (Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2006,2007); J Zar (2010)) [119],[132]
- Bước 1: Đặt giả thuyết: Ho: β=0
H1: β≠0
- Bước 2: Kiểm tra giả thuyết Ho bằng tiêu chuẩn t:
Trong đó: b là giá trị tính toán của tham số dựa vào số liệu ở mẫu
SEb là sai số chuẩn của tham số b
- Bước 3: Kết luận:
Nếu tβ ≤ t05(k=n-2) (hoặc giá trị Sig của t ≥ 0.05) thì chấp nhận giải thuyết Ho, có nghĩa là tham số không tồn tại trong tổng thể, nên giữa các đại lượng không có mối quan hệ Ngược lại, nếu tβ > t05(k=n-2) (hoặc giá trị Sig < 0.05) thì bác bỏ giả thuyết Ho, hay nói cách khác là tham số thực sự tồn tại trong tổng thể và các đại lượng thực sự
có quan hệ
Để thu được các giá trị t tính toán và giá trị Sig của t, lệnh sau được sử dụng trong R Summary (Model1)
- Lựa chọn hàm tốt nhất
Trong nghiên cứu này, phương trình sinh trưởng tốt nhất được lựa chọn dựa vào
hệ số tương quan R2 Ngoài ra, một chỉ số nữa sẽ được sử dụng làm cơ sở để chọn lựa
mô hình tương quan tốt nhất là chỉ số AIC (Akaike’s information criterion) Đây là một chỉ số tốt hơn so với giá trị hệ số tương quan khi lựa chọn các mô hình tương quan phi tuyến Bởi lẽ, hệ số tương quan thực chất là phản ánh mối quan hệ giữa các biến sau khi tuyến tính hóa, vì thế có thể hệ số tương quan phản ảnh không thực sự