1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Phân tích hành vi ngôn ngữ- VBA KHỞI ĐỘNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH VB pot

40 808 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hành vi ngôn ngữ- VBA Khởi Động Một Chương Trình VB
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học hành vi, Đào tạo hành vi ngôn ngữ, Trị liệu hành vi
Thể loại Báo cáo khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 572 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tốkhác có thể xem xét là: đừng kéo trẻ ra khỏi hoạt động mà trẻ đang thích thú khithày đến; không yêu cầu lời đáp, tức không ra lệnh “lại đây”, “ngồi xuống”… khithày đến; tương t

Trang 1

Phân tích hành vi ngôn ngữ- VBA

KHỞI ĐỘNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH VB

Xin cảm ơn một phụ huynh đã dịch và cho phép phổ biến.

1 Khái niệm: ABA là khoa học phân tích hành vi ứng dụng Nó cung cấp một cấutrúc để nhìn vào hành vi con người, cái gì gây nên hành vi và làm cách nào tănghoặc giảm hành vi Nó cung cấp cấu trúc cơ bản để dạy kỹ năng mới (hành vi tamuốn tăng) Thông tin cơ bản bạn cần để biết liên quan đến trình tự dạy bao gồm:hình thành, gợi ý, làm mờ, xâu chuỗi và củng cố khác nhau

a) thành hình: là quá trình mà qua đó ta dần dần sửa hành hiện tại của trẻ trở thànhhành vi ta muốn Thực hiện bằng cách điều chỉnh yêu cầu của thày trước khi củng

cố được đưa ra Ví dụ: khi trẻ phải học một từ, trước hết chỉ yêu cầu trẻ sờ vậttrước khi được cầm nó, sau đó yêu cầu trẻ phát âm những âm đầu tiên, cuối cùng làtừ

b) Gợi ý: là sự hỗ trợ của thày để khuyến khích một đáp ứng đúng Một trongnhững khác biệt quan trọng giữa các chương trình ABA truyền thống với mô hình

VB là việc sử dụng “học không lỗi” trong VB so với “sai-sai-gợi ý” trong ABAtruyền thống

c) Làm mờ: đây là một phần cơ bản trong dạy trẻ không phụ thộc vào gợi ý Mỗigợi ý phải dần dần rút đi khi trẻ trở nên thành công cho đến khi đáp lại đúng màkhông cần gợi ý Ví dụ trên, nếu ta muốn dạy trẻ chạm tay vào bóng, thày xuất phátbằng việc đưa tay trẻ tới quả bóng, sau đó đưa ra hướng dẫn ít lộ diện hơn nhưnhếch lông mày, chỉ vào quả bóng… cho đến khi trẻ có thể tự chạm tay được vàoquả bóng khi được yêu cầu

d) Xâu chuỗi: Các kỹ năng đã được bẻ ra thành những đơn vị nhỏ nhất để dạy vàcần xâu chuỗi lại với nhau Xâu chuỗi xuôi và ngược là hai kỹ thuật được dùng đểdạy kỹ năng mới Ví dụ xâu chuỗi xuôi: dạy trẻ nói 1 câu “con yêu mẹ”, thì dạymỗi từ một lần :hãy nói “con”, nói “yêu’, nói “con yêu mẹ” Xâu chuỗi ngược: nói

“mẹ”, nói “yêu mẹ”, nói “con yêu mẹ”

e) Củng cố khác nhau: CC có lẽ là phần quan trọng nhất của việc dạy Nó là sự đưa

ra một đáp ứng lại hành vi của trẻ sao cho sẽ có nhiều khả năng làm tăng hành vi

“Khác nhau” có nghĩa thày thay đổi các mức độ CC tùy theo đáp ứng của trẻ Việckhó thì nên được củng cố mạnh hơn việc dễ Thày phải thay đổi một cách có hệthống các CC sao cho trẻ cuối cùng sẽ đáp ứng một cách phù hợp với tần xuất tựnhiên của CC (thỉnh thoảng mới CC) và với các dạng tự nhiên của CC (xã hội)

2 DTT- Cách dậy các phép thử rời rạc: DTT là một kỹ thuật dậy bao gồm: bẻ nhỏmột kỹ năng thành các phần nhỏ hơn; dậy mỗi phần nhỏ cho đến khi thành thục;dạy tập trung; dùng gợi ý và làm mờ ngay khi cần; dùng kỹ thuật CC Mỗi bài dậygồm nhiều phép thử lặp lại nhiều lần, với mỗi phép thử có một sự mở đầu đặc trưng

Trang 2

(lời giới thiệu), có 1 hành vi (đáp ứng của trẻ) và một hệ quả (củng cố hoặc gợi làm mờ gợi ý).

ý-MỘT SỰ MỞ ĐẦU THÀNH CÔNG

- Quan trọng nhất là hãy xây dựng và phát triển một mối quan hệ trị liệu hết sứcthận trọng Trẻ phải liên tục yêu thích được học với thày và coi học là một điều tốt.Điều đầu tiên thày cần dạy trẻ hiểu là khi thày đến, điều tốt đẹp sẽ xảy ra Theothuật ngữ hành vi , bản thân thày phải là một sự CC cho trẻ Điều này có thể đạtđược bằng nhiều cách nhưng cách cơ bản là hãy quan sát trẻ thật kỹ và tương tácvới trẻ theo cách trẻ thích Quan sát xem trẻ muốn được thày cham tới theo cáchnào, kiểu giọng nói nào trẻ thích, trẻ phản ứng theo cách nào trước nhưng biểu đạttrên khuôn mặt thày, đồ chơi nào trẻ thích chơi hơn Đến gần trẻ khi trẻ tỏ ra chánnản và một cách vô điều kiện cho trẻ thứ trẻ thích Chơi với trẻ mà không cần đòiphải đáp ứng Thỉnh thoảng mang một ít đồ ăn đặc biệt và đồ chơi khi đến Nhữngcách này sẽ thiết lập nên hình ảnh thày như một dạng CC có điều kiện Các yếu tốkhác có thể xem xét là: đừng kéo trẻ ra khỏi hoạt động mà trẻ đang thích thú khithày đến; không yêu cầu lời đáp, tức không ra lệnh “lại đây”, “ngồi xuống”… khithày đến; tương tác với trẻ theo một cách vui vẻ và sống động để trẻ muốn ở bêncạnh thày, rồi mới đưa ra yêu cầu đầu tiên

- Sử dụng mô hình VB, điều quan trọng nhất là dạy trẻ cách hỏi thứ mà trẻ muốn(nhu cầu), bởi vì trẻ đang có động cơ để giao tiếp cho thứ nó muốn (có một EO).THường sẽ có một bước nhảy lớn trong kỹ năng giao tiếp khi trẻ học yêu cầu Cáchdạy: nếu thấy trẻ đến gần một đồ chơi nào đó (ô tô), thày nói “ô tô”, giữ ho tô trongchừng 1 giây để xem liệu trẻ có lặp lại từ ô tô không, nếu không cất ô tô đi Nếu trẻkhông đưa ra lời đáp theo lệnh, thì thày có thể phải cố tạo ra một lời đáp thay thếcái sau này sẽ chuyển thành một nhu cầu: thày “hãy chơi ô tô đi”, và lặp lại “chơiđi” và xem trẻ có đáp không Một kỹ thuật hữu ích nữa là để vật trẻ muốn trongkhoảng cách, trẻ phải cần trợ giúp mới lấy được

- Những điều cần lưu ý khi bắt đầu yêu cầu trẻ đáp ứng:

+ Đừng bao giờ yêu cầu trẻ lời đáp mà thày không thể gợi ý VD: Đừng yêucầu “nói ô tô” trong khi đang cầm ô tô nếu trẻ không bắt chước được, vì ta không

thể làm trẻ nói ra từ Không nên để trẻ thực hành việc không tuân theo lời thày.

+ Nếu thày đưa lệnh “ngồi xuống”, thày phải hướng dẫn trẻ ngồi xuống nếu

trẻ không làm Một lần nữa, không dạy trẻ không vâng lời thày.

+ Hãy chắc chắn rằng chỉ thị đầu tiên của thày phải là cái trẻ có thể làm được

và CC lớn khi trẻ tuân theo Yêu cầu đâu tiên nên là bắt chước không lời, VD “lạiđây”, “ngồi xuống”, đọ đồ vật, xếp ô chữ

+ Đừng bao giờ dùng CC như một hối lộ Đó là khi trêu trẻ bằng cách cầmmột vật CC lên cho trẻ nhìn rõ và yêu cầu lời đáp trước khi cho trẻ đến gần vật CC.Điều đó không có nghĩa là thày không thể sử dụng CC như là một lời hứa, ví dụ:muốn trẻ lại gần, thày cầm 1 cái gì đó trẻ thích trong tay và cho trẻ khi trẻ đến gần

Trang 3

+ Với những trẻ biết nói nhưng chưa hoan toàn theo lệnh kiểm soát, tranh và

ký hiệu vấn là một cách tốt để dạy trẻ yêu cầu cái trẻ muốn vì thày có thể gợi ý trẻđưa ra ký hiệu hoặc đưa tranh nhưng không thể gợi ý về mặt thể chất để trẻ nói

- Xử lý những hành vi tiêu cực: Trẻ không bao giờ đạt được vật CC với hành vi tiêucực Điều này thường khó vào giai đoạn đầu của quan hệ trị liệu vì thỉnh thoảng trẻ

đã tình cờ được củng cố rồi Rất phổ biến là trẻ khóc và hét khi muốn một thứ gì

đó Vì trẻ không thể giao tiếp theo cách hiệu quả hơn, nên cha mẹ lo doán và đưatất cả những thứ trẻ muốn Như vậy sẽ CC trẻ khóc và hét Việc lờ đi cơn thịnh nộcủa trẻ có thể tạm thời làm tăng hành vi (bùng nổ trước khi triệt tiêu), nhưng điềuquan trọng là tất cả những việc làm liên quan đến trẻ đều không được nhượng bộ sựthịnh nộ Hãy cố kong để ý tới trẻ nếu trẻ đang hét vì muốn một cái gì đó Hãybước đi, hít một hơi thở sâu, và bình tĩnh Khi trẻ dịu lại, chỉ tranh ảnh cho trẻ đểtìm được cái trẻ muốn Nếu đã biết được cái trẻ muốn, hãy dùng biện pháp đếm:thày nói “Nín đi” và bắt đầu đếm khi trẻ thôi khóc Khi trẻ đã thôi khóc được mộtkhoảng số đếm thày định trước (3-10) thì thày đưa cho trẻ thứ trẻ muốn Nếu trẻnổi cáu vì thày đưa lệnh và trẻ không muốn tuân thủ, thày hãy bình tĩnh sử dụnggợi ý ít có tính chỉ thị nhất để trẻ phải hiểu là trẻ phải làm khi được yêu cầu, ví dụ:nhẹ nhàng hướng dẫn trẻ ngồi xuống ghế, giữ trẻ ngồi im trong một vài giây rồimới để trẻ đứng lên (chỉ khi trẻ không khóc hét) Điều quan trọng với thày từ hành

vi tiêu cực của trẻ là: hãy rút kinh nghiệm Nếu trẻ nổi cáu, nghĩa là phương phápdạy phải chỉnh sửa Hãy xem xét vật CC, mức độ củng cố, mức khó của bài tậpgiao cho trẻ để quyết định xem cái gì phải sửa Hãy nhớ hành vi tiêu cực thì khôngđược CC nhưng điều đang mong ước nhất là hãy dùng phương pháp dạy tốt để điều

đó không xảy ra

- Tóm lại trong giai đoạn đầu thiết lập quan hệ trị liệu, thày phải tạo không khí vui

vẻ, cùgn vui với trẻ, dạy trẻ rằng học là vui và giao tiếp là sức mạnh Trẻ phải họcrằng cuộc sống sẽ tốt hơn khi trẻ nghe lời

CÁCH DÙNG CỦNG CỐ

- Củng cố là những thứ gì đó (vật CC) được đưa ra sau khi một hành vi xảy ra mà

có khả năng làm tăng sự xuất hiện của hành vi (đáp ứng của trẻ) đó trong nhữngđiều kiện tương tự (lệnh tương tự) trong tương lai

- Củng cố phải có tính củng cố (Cái có tính củng cố với 1 trẻ này lại có thể không

như vậy với trẻ khác, cái có tính củng cố lúc này lại có thể không còn như vậy lúc

sau) Củng cố phải có tính bất ngờ (Vật CC chỉ xuất hiện khi một hành vi mục

tiêu xảy ra như vậy sẽ rất có sức mạnh CC không bất ngờ có thể khiến thày giáo

hoặc hành vi không mong muốn được đi kèm với CC) Nên dùng đa dạng các CC

để không làm mất giá trị của CC và thực hiện CC phân biệt Luôn đi kèm CC tự nhiên (xã hội chấp nhận) với CC sơ cấp Liên tục phát triển và phát hiện các CC mới (hãy nhìn vào các hành vi tự kích thích của trẻ để phát hiện cái trẻ thích Sử dụng CC phù hợp theo lứa tuổi, điều này sẽ làm tăng sự nhấp chận của các bạn

cùng tuổi và tăng khả năng là trẻ sẽ gặp những thứ tương tự trong môi trường tự

Trang 4

nhiên Sự không dự đoán trước và tính mới lạ sẽ rất tăng cường giá trị CC Sự

bất ngờ thường gây thích thú và tăng động cơ cho trẻ Một túi chộp hoặc hộp bấtngờ rất hữu ích

2 Lúc đầu, CC nên xảy ra ngay tức thì Thày cần chắc chắn là trẻ liên hệ hành vi

của nó với vật CC CC sẽ hiệu lực nhất khi nó xảy ra trong vòng nửa giây sau hành

vi Lịch trình các CC khác nhau nên được đề ra và theo sát CC phải được mờ

đi qua thời gian khi trẻ học kỹ năng Bài tập dễ phải được CC bằng lịch trình gần như rất mỏng Hãy tính thời gian dành cho việc CC Đừng làm mất đà học tập để

tiến hành việc CC Hãy làm việc theo hướng xây dựng 1 tập hợp các phản ứng củatrẻ trước khi trẻ được một phần thưởng có thật

Qua thời gian hãy thay đổi CC sao cho tự nhiên và thực tế hơn như những lời khen, giơ ngón tay cái Không sử dụng phần thưởng như món hối lộ Đừng để

trẻ có thói quen nghe trước vật CC mà nó sẽ được Đừng nhắc trẻ về vật CC trẻ sẽđược nhận nếu hành vi phá phách không xảy ra Đừng đưa ra CC bổ sung khi hành

vi leo thang nhằm làm trẻ dịu đi Sử dụng những mức CC khác nhau Khen

thưởng lớn nhất cho hành vi tốt nhất hoặc việc khó nhất, và dành “OK” cho nhữngviệc ổn thỏa hoặc sự xuống thang của hành vi

- Yếu tố thiết lập hành động (EO): là yếu tố tạm thời làm tăng hiệu lực hoặc giá trịcủa CC, hoặc làm tăng hành vi đã được tiến hành nhờ CC đó trong quá khứ Eo bịtác động bởi: sự bị tước đoạt (khi trẻ không có vật mong muốn trong một thời gianthì giá trị vật CC sẽ lên), sự thỏa mãn (khi trẻ đã có quá nhiều kẹo thì trẻ không cònmuốn), sự so sánh (giá trị của một số hành vi khác mạnh hơn sẽ làm giảm giá trịhành vi mục tiêu, ví dụ: trẻ thực sự muốn chơi đồ chơi đó nhưng thày hỏi quá nhiềucâu hỏi làm cho giá trị của việc trốn thoát mạnh hơn là giá trị của đồ chơi)

- Kích thích: là bất cứ điều gì trẻ có thể trải qua nhờ 5 giác quan Một kích thích làtrung tính khi không gây đau cũng không gây dễ chịu cũng không gợi nhớ đến một

sự kiện gì khác (ví dụ: thày nói “sờ con chó” và đây là lần đầu tiên trẻ nghe thấycụm từ này, như vậy kích thích này không liên quan tới bất cứ việc gì tích cực haytiêu cực) Kích thích phân biệt là kích thích đã trở nên có quan hệ với sự kiện kháctheo sau bởi CC hoặc trừng phạt, hay nói cách khác khi kích thích xuất hiện, nó chỉ

ra khả năng hoặc chắc chắn của CC hoặc trừng phạt (ví dụ: trẻ đang ngồi trên đùi

bố và nhìn vào quyển sách Bố nói: “tìm con chó” và chỉ tay gợi ý chạm vào ảnhcon chó Khi trẻ chạm tay vào con chó, bố ôm trẻ và nói “đúng rồi” Trẻ cảm thấyđiều này khá dễ chịu (CC) nên khi bố sang trang và lại nói “tìm con chó”, trẻ sẽ lạichạm vào con chó không cần đợi bố gợi ý Bởi vì hành vi chạm vào ảnh con chó đãđược theo sau bởi CC trong quá khứ nên lời yêu cầu “sờ con chó” khi ảnh con chóđược trưng ra đã gợi lên khả năng của CC nếu trẻ chạm lại tay vào con chó) Kíchthích mà có liên hệ với việc không có CC, gọi là điều kiện S-Delta (nếu thay vào sờchó, trẻ lại sờ con mèo, bố không ôm cũng không nói “đúng” với trẻ thì hành vi sờmèo có liên hệ với sự không có CC khi trẻ nghe thấy lệnh “sờ chó”

Trang 5

PHÂN LOẠI HÀNH VI NGÔN NGỮ (theo Skinner)

1 Yêu cầu: hỏi lấy một cái gì đó VD: Con ăn kẹo được không? Một ngôn ngữyêu cầu thuần túy chỉ là kết quả của một EO hoặc mong muốn có vật đó

2 Tiếp nhận: tuân theo hướng dẫn hoặc làm theo yêu cầu của người khác VD:thày “tìm cho thầy con gấu” (trẻ đi tìm), “hãy đặt thìa vào trong cốc”

3 Xử trí: gọi tên một vật, hành động hoặc đặc tính của vật đang hiện ra trướcmắt hoặc vật mà trẻ sẽ tiếp xúc Một ngôn ngữ xử trí thuần túy không cầnphải có EO hoặc ước muốn có vật VD: thày hỏi “cái này gọi là gì?” trẻ

“bàn"” “con nhìn thấy gì” “ô tô”

4 Ngôn ngữ bên trong: đáp lại một người khác về một vật, hành động hoặc đặctính không hiện ra trước mắt (trả lời câu hỏi hoặc tham gia đối thoại) VD:thày “tu tu xình xịch” , trẻ “tàu hỏa”; “ở trường con ăn gì” “cơm cá”

5 Lặp lại: thày “hãy nói ô tô” , trẻ “ô tô”

6 FFC (đặc điểm, chức năng, phân loại): Khi trẻ đã biết hỏi yêu cầu, nhận diện

và gọi tên vật trong môi trường, FFC được dạy để trẻ học về nhóm loại vàmỗi liên kết giữa các từ VD: quả chuối: màu vàngm, vị ngọt (đặc điểm), ănđược, bóc vỏ (chức năng), thức ăn (chủng loại) Trong giai đoạn dạy FFCban đầu, đáp ứng của trẻ là sờ, gọi tên hoặc đáp lại tên gọi của vật Sauchừng 30 vật được dạy, nêu ngược lại để trẻ định nghĩa vật, ví dụ: “màuvàng, ăn được, dài”, trẻ “chuối”

Nhìn chung, các cuộc đối thoại luôn là sự kết hợp của yêu cầu, xử trí, nộingôn với thỉnh thoảng là những đáp ứng tiếp nhận

DẠY TRẺ CHƠI

Mọi đứa trẻ đều muốn một số thứ và có những thứ mà người lớn có thể làm

để tăng cả chủng loại và số lượng đồ yêu thích của trẻ Một yêu cầu cho thày làphải “dạy” trẻ biết thưởng thức nhiều thứ sao cho ta có thể tăng cơ hội dạy trẻ

và thêm hoạt động cho trẻ tham gia một cách vui vẻ

Điều quan trọng nhất cần nhớ là mỗi khi giới thiệu một đồ chơi, trò chơi mớihãy đi kèm theo một CC Nghĩa là hãy làm gì đó trẻ có thể không thích nhiềulắm kèm với một thứ khác mà thày biết là trẻ thích Bất cứ một CC nào cũng cóthể đi kèm với một thứ khác được VD: nếu trẻ thích được ôm chặt, hãy đi kèmviệc này với việc đọc sách Nếu trẻ thích nhìn vật quay, chọn đồ chơi có phầnquay Nếu trẻ thích nhạc, hát hoặc cường điệu lời nói khi chơi với trẻ (thày hátcùng một loạt từ mà thày định nói với trẻ) Sau khi trẻ đã khoái trò mới, thàydạy trẻ hỏi về các bộ phận của trò chơi

Những trò chơi đồ chơi ban đầu giới thiệu cho trẻ có thể được xem là nhữngtrò mà trẻ có thể chơi một mình Nhưng không được để trẻ chơi theo cách nhưvậy mà phải kết hợp với việc nói chuyện và tương tác với thày Sau đó là nhữngtrò “nhân quả” trong trò chơi giả vờ

Trang 6

Một sai lầm lớn trong khi chơi với trẻ là việc người lớn ngồi xuống và hỏi rấtnhiều câu hỏi Đó không phải là chơi mà là kiểm tra, trẻ có thể thấy nản Thàyhãy tránh đưa ra yêu cầu với trẻ và đơn giản là chỉ cùng thưởng thức với trẻ.VD: trẻ thich nhạc và bạn sử dụng giọng nói có giai điệu Khi dạy trẻ chơi bóng

rổ, bạn nói du dương “ném bóng vào rổ, ném bóng vào rổ, rơi rồi” Trò được lặp

đi lặp lại và nếu trẻ thích thì thày có thể đừng lại một chút “ném vào rổ, rơi…”,trẻ sẽ tự điền vào “rơi rồi” Tránh chỉ thuật lại những gì thày thấy trẻ làm màphải tham gia vào với trẻ CD: khi trẻ ủn một cái tàu hỏa, thày hãy lấy một cáitàu nữa và giả vờ đâm vào tàu của trẻ hoặc đuổi theo tàu của trẻ Nếu chơi lặplại nhiều lần, hãy dừng trẻ lại theo một cách vẫn như trò chơi VD: trẻ chạythành hình tròn quan nhà, chộp lấy trẻ giơ lên cao và “bay” trẻ quanh phòng

Có trẻ phải quanh quẩn với trò chơi mới một thời gian rồi mới bắt đầu tươngtác Vậy hãy để đồ chơi mới trong phòng trong vài ngày không đụng tới Dầndần chính thày thực hiện việc chơi với đồ chơi từ khoảng cách xa trẻ Để trẻtrông thấy thày đặt đồ chơi vào chỗ nhưng không lại gần được Hãy đợi trẻ lạigần bạn khi bạn đang chơi trò chơi thay vì bạn đến với trẻ Như vậy không phảikhi trẻ không chịu chơi với trò chơi lúc đầu đã là trẻ không thích trò chơi

Nếu trẻ tỏ ra tăng động khi chơi một số trò, hãy nghỉ một chút và làm mộtdạng vận động khác với những lệnh khác nhau VD: khi trẻ nhảy nhót và vỗ taykhi chơi trò chơi, thày yêu cầu trẻ ngồi xuống nghỉ và đi đọc sách ở một chỗ nhỏkhép kín hoặc chơi trò kẹp bánh bằng gối Cần tránh không vô tình CC bất cứhành vi tiêu cực nào bằng cách phản ứng với hành vi của trẻ

Bắt đầu trò chơi: mục tiêu giai đoạn này là để trẻ cho phép bạn chơi với trẻ

và bạn trở thành một phần CC mà trẻ có từ môi trường Các kỹ thuật sau sẽ làmtăng quan tâm của trẻ vào trò chơi:

1 Xây dựng sự đoán trước Hãy lặp lại những từ và chuỗi hành động giốngnhau lập đi lập lại theo cùng một cách và rồi tạm dừng VD: khi tiến gần trẻ bạnchùm một cái khăn lên đầu, mồm thì nói “là lá là la la” Khi trẻ bắt đầu chú ýbạn, bạn hãy lưu ý trẻ bằng nụ cười và mắt nhìn khi bạn đến gần hơn Trẻ có thểcười to khi bạn tháo khăn ra Lần sau, bạn dừng lại một chút trước khi nói

“la”.Trẻ sẽ điền vào từ “la” và cố gắng tháo khăn ra cho bạn

2 Hãy làm việc gì đó bất ngờ Lặp lại một hành động theo cùng một cáchsau đó là thay đổi bất ngờ Ví dụ: trẻ đang ăn bánh, bạn nói “thày đói quá”, vàtiến về miếng bánh bấu đi một ít, chừng một thời gian trẻ chấp nhận điều này,quay trở lại với trẻ và làm một tiếng cắn to

3 Bắt chước những gì trẻ làm và làm thành một trò chơi với nó.VD: trẻthường dẫm vào quả thông khi đi dạo với bạn Bạn hãy làm trước việc này, nói

“thày tìm thấy một quả thông, giẫm!” sau đó nói với trẻ “đến lượt con, giẫm”

Trang 7

4 Dừng trẻ chơi bằng những cản trở vui vẻ VD: Trẻ chạy hình tròn sau đólao vào cái đêm, thày hãy đặt vài cái gối trên nền và lao vào gối thay vì đệm,hãy nhớ là thầy phải đến lượt lao vào gối giống trẻ

5 Kèm thêm từ hoặc âm thanh với việc trẻ đang làm VD: trẻ đang tự vẽ, bạnhãy nói “vẽ này, vẽ này, lên này, lên này, khoanh tròn này ” bất cứ cái gì mô tảviệc trẻ đang làm Trẻ sẽ sử dụng những âm thanh này trong lần vẽ sau

6 Sử dụng diễn đạt cường điệu trên khuôn mặt hoặc động tác cơ thể để làmbạn trở nên nổi bật

7 Hãy tạo ra ý nghĩa Nếu trẻ nói một âm thanh vu vơ, hãy hành động như là

âm thanh đó có nghĩa VD: trẻ lẩm bẩm nói gì đó như là “mặt trời”, thày ngaylập tức cầm lấy bút và vẽ ông mặt trời như thể trẻ yêu cầu vậy

8 Giới thiệu thêm nhân vật vào trò chơi VD: Trẻ thích bạn nẩy người trẻtrên bóng, bạn mang thêm vào một số con rối và nẩy con rối, nếu trẻ bắt đầu ủnnhững con rối ra, thì bạn hãy nói “ra đi rối” khi trẻ ủn

Giai đoạn sau: Bắt đầu đưa thêm yêu cầu vào trò chơi Khi trẻ hỏi chơi, bạn

có thể tăng số thứ trẻ phải hỏi trước khi có được đồ chơi đó VD: trẻ liên tục đòichơi bóng, hãy đặt bóng trong một cái thùng nhìn thấy, dạy trẻ hỏi thày “mởthùng” Sau đó dạy trẻ yêu cầu thày “nảy bóng”, “lăn bóng”, hoặc dành cho trẻ lựachọn từ nhiều quả bóng khác màu Lưu ý là không tăng yêu cầu quá nhanh làm trẻkhông muốn tham gia trò chơi nữa Cũng đừng “giết CC” bằng cách chơi một tròquá nhiều lần trong ngày làm trẻ chán ngấy Thỉnh thoảng phải dừng trò mà trẻđang thích cao độ nhưng phải thay bằng một trò mà trẻ vẫn còn thích Bằng cáchliên tục khai thác đồ mới và trò chơi mới mà trẻ thích, dần dần tăng yêu cầu và thayđổi động tác của bạn một cách thường xuyên, bạn có thể giữ giá trị của trò chơi và

đồ chơi luôn cao

Với trẻ chỉ thích một số rất ít trò chơi và không chịu đón nhận trò mới Nếuvậy, có thể trẻ chỉ xem thày chơi với trò mới trong khi trẻ đang ăn những thứ trẻthích (đi kèm CC) Thày sẽ biết khi nào trẻ sẵn sàng chơi trò mới hoặc tương tácvới thày trong trò mới khi thày thấy trẻ bắt đầu cười và tiến về phía đồ chơi

Ở giai đoạn này, thày có thể mở rộng trò chơi bằng cách thêm chi tiết hoặcnhân vật mới VD: nếu trẻ thích xem các con vật ngồi trên tàu hỏa đi quanh đườngray, lần sau cho dừng tàu và cho thú xuống cách đồng hoặc vườn thú, như vậy sẽtạo cơ hội dạy trẻ những điều mới Tuy nhiên vẫn cần lưu ý không đưa vào quánhiều yêu cầu một cách quá nhanh hoặc làm trẻ mất tập trung lên trò chính Dùngnhững chi tiết thêm vào trò chơi như là những CC để thực hiện những hành độngkhác VD: trẻ thích mặc quần áo cho búp bê, hãy đổi quần áo để chơi trò chơi trongbiển hoặc công viên Nếu trẻ thích chơi với động vật, hãy giả vờ động vật muốnlàm một thứ gì khác Một cách nữa để mở rộng trò chơi là sử dụng những cuốnbăng video trẻ thích Chọn các nhân vật trong video và đóng lại một vài tình huống.Dừng video và lấy đồ chơi đóng một vài cảnh vừa xem Đây cũng là cách đi kèm

đồ chơi với CC và đưa cho trẻ một “kịch bản” để dùng khi chơi Dần dần thay đổikịch bản để chắc chắn là trẻ không chỉ nghiện mỗi video

Trang 8

Trong khi dạy trẻ chơi, cần tránh không mắc vào lỗi thường gặp là thày sẽphải đưa ra những lời nói tốc độ nhanh hoặc câu hỏi có nhiều lựa chọn trong khichơi với đồ chơi Hãy tránh bằng mọi giá Chỉ sử dụng ngôn ngữ xử trí, tiếp nhận

và nhiều “giải quyết vấn đề” trong khi chơi Cho trẻ lựa chọn hướng mà vở kịch sẽphát triển Ví dụ đang chơi với chú cún thì nó bị ốm, con sẽ mang đến bệnh việnhay công viên, nếu cún không thể khiêng nổi một bánh xe nặng, con giúp nó hayđặt vật xuống? cho trẻ quyền lựa chọn là cho trẻ tiếp tục yêu cầu nhưng đồng thời

là phát triển vở kịch Chơi phải khác làm việc! Bạn dùng chơi để dạy trẻ nhữngđiều mới và hãy dành những bài giảng sâu hơn cho việc tăng tốc độ và độ chínhxác của lời đáp với những bài tập nhiều lựa chọn theo một cách pha trộn và biếnđổi bất cứ lúc nào có thể Làm như vậy sẽ tăng khả anưng là kỹ năng sẽ được kháiquát hóa và môi trường học tập trở nên vui vẻ hơn

Chơi nâng cao: Ở một giai đoạn cao hơn, bạn dạy trẻ chơi với trẻ khác chứ không

phải với đồ chơi, bạn phải dạy trẻ

Điều cơ bản phải nhớ về chơi tại bất cứ trình độ nào đó là phải vui! hãy cẩn trọngkhi đưa ra yêu cầu mới và liên tục cố gắng tìm và tạo ra những tình tiết mới mà trẻthích, chúng ta sẽ đảm bảo rằng trẻ học theo một cách mà trẻ có thể khái quát hóa

kỹ năng giao tiếp với người, vật, điểm khác

DẠY TRẺ YÊU CẦU

1 Khi trẻ nói chỉ bắt chước được từng từ rất rõ ràng nhưng không bắt chước đượckhi thầy yêu cầu trẻ làm:

+ Phép chuyển từ điền chỗ trống sang câu hỏi (fill-in to mand): Nếu trẻ chịu điềnvào chỗ trống thì có lẽ đây là điều kiện xuất phát mà thầy đạt được đáp ứng mongđợi từ trẻ Hãy xuất phát từ điều kiện này để chuyển sang điều kiện mới VD: thày:

“thổi bong bóng, thổi …” trẻ: “bong bóng” thày “Con muốn gì”, trẻ sẽ có xu hưóngnói lại từ “bong bóng” Như vậy thầy đã vừa chuyển từ điều kiện điền chỗ trốngsang điều kiện mới là yêu cầu Nếu trẻ không đáp thì tự thầy trả lời và lại tiếp tục + Tăng khả năng xuất hiện của sự nhắc lại: khi trẻ đang tiên đến một vật , hãy nóitên vật ấy theo kiểu lên giọng khi hỏi ví dụ: trẻ tiến gần quả bóng đặt trên bàn,thày “bóng?” Nếu trẻ không đáp, đặt bóng lại bàn Nếu trẻ lại tiến lại bóng, lại hỏi

“bóng?” Làm thế không quá 3 lần trước khi đưa bóng cho trẻ để không làm trẻ tức.Dùng cách nói lên giọng chỉ từ chỉ tên vật để trẻ khỏi lặp lại cả câu hỏi dài dòng

“con muốn bóng à?”

+Hãy đặt sự lặp âm của trẻ trong sự kiểm soát của lệnh của thầy: Mục tiêu là làmcho trẻ bắt chước khi có lệnh yêu cầu của thầy “hãy làm thế này” VD: thầy đangchơi rót gạo xuống một cái bát với trẻ Khi trẻ bắt đầu rót, thầy nói “làm thế này”

Trang 9

ngay tức thì trước khi thầy rót sau đó khi trẻ rót gạo của nó, củng cố thật nhiệt tình.Cách này có thẻ làm với rất nhiều hành động khác nhau sao cho chúng ta khôngdạy trẻ một cách không có chủ ý “Hãy làm thế này” nghĩa là “rót gạo” Vỗ tay,dậm chân, đập bàn là những thứ rất dễ để dạy trẻ bắt chước vì thầy có thể dễ dànggợi ý bằng động tác của thày Khi trẻ có thể bắt chước kha khá các vận động, hãychuyển bắt chước vận động sang bắt trước âm thanh: thầy “hãy làm thế này” (thày

vỗ tay), trẻ vỗ tay theo; thầy “hãy làm thế này” (thày vỗ bàn), trẻ vỗ bàn theo; thầy

“hãy làm thế này – bóng”, trẻ nói “bóng”, thày “ nói bóng”; trẻ “bóng” Như vậy

thầy đã chuyển từ bắt chước vận động sang bắt trước lời nói, từ bắt chước lời nóisang ngôn ngữ tiếp nhận Đưa mọi hành vi của trẻ vào trong khuôn khổ lệnh củathầy

2 Khi trẻ bắt chước được yêu cầu một vật nhưng không trả lời được câu hỏi “conmuốn gì”:

+ Chuyển từ lặp âm sang yêu cầu: thầy “con muốn gì” bóng”, trẻ “bóng”, thầy “conmuốn gì”, trẻ “bóng”

Nếu trẻ lại lặp âm “con muốn gì”, thì thầy hãy: nói câu hỏi khẽ hơn tên vật;hoặc hơi dùng lại giữa câu hỏi và trả lời; hoặc nói âm đầu của câu trả lời “conmuốn gì? B”

3 Khi trẻ đáp “ con muốn gì” nhưng không tả lời được câu hỏi lựa chọn”:

+ Chuyển từ dạng câu hỏi này sang dạng câu hỏi mới: thầy cầm bóng và bánh quy,hỏi “ con muốn gì”, trẻ “bóng”, thầy “con muốn bóng hay bánh”, trẻ “bóng”

Nếu trẻ có xu hướng luôn lấy vật nghe thấy sau cùng, hãy thực hành với những vật

có độ yêu thích khác hẳn nhau: một vật trẻ vô cùng thích và một vật trẻ không thích

tí nào, nói tên vật yêu thích trước với giọng nhấn mạnh rồi nói vật trẻ ghét sau.Cũng có thể gợi ý cho trẻ bằng cách nói âm đầu tiên của vật sau ngay câu hỏi + Bắt đâu với từ đơn: thày giơ bóng và bánh “bóng? bánh?” trẻ “bóng”, thày “conmuốn bóng hay bánh” trẻ “bóng”

+ Cho trẻ lời nhắc lại: thày giơ bóng và bánh, quan sát trẻ đang tiến về bánh, hỏi

“con muốn bóng hay bánh? bánh”, trẻ “bánh”, thày “Con muốn bóng hay bánh”, trẻ

“bánh”

4 Trẻ chỉ yêu cầu khi có người hỏi: Một vài trẻ vô tình được dạy rằng trẻ chỉ có thẻyêu cầu thứ nó thứ kia khi có ai đó hỏi Nhưng một lời yêu cầu thuần túy là hoàntoàn chỉ dựa trên mong ước của trẻ với vật (có EO) do đó cần dạy trẻ biết đòi vậtkhi chúng muốn dù không có ai hỏi thày “con muốn gì”, trẻ “bánh”, thày đưa chotrẻ một mẩu bánh nhỏ và sau đó chỉ nhìn vào mắt trẻ một cách trông đợi, trẻ

“bánh”, lần này thầy đưa cho trẻ miếng bánh to hơn Nếu trẻ không nói , thử gợi ývới âm đầu “C”

5 Nếu trẻ chỉ biết yê cầu khi vật được trẻ trông thấy: thầy để bánh cho trẻ tháy

“con muốn gì”, trẻ “bánh”, thày đưa cho một mẩu nhỏ, rồi giấu bánh ra sau bàn,

“con muốn gì”, trẻ “bánh”, cho trẻ miếng bánh to hơn Hãy cho trẻ trông thấy lúcbạn dần dần chuyển vật vào vị trí thường cất nó, không còn trong tầm nhìn của trẻkhi tiếp tục làm thêm các phép thử

Trang 10

6 Dạy trẻ nói “con muốn …” khi yêu cầu vật: Tốt nhất là hãy dạy trẻ yêu cầu với

từ đơn trước, đúng tên vật mà trẻ muốn và cũng dễ chuyển sang nhiều dạng điềukiện chức năng ngôn ngữ khác Đó là lời yêu cầu mạnh nhất (là những thứ trẻthường xuyên yêu cầu, không cần gợi ý) Đợi đến khi trẻ biết yêu cầu vật và hànhđộng trước khi thêm cụm từ dài hơn, lúc đó có thể gợi ý: trẻ “bánh”, thày “nói, chocon cái bánh”, trẻ “cho con cái bánh”, thày “thày cho con cái gì” , trẻ “cho con cáibánh”, thày đưa một mẩu bánh cho trẻ, “nói: con muốn một cái bánh”, trẻ “conmuốn một cái bánh” , thày đưa mẩu bánh cho trẻ, “con muốn gì: “con muốn mộtcái bánh”, thày lại đưa bánh Hoặc: trẻ “bóng”, thày “nói: hãy chơi bóng đi”, trẻ

“hãy chơi bóng đi”, thày “con muốn chơi cái gì”, trẻ “hãy chơi bóng đi”

7 Nếu trẻ chỉ yêu cầu được đồ vật mà không biết yêu cầu hành động: hành động cóthể dạy trong bối cảnh có hoạt động mang tính củng cố VD: trẻ “đu quay”, thày đặttrẻ lên đu quay bắt đầu đu trẻ “đẩy này, đẩy này, đẩy”, trẻ “đẩy”, thày “thày phảilàm gì ”, trẻ “đẩy” Hoặc: trẻ “đu quay”, thày đặt trẻ lên đu quay và bắt đầu vừađẩy vừa nói “ nói đẩy”, trẻ “đẩy”, thày “thày phải làm gì”, trẻ “đẩy”

8 Nếu trẻ chỉ có một số thứ giới hạn nó thích nên không biết yêu cầu thườngxuyên: hãy liên tục khai thác đồ hay hành động mới mà trẻ có thể quan tâm dựatrên cách trẻ đáp ứng với những kích thích âm thanh, hình ảnh, mùi vị, nếm Có thểtăng số lượng thứ trẻ yêu cầu bằng cách dần dần thêm vào những yêu cầu mới màtrẻ phải thực hiện để có thứ nó muốn VD: trẻ muốn đi tắm, giá trị của việc cởi bỏquần áo có thể khá mạnh lúc bấy giờ Chỉ đừng có thêm vào những yêu cầu mớimột cách quá nhanh hoặc quá nhiều cùng một lúc, hoặc khi trẻ đã không còn EOcho hoạt động đó VD: khi trẻ thực sự thích thổi bong bóng, giá trị của việc mởhộp, lấy đũa thần ra và thổi trở nên mạnh

* Tóm lại: tìm một điều kiện xuất phát là kiểu giao tiếp mà trẻ có thể đáp ứng như

ta mong muốn hoặc gần được như vậy, rồi chuyển nó sang dạng điều kiện mới Trẻluôn có xu hướng lặp lại một từ nó vừa nói trong điều kiện mới Gợi ý trẻ ngaytrong 2-3 giây để trẻ luôn thành công

Yêu cầu là điều quan trọng nhất cần dạy trẻ Nó dạy trẻ rằng giao tiếp là sứcmạnh Nó cho trẻ một sự kiểm soát nhất định đối với lời nói của trẻ và có thể thaythế cho những hành vi tiêu cực Hơn nữa một khi trẻ có thể yêu cầu, thày có thểdùng kỹ năng này để dạy trẻ nhiều chức năng ngôn ngữ nữa Có hai ưu tiên cần lưu

ý khi dạy Thứ nhất, thày phải chắc là trẻ thực sự muốn vật tại thời điểm đó (có EOcho vật đó) Sẽ phản tác dụng nếu cố dạy trẻ yêu cầu một thứ trẻ không muốn Ló

ra một ít đồ vật đó và quan sát xem liệu trẻ có muốn thêm hay chơi với vật đókhông cho đến khi trẻ thực sự gắn kết với thày và hành động này có thể thiết lậpmột EO Thứ hai, phải dạy trẻ rằng các cách mà trẻ từng dùng (khóc, hét, chỉ nhắclại) không còn có tác dụng nữa Thày làm điều này bằng cách không CC cách yêucầu cũ của trẻ (triệt tiêu) hoặc dạy trẻ một cách khác để yêu cầu VD: Khi trẻ tiếngần nước quả, mẹ hỏi “con muốn nước quả à?”, trẻ lặp lại “con muốn nước quả à?”

Mẹ liền đưa nước quả cho trẻ Như vậy mẹ đã thực sự CC cách hỏi sai của trẻ VD:

Trang 11

trẻ thường nói “cho em một ngày” mỗi khi xin thứ gì đó vì nó nhó đến bài hát.Cách nói này không được coi là ngôn ngữ có chức năng nhưng với mẹ thì có thể có

vì mẹ đã xem cuốn băng đó và dịch được ý muốn của trẻ Mẹ làm tăng (CC) việc

sử dụng dạng ngôn ngữ này của trẻ bằng cách đáp lại theo một cách mà trẻ thấy dễchịu (CC) Vấn đề là khi ra môi trường bên ngoài, người khác không hiểu, trẻ cóthể nổi cáu vì trẻ không thể yêu cầu được vật nó muốn bằng cách này thêm nữa

Những điều chú ý khi dạy trẻ yêu cầu:

1 Dù trẻ có thể nói câu dài, hãy bắt đầu dạy bằng các từ đơn Điều này sẽ đảm bảo

là trẻ học đúng cái từ mà nó sẽ có đựoc vật nó muốn và rất có ích cho thày chuyểnsang các dạng ngôn ngữ khác ở giai đoạn sau Việc đưa thêm các cụm từ “con xin”,

“cho con” nên được dạy sau khi trẻ đã có một kỹ năng bắt chước mạnh và thày đãlàm được nhiều lần chuyển đổi chức năng ngôn ngữ

2 hãy dạy tất cả mọi điều kiện mà lời yêu cầu có thể xảy ra Một lời yêu cầu thuầntúy là hoàn toàn trong sự kiểm soát của một EO, nghĩa là không ai nói điều gì chotrẻ trứoc Dạy trẻ “yêu cầu thuần túy” cũng quan trọng nhưng quan trọng khôngkém là dạy trẻ đáp lại trong các điều kiện khác như khi người khác hỏi trẻ là trẻmuốn gì, trẻ muốn cái nào, khi đồ vật hiện ra trước mắt và khi không nhìn thấy

Hãy làm cho trẻ phân biệt được giữa các tình huống điều kiện khác nhau đó trước khi dạy trẻ

3 Dạy tên thực sự của vật trứoc khi dạy mầu sắc hay tính từ VD trẻ thích màu, hãydạy trẻ “bút màu” “giấy màu” trước khi dạy trẻ yêu cầu lấy mầu sắc, vì nếu không

từ chỉ mầu sắc có thể “thay thế” mất tên đồ vật khi trẻ được hỏi Những từ “thêm”,

“làm ơn” cũng được coi như các tính từ và nên được để dạy sau khi dạy tên thực sựcủa vật Khi dạy thêm những cụm từ, phải chắc chắn là dạy trẻ một loại cách nóitrong cùng một bối cảnh hành vi hoặc điều kiện Dạy trẻ cả cách trẻ nói với bạn vàcách nói với người lớn Hỏi lịch sự ơn được áp dụng cho người lớn

4 Phải chắc chắn là trẻ không bao giờ có được bất cứ thứ gì cho hành vi tiêu cực.Trong giai đoạn đầu dạy, có thể sẽ có sự leo thang (bùng nổ để triệt tiêu) các hành

vi tiêu cực mà trẻ dùng trong quá khứ để có vật trẻ muốn Điều quan trọng là khôngđáp lại những hành vi tiêu cực, bởi vì nếu các hành vi này tiếp tục có tác dụng thìtrẻ sẽ không cần phải học nói nữa

5 Hãnh tránh những tình huống “khoảng cách” Tức là không nên có tình trạng

“con phải nói trước khi con có vật” Hãy sử dụng các cách gợi ý trẻ (tín hiệu, ảnh,

điền chỗ trống) để cho trẻ tiếp cận gần đến vật CC Trẻ chỉ cần nghe lời thày nói

về tên đồ vật cùng lúc cái tên đó gắn với CC thì đã làm tăng được khả năng là lần sau cái từ đó sẽ được trẻ dùng đến

6 Khi dạy trẻ nói tên danh từ, động từ, giới từ, tính từ và trạng từ, sẽ dễ hơn nếubắt đầu với câu yêu cầu sau đó chuyển sang gọi tên VD: dạy trẻ nói tên “tối”, nênbắt đầu với việc tìm một bối cảnh mà trẻ sẽ thấy “tối” là điều mong muốn như chơivới đèn pin, dạy trẻ yêu cầu “tối” sau đó chuyển lời đáp đó sang gọi tên “tối”

7 Dọn dẹp lỗi phát âm một cách nhẹ nhàng: khi trẻ lần đầu học một từ, thầy hãychấp nhận những lần phát âm xấp xỉ tốt Sau khi trẻ đã biết yêu cầu vật mà không

Trang 12

cần gợi ý, hãy cho trẻ lặp lại từ theo thầy vài lần trước khi đưa cho trẻ vật trẻ muốn

để cải thiện phát âm Cho trẻ vật trẻ muốn (CC) sau lần trả lời tốt nhất Quan trọng

là không yêu cầu trẻ lặp lại một từ nhiều lần đến mức trẻ mất hết cả hứng thú vớivật nói riêng và thực tập ngôn ngữ nói chung

* Khi trẻ đã biết yêu cầu rất nhiều thứ rồi, thầy dần dần bắt đầu thêm những nhiệm

vụ mới giữa các lần yêu cầu; những nhiệm vụ mới nên được gợi ý toàn diện để đảmbảo trẻ luôn thành công Sau đó làm mờ gợi ý cho đến khi trẻ có thể thực hiện đượchành động hoặc theo chỉ dẫn mà không cần gợi ý Thông thường kỹ năng thườngđược đưa vào giữa các lần yêu cầu là bài tập bắt chước vận động, bài tập đọ, lệnhtiếp nhận đơn giản, và phân biệt đồ vật một cách tiếp nhận Trong giai đoạn đầu,phần lớn các lệnh nên thực hiện trong bối cảnh các hoạt động mà trẻ vốn thích thú

VD, bắt chước vận động có thể được dậy trong khi hát hoặc chơi đôồchơi Phânbiệt đồ vật tiếp nhận có thể được dạy trong khi rửa đồ chơi, phân biệt ảnh dạy khiđọc sách

DAY TRẺ GOI TÊN ĐỒ VẬT TRANH ẢNH (ngôn ngữ xử trí)

Dạng VB tiếp theo là dạy trẻ nêu tên đồ vật trẻ đang tương tác Trong khiyêu cầu mang lại lợi ích cho trẻ vì trẻ có được cái nó muốn (bản thân vật là CC),gọi tên đồ vật thì không có được loại CC đó mà trẻ chỉ nêu tên vật không phải vì trẻthích mà vì nó được hỏi, hoặc vì trẻ đang đi đến tương tác với vật đó và hành độngtương tác này đã được CC Một gọi tên thuần túy là việc trẻ goi tên vật mà nó hiệnđang tương tác VD: trẻ “đây là mẹ” khi nhìn vào ảnh của mẹ Trong đời thựcchúng ta ít khi làm việc gọi tên thuần túy này, mà thường ta gọi tên vật là muốnngười xung quanh chú ý đến vật đó Như vậy việc gọi tên vật phục vụ hai chứcnăng: gọi tên và yêu cầu sự chú ý Trên thực tế ít có trẻ bình thường nào đi vòngquanh nhà và tự phát gọi tên mọi vật mà nó nhìn thấy Vậy mà không may đây làtrường hợp vô tình được dạy cho trẻ tự kỷ, khi việc gọi tên tự phát được dạy táchrời khỏi chức năng yêu cầu sự chú ý Chính sự chú ý của người khác mà trẻ cóđược khi gọi tên vật là CC của hành vi gọi tên Nếu muốn trẻ gọi tên một cách tựphát các đồ khi chúng gặp,ta phải tiếp tục làm cho sự hiện diện của ta và sự lưu ý tadành cho trẻ có tính CC Để học một thứ mới có liên quan đến những vật và hànhđộng mà trẻ không thực sự quan tâm, thì quan trọng nhất là trẻ có thể gọi tên theoyêu cầu Lúc đầu nên là những tên dễ chuyển sang từ câu yêu cầu Tốt nhất là đợiđến khi trẻ biết yêu cầu rất nhiều thứ và tự phát gọi tên vật trong môi trường trướckhi đưa ra những vật mục tiêu mà trẻ không có hứng (không có EO) Đó là bởi vìhành vi gọi tên một cách tự phát cho thấy nói chuyện cần được gắn rất chặt với CC,người nói chuyện rất cần sự chú ý của người nghe như là sự CC

Trong giai đoạn đầu, ta dạy trẻ gọi tên vật khi nghe một loạt các câu hỏi khácnhau như “đây là cái gì”, “đó là cái gì”, “con gọi cái này là gì”, khi thày chỉ vào đồ

Trang 13

vật mà không cần hỏi Cuối cùng ta dạy trẻ biết gọi tên vật nhằm dành được sự chú

ý của ta với vật Cần dạy trẻ biết đáp lại theo một cách linh hoạt và không chỉ khinghe thấy câu hỏi “kia là cái gì” Muốn vậy phải thực hiện các phép chuyển Mộtkhi trẻ biết trả lời câu hỏi “kia là cái gì” rồi thì đi theo ngay là 1 dạng câu hỏi khác.VD: thày “cái gì kia”, trẻ “con bò”, thày “cái kia gọi là gì”, trẻ “bò”

Gọi tên thực chất là một phép đọ, trẻ phải đọ vật với tên

Có 4 cách cơ bản để dạy trẻ gọi tên:

1 Khi trẻ biết yêu cầu rất tốt nhiều thứ (kỹ năng này đã khá mạnh, không cần gợiý), nhưng không biết đáp lại câu hỏi “cái gì kia: chuyển từ yêu cầu sang xử trí:phép chuyển này thực chất là phép lừa vì thực sự ta yêu cầu trẻ gọi tên vật trước,trẻ yêu cầu vật vì để trả lời cho một câu hỏi mới, tuy nhân thầy sẽ dần dần thêm cácphép thử khác nhau giữa yêu cầu gọi tên ban đầu với yêu cầu trẻ học cách gọi tênvật khi được hỏi thoạt đầu trẻ có xu hướng sẽ đáp lại bằng cách nói tên vật khi nótrông thấy vật do trước đó trẻ đã được CC bởi việc có vật Nhưng hãy nhớ chỉ dùngcác bài tập mà trẻ đã thành thục giữa các phép thử gọi tên và yêu cầu, ta chỉ dạy trẻmột kỹ năng mới tại một thời điểm mà thôi! Kỹ năng này chỉ nên bắt đầu luyện khitrẻ đã rất mạnh kỹ năng yêu cầu, để có thể phân biệt đâu là khi trẻ được yêu cầu bắtchước hay gọi tên VD: thầy giơ 1 vật có tính CC được trẻ yêu chuộng và hỏi “cái

gỉ đây”, trẻ “bóng”, thày “con muốn gì”, trẻ “bóng”, (thày đưa trẻ bóng, cho trẻchơi bóng một chút), thày “đưa thày bóng”, trẻ đưa thầy bóng (có nghĩa trẻ đã đượcdạy để biết chấm dứt CC)., thày “cái gì đây”, trẻ “bóng”, thày đánh bóng bằng cáibúa và hỏi “hãy làm thế này”, trẻ đánh bóng (kỹ năng bắt chước vận động đã đượcthành thục”, thày “đưa thày cái búa”, trẻ đưa thày búa (kỹ năng đáp này đã thànhthục), thày “con muốn gì”, trẻ “bóng”

Cũng có thể thay đổi là sau khi thày yêu cầu bóng và có bóng, thày chuyểnsang câu hỏi gọi tên “cái gì đây” Trẻ sẽ dễ dàng gọi tên nếu bóng là vật chúngmuốn, nhưng nếu đó không phải là thứ trẻ thích thì có thể trẻ sẽ không đáp lại.Trong trường hợp này thày có thể gợi ý nhắc lại (nếu nhắc lại là kỹ năng trẻ đãthành thục), điền chỗ trống (nếu trẻ thạo), nếu không được thì thày nên trả lời câuhỏi rồi tiếp tục Điều quan trọng là chúgn ta không vô tình dạy trẻ không đáp lạicâu hỏi, nếu chúgn không đáp lại trong điều kiện này thì một phép chuyển câu hỏiphải được thực hiện VD: thày “cái gì đây”, trẻ không đáp trong 2 giây, thày “bóng,cái gì đây B”, trẻ “bóng”

Một cách thứ hai cũng dùng cho trẻ đã thành thạo yêu cầu rôi là dùng có haivật trẻ cùng thích, trước hết xác địn cái nào trẻ thích nhất (có EO) và dùng nó nhưvật CC, sử dụng vật thứ hai để dạy gọi tên VD: thày có kẹo và sách, thấy rằng trẻthực sự muốn nhìn quyển sách nhất nhưng thày sẽ đưa kẹo cho trẻ trước: thày giơkẹo lên “cái gì đây”, trẻ “kẹo”, thày “giỏi, con muốn gì (và giơ sách lên), trẻ

“sách”

2 Trẻ biét chỉ vào tranh nhưng không biết trả lời “cái gì đây?”: chuyển từ ngôn ngữtiếp nhận sang xử trí gọi tên: Rất dễ gợi ý ngôn ngữ tiếp nhận một tranh ảnh hay đồvật bằng cách hỗ trợ về thể chất tre chạm vào vật (gợi ý thể chất), hoặc làm mẫu

Trang 14

đáp ứng đúng (gợi ý bắt chước) Nhiều trẻ sẽ bắt đầu gọi tên vật một cách tự phátkhi chúng chỉ vào vật, nếu vậy thì đáp ứng tiếp nhận rất dễ chuyển sang gọi tên vìtrẻ có xu hướng lặp lại lời đáp mà nó vừa đưa ra VD: Thày “chạm ô tô”, trẻ chỉtay vào ô tô và nói “ô tô”, thày “cái gì đây”, trẻ “ô tô” Nếu trẻ không đáp ứngtrong điều kiện mới này, thày đưa ra gợi ý âm đầu “ô”, nếu trẻ vẫn không đáp ứng,thày đưa cả câu lời đáp trong vòng 2-3 giấy.

3 Trẻ biết bắt chước âm thanh giỏi khi thày bảo “hãy nói ” nhưng không trả lờicâu hỏi “cái gì đây”: chuyển từ lời vọng sang gọi tên: thày “nói ô tô”, trẻ “ô tô”,thày “cái gì đây”, trẻ “ô tô”

4 Trẻ biết điền chỗ trống giỏi nhưng không đáp câu hỏi “cái gì đây”: chuyển từđiền chỗ trống sang gọi tên: dạng điền chỗ trống không có vẻ là một lời yêu cầunên sẽ tránh được việc ta dùng quá nhiều câu hỏi với trẻ, vì vậy rất nên dùng tronggiai đoạn đầu dạy VD: thày “ta rửa tay trong …”, trẻ “chậu”, thày “cái này là gì”,trẻ “chậu”

* Trình tự chuyển: Mục đích dạy trẻ là trẻ luôn luôn thành công Một cách là cungcấp lời gợi ý toàn bộ rồi dần làm mờ gợi ý Cách nữa là dùng phép chuyển Căn cứvào một điều kiện trẻ đã thành công làm điểm xuất phát, chuyển sang điều kiệnmới Trẻ luôn có xu hướng lặp lại chính hành vi hay lời nói mà trẻ đã vừa làm Dầndần tăng khoảng cách giữa hai đáp ứng cho đến khi trẻ có thể đáp lại điều kiện mớimột cách độc lập VD:

1 Trẻ biết bắt chước vận động, chuyển sang đáp ứng với lệnh mới “làm”: thày vỗtay “hãy làm thế này”, trẻ vỗ tay, thày vỗ tay và nói “vỗ tay”, trẻ vỗ tay, thày không

vỗ tay nữa và chỉ nói “vỗ tay”, trẻ vỗ tay Như vậy đáp ứng vỗ tay cuối cùng đượcđặt dưới sự kiểm soát của lệnh “vỗ tay” bằng lời

2 Trẻ biết yêu cầu ô tô, ta dạy trẻ nói tên “ô tô”: thày giơ ô tô lên “con muốn cáigì” , trẻ “ô tô”, thày “cái gì đây”, trẻ “ô tô” Hoặc: lấy cả hai ô tô và sách trẻ đều cóham muốn mạnh… (nt) Hoặc chuyển từ ngôn ngữ tiếp nhận sang gọi tên, ngônngữ vọng sang gọi tên …

Làm mờ gợi ý: Bước tiếp theo là làm mờ gợi ý để trẻ không phụ thuộc gợi ý và lờiđáp của trẻ thực sự dưới sự kiểm soát của lệnh mục tiêu mà thày đưa ra Làm mờbằng cách hỏi lại câu hỏi mà không đưa ra gợi ý để đợi có câu trả lời không cần gợi

ý của trẻ VD: thày “cái gì đây? cá”, trẻ “cá”, thày “cái gì đây”, trẻ “cá” Khôngphải lúc nào cũng có thể có ngay được lời đáp không gợi ý của trẻ và quan trọng làtránh làm trẻ bực bởi quá nhiều phép thử liên tục

Nếu ta vẫn không thể có được lời đáp độc lập không cần gợi ý của trẻ sau 3lần thử , hãy chấp nhận lời đáp có gợi ý và chuyển tiếp TRẻ khác nhau ở cách đápứng với dác dạng gợi ý gặoc thủ tục chuyển khác nhau, dó đó quan trọng là quyếtđịnh xem như thế nào là tốt nhất cho từng trẻ Dần dần tách câu đáp có gợi ý vàkhông gợi ý ra bằng các bài tập dễ xen vào giữa, các bài tập dễ này thày chắc chắn

là trẻ trả lời đúng, sau đó quay trở lại các mục đã bỏ qua Tăng dần số lượng các bàitập dễ trong khi quay lại với các câu hỏi không cần gợi ý VD: thày “đang bơi là

Trang 15

con…”, trẻ “cá”, thày “cái gì đây “cá”, thày “nhìn con tàu kìa”, trẻ nhìn tàu, thày

“cái gì đây”, trẻ “cá”, thày “giỏi lắm”

Trình tự này chính là “học không lỗi” Ý chính ở đây là ta không muốn đợimột trả lời sai trước khi ta gợi ý vì như thế trẻ đang thực hành một câu trả lời sai

Lý do cho việc nhắc lại câu hỏi khi trẻ đáp sai là để giữ trẻ khỏi vô tình học xâuchuổi câu trả lời sai với đúng Hơn nữa là để giữ câu hỏi và câu trả lời gần nhau kịpthời.VD: thày “cái gì đây”, trẻ “Mu”, thày “không, con bò”, trẻ “con bò”, thày

“giỏi” Trong trường hợp này, trẻ đã thực hành lời dáp sai với tần xuất cũng ngangvới lời đáp đúng Lại còn có rất nhiều thời gian và lời nói thừa ngăn cách giữa câuhỏi mục tiêu “cái gì đây” với câu trả lời “bò”; nếu các câu hỏi được đưa ra gầnnhau và lời đáp đúng được củng cố ngay tức khắc thì còn có thể khắc phục đượcnhược điểm của học có lỗi này Chúng ta muốn mục tiêu (bài tập) khó được đưa rathường xuyên hơn nhưng phải được trộn lẫn với các lời đáp dễ để luôn CC đượctrẻ Cách dạy không lỗi cho phép trẻ thực hành lời đáp đúng với câu hỏi trước đótrẻ chưa làm được hoặc một câu hỏi mới mà không cần gợi ý, sử dụng CC mạnhhơn so với lời đáp dễ hoặc đã thành thục

TĂNG CƯỜNG PHÁT ÂM THANH - DẠY TRẺ NÓI CHUYỆN

Dù nguyên nhân của sự khó phát ra âm thanh ở trẻ là gì thì ta đều có thểdùng phương pháp dạy để tăng việc sản sinh âm thanh và dạy trẻ tập luyện các cửđộng vận động cần thiết cho chức năng phát âm

TẤt cả các dạng VB (phát âm, cử chỉ, tín hiệu ) đều cần có một loạt cửđộng số lượng cảu các cử động vận động và sự phức tạp của các chuyển động vậnđộng cần thiết này lại khác nhau với mỗi loại VB Cử động cũng là hành vi do đó

ta cũng dạy được trẻ Nếu ta muốn dạy trẻ thực hiện một loạt cử động vận động vớicách tay, bàn tay, ngón tay… ta hãy quyết định một điểm xuất phát hay một cửđộng mà trẻ có thể hiện thời làm được hoặc có thể dễ dàng thực hiện Sau đó sửdụng việc xâu chuỗi ngược hoặc xuôi để dạy từng cử động, sử dụng mọi loại gợi ýcần thiết để đảm bảo là trẻ có thể làm được từng cử động theo một trật tự Một khitrẻ học được cách thực hiện từng cử động, hãy cho trẻ những cơ hội lựa chọn đểthực hành các cử động theo một trật tự đúng đồng thời làm mờ gợi ý

Các nguyên tắc tương tự á dụng cho dạy trẻ tiến hành một loạt cử động bằngmiệng Từng từ phát ra khác nhau ở số lượng và độ phức tạp của các cử động cầnthiết Ta không dạy trẻ bơi bằng cách làm mẫu một cú sải tay đầy đủ (gồm mộtcánh tay đưa lên trước, cánh tay kia phía sau và đầu ngụp lặn…) rồi yêu cầu trẻ bắtchước, và nếu trẻ làm sai trinh tự thì chúng ta lại làm mẫu lại rồi lại yêu cầu trẻ bắtchước lại Vì sao không? vì như vậy trẻ sẽ không bao giờ học được có lúc trẻ sẽđưa ra trình tự cử động sai, có lúc không có trật tự, có lúc lại thêm vào một cử độngkhông có, có lúc làm mất cử động đáng ra phải có Cách ta dạy trẻ nói một từ đầu

đủ cũng như vậy

VẤN ĐỀ HÀNH VI

Trang 16

1 Trẻ có hành vi không phù hợp để đòi thứ nó muốn, thứ này ta cũng cho trẻ đượcnhưng cần xử lý hành vi tiêu cực: biện pháp đếm Biện pháp đếm nhằm để trẻ biết

là CC hiện không sẵn sàng (S-Delta) Thày “không khóc” và bắt đầu đếm ngay khitrẻ “tạm dừng” để lấy hơi thở và dừng đếm ngay khi trẻ bắt đầu khóc trở lại Thày

“không khóc” (đếm trở lại mỗi lần trẻ dừng khóc) TRẻ thực sự dừng khóc Thàygợi ý trẻ bằng dạng giao tiếp hiện có của trẻ để nêu thứ trẻ muốn Với một số trẻ,biện pháp đếm có thể làm leo thang cơn thịnh nộ, lý do vì có lẽ trước đó thày hoặccha mẹ đã từng CC cơn thịnh nộ trong quá khứ Nếu vậy thày hoặc cha mẹ hãy rờikhỏi phòng, lờ cơn thịnh nộ đi (nếu dự đoán trẻ không làm gì gây thương tích).Ngay khi cơn thịnh nộ qua, quay lại và gợi ý trẻ nêu yêu cầu một cách phù hợp.Nếu trẻ lại xâu chuỗi thủ tục đếm vào lời yêu cầu của mình (“1,2,3 con muốn…”)thì chỉ dùng ngón tay để đếm mà không đọc ra lời

2 TRẻ khóc nhưng không tỏ ra cần cái gì: Như vậy trẻ có thể đang cần sự chú ý

Bố mẹ thường có thói quen lại gần xem có gì với trẻ Thật không may, trẻ lại hiểu

là bất cứ khi nào trẻ muốn bố mẹ quan tâm thì chỉ việc hét Vì vậy hãy chấm dứtviệc CC hành vi sai bằng cách chú ý tới trẻ Bỏ đi hay lờ đi sẽ có tác dụng Nhưngnếu trẻ có hành vi tự gây thương tích, không để trẻ một mình, ngăn chặn hành vi vàbảo vệ trẻ nhưng không nói lời nào và không có dự tiếp xúc dễ chịu nào

Mặt khác, hãy dành nhiều sự chú ý khi trẻ gắn kết với nhữgn hành vi phùhợp VD: tiến lại gần trẻ khi trẻ nhìn vào một quyển sách một cách lặng lẽ và khenngợi ôm hôn trẻ (nếu trẻ thích khen ngợi ôm hôn) Dạy trẻ dùng lời nói khi muốnmọi người chú ý VD: dạy trẻ nói “con muốn mẹ bế”, “mẹ chơi với con” và hãykhen ngợi trẻ thật nhiều khi trẻ thực hiện

3 Trẻ biết nói nhưng không chịu yêu cầu: Nhiều trẻ rất muốn vật nhưg không nóilên được vì nhiều trẻ biết gọi tên sự việc đó nhưng không biết yêu cầu với cùng sựviệc đó, hoặc không thể nào hồi tưởng lại được từ đó khi cần dùng Nếu vậy cáchtốt nhất hãy tiến đến và gợi ý trẻ, dù bạn nghĩ trẻ biết từ này Dành cho trẻ mộtlượng nhỏ những thứ trẻ đã yêu cầu và sau đó cố gắng lấy được một lời đáp khônggợi ý: Trẻ tiến về bánh quy, Mẹ “con muốn gì, bánh ”, trẻ “bánh ” và được đưa chomột mẩu nhỏ bánh , mẹ “con muốn gì”, trẻ “bánh”, mẹ “con đang làm gì”, trẻ “ăn”,

mẹ “đúng rồi, thứ con ăn là…”, trẻ “bánh”, mẹ “giỏi lắm, con muốn gì”, trẻ “bánh”

4 Trẻ hét để trốn thoát khỏi chỗ: Đây là hành vi trốn thoát Hãy đừng cho phép trẻtrốn thoát hoặc tránh lời yêu cầu đã đựoc đưa ra cho trẻ Một khi yêu cầu đã đượcđưa ra thì thày theo suốt dù nếu cần phải gợi ý trẻ bằng thể chất việc tuân thủ Sau

đó ta cần xem lại chiến lược giảng dạy để xem trẻ muốn trốn thoát vì cái gì Quantrọng là hãy dạy trẻ hành vi thay thế VD; dạy trẻ xin nghỉ giải lao Hãy cho trẻnghỉ giải lao khi trẻ hỏi lần đầu tiên Sau đó khi trẻ lại xin, cho trẻ biết khi nào sẽđến lúc giải lao

5 Trẻ tự CC bằng tự kích thích: bạn phải ngăn chặn bằng thể chất để hành vi khôngxảy ra Hành vi tự kích thích sẽ có giá trị tự CC Nếu trẻ được phép tiếp tục, hành

vi sẽ tăng lên Hãy dạy trẻ thưởng thức các tương tác xã hội (bằng cách kẹp đôi) và

Trang 17

các hoạt động khác sẽ cung cấp cùng một đầu vào cảm giác nhưng phù hợp hơn vàkhông gây hại

Xử lý hành vi trước khi xảy ra: Khi ta nói về việc thao túng các điều kiện trước

khi hành vi xảy ra (tiền hành vi), ta nói về cách tránh những hành vi tiêu cực khỏixảy ra ngay từ đầu Điều này không nên lẫn lộn với cách ta pản ứng sau khi hành vixảy ra (hậu hành vi) điều sẽ quyết định liệu hành vi đó có tiếp tục trong tương laikhông Quan trọng là cả hai yếu tố đều có khả năng thay đổi hành vi nhưng vìnhững lý do khác nhau, và ta cần phải quan tâm đến cả hai thì mới hiệu quả

Biến đổi môi trường tiền hành vi bao gồm nhiều thứ nhưng nên tính đến cáckiến thức của ta về trẻ, phản ứng của trẻ với môi trường và hả nưng trẻ phải hiểunhững gì đang diễn ra xung quanh trẻ Quan trọng là hãy nhạy cảm với nhu cầu củatrẻ trong khi vẫn đồng thời dạy trẻ biết tiến hành các chức năng với người kháctrong xã hội mà cần ít nhất sự thay đổi của môi trường Nói cách khác, ta có thểdùng bất cứ công cụ gì cần thiết để dạy trẻ dựa trên kỹ năng hiện có của trẻ nhưngcũng phải dạy trẻ những điều sẽ cho ta làm mờ gợi ý và hỗ trợ khi trẻ học kỹ năngmới

Hiểu về trẻ: Do hệ thống cảm giác quá nhạy cảm, ta có thể tôn trọng nhữngphản ứng của trẻ với môi trường, nhưng cũng không thể giữ trẻ không bao giờ trảiqua những cảm giác mà trẻ khó chịu Cách làm là hãy giới thiệu trẻ với tình huốngtrong một khoảng thời gian ngắn, CC cho khả năng chịu đựng tăng lên dần của trẻ Nếu cách “gây tê” cảm giác này chưa hiệu quả, hãy kẹp đôi những điều kiện hơikhó chịu với trẻ với những thứ CC Cách nữa là kể cho trẻ về những điều sẽ đượctrông đợi ửo tình huống, như kể chuyện (thường xuyên kể chuyện đi nhổ răng ở bácsĩ), truyện tranh

Nhiều trẻ rất khó hiểu những luật lệ của tương tác xã hội nên thường có hành

vi không phù hợp Những kỹ năng này có thể dạy trẻ một cách trực tiếp qua nhữngcâu chuyện kể, hoặc dạy trẻ nhìn vào mắt người khác và dướn lông mày để dò hỏingười khác muốn làm gì

Nhiều trẻ không hiểu cái trẻ phải làm trong một tình huống nhất định vìkhông biết bắt chước bạn cũng không biết hỏi người lớn để làm rõ Vì vậy trẻ hành

xử tiêu cực Hãy đưa ra lời giải thích rõ để trẻ hiểu, và dạy trẻ các kỹ năng bắtchứoc và hỏi người lớn để giảm hành vi tiêu cực

Dạy trẻ dùng lời thay vì nổi giận: Ai cũng làm những thứ có tác dụng với mình.

Bất cứ hành vi nào trẻ làm cũng bời vì, trong một chừng mực nào đó, việc đó có tácdụng Nói cách khác hành vi tiêu cực vẫn đáp ứn một nhu cầu nào đó của trẻ Nếuđoán ra nhu cầu trẻ cần là gì, ta có thể biến hóa sức mạnh của nhu cầu đó (EO)hoặc dạy trẻ cách thay thế phù hợp

Có 3 “nhu cầu chính” mà hành vi tiêu cực có thể nhắm đến; đòi lưu ý hay vậtmong muốn; tránh hoặc trốn thoát một tình huống hay đòi hỏi; tự kích thích

Nếu một hành vi tiêu cực thường xuyên xảy ra một cách nhất quán, chắcchắn phải có mối liên hệ giữa hành vi và những điều xảy ra trước hoặc sau làm chohành vi cứ tiếp tục Công việc của nhà phân tích hành vi là đoán ra mối quan hệ đó

Trang 18

là gì để lên một kế hoạch phù hợp giải quyết hành vi, chứ không phải tập trung vàoviệc đổ lỗi

Để tìm ra mối quan hệ này, quan trọng là phải thực sự dành thời gian quansát và ghi chép điều xảy ra ngay trước và ngay sau hành vi VD: tiền hành vi m(Sam đứng trước cái tủ lạnh và mẹ hỏi con muốn gì), hành vi (Sam ngã xuống sàn

và hét, đá chân), hậu hành vi (mẹ đỡ Sam và đặt lên ghế) Tại bước này ta chỉ ghichép các sự kiện chứ không xác định nguyên nhân, cần ghi rõ cả thời gian của mỗihành vi xảy ra để xác định cơ cấu hành vi

Khi đã thu thập được thông tin trong một khoảng thời gian, hãy tìm cấu trúctrong các sự kiện xảy ra trứoc và sau.VD Sam, chuyên gia không thấy có sự nhấtquán nào về hậu hành vi, nhưng có một sự nhất quán về tiền hành vi đó là cơn thịnh

nộ luôn xảy ra khi ai đó hỏi “con muốn gì” Vì vậy các chuyên gia khẳng định cómối quan hệ giữa câu hỏi này và hành vi

Khi mối quan hệ được khẳng định, lên kế hoạch giảm hành vi bao gồm: Biến

ảo những sự kiện tiền hành vi, bỏ đi các CC làm duy trì hành vi (triệt tiêu), Dạy trẻhành vi thay thế và đưa ra CC đậm đà VD Sam, mẹ tránh dùng câu hỏi trên trongmột thời gian Thay vào đó, ngay lập tức mở tủ lạnh và đưa cho Sam một vài lựachọn mà nó muốn Khi Sam tiến đến một vật, gợi ý ngay lập tức Sam dùng từ nêulên yêu cầu Lời gợi ý được mờ dần đến khi Sam biết yêu cầu thứ nó muốn ngay cảkhi nó không đứng gần tủ lạnh Dĩ nhiên cũng quan trọng nữa là phải dạy Sam chịuđựng nghe câu hỏi trên vì một nơi nào đó, người nào đó sẽ có thể hỏi Sam như vậy.Sam có ác cảm với câu hỏi đó, có thể là do nó không muốn điều thường xảy racùng lúc với câu hỏi VD: người nào đó thường cầm đồ chơi của nó và hỏi như vậy

mà không cho nó cầm đồ chơi Quan trọng là đừng mất nhiều thời gian vào tìmhiểu điều đó đã xảy ra thế nào mà hãy tập trung giải quyết rắc rối Chương trìnhcho Sam bao gồm: gợi ý cho Sam yêu cầu những lượng nhỏ của vật mong muốn vàdần dần “nhét gọn” câu hỏi này giữa rất nhiều vật yêu thích; hoặc đi kẹp đôi nhữngtưừnày với CC bằng cách nói khi Sam đang tham gia một thứ nó thích mà khôngcần lời đáp với câu hỏi VD: khi đang cùng xem bộ phim hoạt hình yêu thích vớiSam hãy hỏi “con muốn gì, hoạt hình” bằng một giọng êm dịu Điều quan trọng lànói cả câu hỏi và trả lời trong tình huống này để trẻ không trở nên quen với việccâu hỏi không theo sau bằng lời đáp BẤy giơờphim sẽ tạm dừng trong vài giây vàSam được gợi ý để yêu cầu mở phim

Để giải quyết hậu hành vi, dùng thủ tục đếm Sau khi Sam thôi khóc trongtận 10 lần đếm, thày gợi ý Sam yêu cầu thứ nó muốn Khi trẻ nổi giận như mộtcách để yêu cầu vật, tối quan trọng là không bao giờ cho trẻ đến được với thứ nómuốn bằng nổi giận lần nữa Cần hiểu rằng ta thường gặp sự tăng lên của hành vitiêu cực khi ta lần đầu tiên từ chối trẻ tiếp cận CC Sự “bùng nổ trước khi triệt tiêu”này giảm dần khá nhanh miễn là ta nhất quán trong việc không cho phép trẻ tiếnđến vật CC Hãy vượt qua giai đoạn này chứ đừng nghĩ cách làm của ta không tácdụng Đôi khi thậm chí sau khi một hành vi được chấm dứt, trẻ bỗng bất ngờthựchiện lại hành vi cũ Vậy hãy tiếp tục kỷ luật khong cho phép trẻ tiếp cận được

Trang 19

vật CC Nếu không thì hành vi sẽ trở lại y hệt như cũ thậm chí còn khó triệt tiêuhơn trong tương lai Do tầm quan trọng rất lớn của sự nhất quán khi giải quyết hành

vi của trẻ nên mọi người làm việc hay tương tác với trẻ đều phải được thông báo vềchương trình Nếu hành vi được CC thỉnh thoảng hoặc vài người khác, nó sẽ cònkhó chấm dứt hơn

DẠY TRẺ TRẢ LỜI CÂU HỎI

Khi dạy trẻ trả lời, ta phải kết nối giữa dạng câu hỏi (yêu cầu, gọi tên…) vớilời đáp phù hợp Phải chắc là trẻ đã phân biệt được các câu trả lời đúng với từngdạng câu hỏi Thông thường trẻ đều đã có khá nhiều trải nghiệm với các câu hỏi.Nhưng thật không may, đa số các trường hợp là trẻ đã học không trả lời câu hỏi.Cha mẹ thường hỏi trẻ rất nhiều câu hỏi từ khi con còn bé, nhưng nếu trẻ không trảlời thì họ cũng không biét cách gợi ý trẻ và dạy trẻ trả lời Và khi CC xảy ra saukhi trẻ không trả lời câu hỏi Như vậy đã tăng khả năng trẻ không trả lời câu hỏi khilần sau trẻ được hỏi

Để tránh cách “học” này tốt nhất là không hỏi trẻ những câu hỏi mà trẻkhông biết câu trả lời Khi câu hỏi đã được đưa ra, phải dạy trẻ đáp một cách phùhợp bằng các cách chuyển, gợi ý và trình tự sửa Như trong các tình huống họckhác, ta có thể dùng lời đáp mà trẻ đã thực hiện được và chuyển chúng sang một lờiđáp cho một câu hỏi khác Quan trọng là phải hiểu các câu hỏi trở thành một phầncủa một bộ các điều kiện kích thích quy định rõ lời đáp nào sẽ được CC Trẻ phảiphân bịêt được các điều kiện (các câu hỏi) khác nhau (thày dùng những câu hỏikhông dễ gây nhầm lẫn đặt gần nhau), khi đã phân biệt tốt rồi thày có thể nới lỏngcâu hỏi kiểm soát tức là có thể chọn những câu hỏi dễ gây nhầm lẫn hơn (?)

Kỹ năng tiên quyết: Trước khi dạy trẻ trả lời câu hỏi, trẻ phải biết yêu cầumột số lượng lớn các vậta và hành động Yêu cầu vẫn phải là trọng tâm cơ bản củaviệc dạy Tiếp tục xây dựng số lượng những thứ trẻ có thể yêu cầu tới một đíchkhoảng 1.000 yêu cầu mỗi ngày thêm nữa, trẻ phải có kỹ năng tốt về gọi tên vật.Khi đó trẻ đã biết trả ời các câu hỏi là các kích thưích về gọi tên vật “cái gì đây”

“cái gì kia”, “cái đó gọi là gì”, “con muốn gì”, khi trẻ có một EO với vật Cần lưu

ý là luôn luôn sửa lỗi lời đáp bằng cách lặp lại câu hỏi đi kèm gợi ý câu trả lời.

Làm như vậy đảm bảo rằng trẻ không chỉ học câu trả lời đúng mà còn phân biệtđwocj câu hỏi

VD: thày “cái gì bay trên trời”, trẻ “ô tô”, thày “cái gì bay trên trời? máy bay”, trẻ

“máy bay”,

Sai khi: thày “cái gì bay trên trời”, trẻ “ô tô”, thày “ngu lắm, ô tô đi trên đường.máy bay” , trẻ “máy bay”, thày “đúng” TRẻ cũng được cung cấp câu đáp đúng vàđược CC nhưng câu hỏi cách quá xa sự kiện để trở thành một bộ phận của điều kiệnkích thích Không có liên kết giữa câu hỏi, lời đáp và CC

Những câu hỏi đầu tiên:

Trang 20

* Cho trẻ mới bắt đầu học, cần tránh câu hỏi “có/không” Lý do là thày có thể

không biết chắc liệu trẻ sẽ đồng ý (có) hay không, do đó không thể gợi ý câu trả lờiđúng Vấn đề nữa là nếu trẻ hiểu đồng ý là nói có, nhưng trong tình huống không aihỏi trẻ thì trẻ có thể tự tiến ra chỗ người lớn và nói “có” mà người ta không hiểu

Do đó cách tốt nhất dạy trẻ có được thứ nó càn là dạy yêu cầu lấy những vật cụ thểhơn là chỉ đáp có/không Cần tránh hỏi câu hỏi mà thày cũng không biết câu trả lời

vì rất khó nếu không nói là không thể gợi ý cho trẻ

* Câu hỏi “Ai”: Sau khi dạy trẻ gọi tên đồ vật, bắt đầu dạy trẻ nêu tên người “đây

là ai”, “kia là ai”, “ai đang ở đây” TRẻ phải được phân biệt khi nghe “ai”, câu trảlời phải là về người

* … đang làm gì đây?: khi dạy trẻ gọi tên hành động, thày đã dạy trẻ đáp với câuhỏi này Trước hết là với những hành động đang diễn ra “con đang làm gì đấy?”,

“thày đang làm gì đây?” Sau khi trẻ thạo với hành động đang diễn tiến, thày có thểdùng tranh ảnh Điều này rất quan trọng vì ta không thể thấy được cử động thực sựtrong tranh và đó chính là cái ta dạy trẻ gọi tên Có thể dạy loại câu hỏi này bằngphép chuyển từ lời hướng dẫn hay yêu cầu đơn giản:

VD chuyển từ lời hướng dẫn đơn giản: thày “vỗ tay”, trẻ vỗ tay và nói “vỗ tay”,thày “con đang làm gì? đang vỗ tay” (gợi ý tòan bộ), trẻ “đang vỗ tay”, thày “conđang làm gì”, trẻ “vỗ tay”

VD chuyển từ lời yêu cầu: trẻ muốn nước và yêu cầu hành động “rót”, thày “thàyđnag làm gì đây? rót” (gợi ý toàn bộ), trẻ “rót”, thày “thày đang làm gì đây”, trẻ

“rót”

VD chuyển từ câu tiếp nhận sang xử trí: trẻ đang nói tên hành động khi chỉ vàotranh: thày “sờ vào đang ăn”, trẻ sờ vào tranh đang ăn và nói “đang ăn”, thày “anh

ta đang làm gì”, trẻ “đang ăn”

Một số chương trình tránh dạy trẻ gọi tên vật và hành động cùng lúc Nhưng nhưvạy câu hỏi có thể không thực sự là một sự kích thích cho lời đáp vì trẻ có thể đãbiết dạng lời đáp và thực sự không phải tập trung chú ý nhiều Vì vậy tốt nhất làcác dạng câu hỏi khác nhau được trộn lẫn ngay khi trẻ biết cách trả lời VD: thàyhỏi “cái gì đây”, trẻ trả lời, thày hỏi tiếp “anh này đang làm gì” Gợi ý toàn phầnluôn được dùng khi lần dầu dạy một lời đáp mới và trình tự sửa lỗi luôn được dùngnếu trẻ không đáp Điều quan trọng là đừng luôn luôn chỉ dụng những tranh và đồvật như cũ Trẻ phải đáp được đúng và biết phân biệt giữa các câu hỏi “cái gì’ “ai”,

“đang làm gì”

* Dạy trả lời các câu hỏi cá nhân: Những câu hỏi đầu tiên dễ khuyến khích trẻ trả

lời là về những thông tin cá nhân như tên tuổi Dạy bằng gợi ý vọng âm hoặcchuyển từ ngôn ngữ tiếp nhận (chỉ, chạm) sang gọi tên, xử trí

VD: thày “tìm Nam”, trẻ chạm tay vào ảnh và chỉ chính mình “Nam”, thày “con tên

là gì”, trẻ “Nam” Một khi trẻ biết đáp dúng mà không cần yêu cầu trẻ chạm tayvào ảnh trước thì ảnh cần làm mờ đi VD: thày có trưng ra bức ảnh nhưng hỏi ngay

“con tên là gì”, trẻ “Nam” Hoặc thày giấu ảnh đi và hỏi “con tên là gì”, trẻ “Nam”

Ngày đăng: 24/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w