- Mỗi chức năng riêng biệt có thể được điều khiển bởi một phần của nãonhưng tất cả các chức năng của chúng ta cùng đoàn kết trong công việc mộtcách rất hài hoà vì não là một khối thống n
Trang 1GHI CHÉP TÓM TẮT CHƯƠNG TRÌNH BÉ YÊU - BÉ GIỎI
TỪ CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI TRẺ BẠI NÃO
Trang 2- Mỗi chức năng riêng biệt có thể được điều khiển bởi một phần của nãonhưng tất cả các chức năng của chúng ta cùng đoàn kết trong công việc mộtcách rất hài hoà vì não là một khối thống nhất.
- Dẫu các chức năng hoạt động tương đối độc lập nhưng khi một chứcnăng bị tổn thương thì hoạt động của các chức năng khác ít nhiều cũng bị ảnhhưởng
II CÁC ĐẶC TÍNH CỦA NÃO.
1 Không tái sinh tế bào:
Não chỉ sinh ra tế bào mới khi bé còn ở trong bụng mẹ Giây phút bé đượcsinh ra đời là giây phút quy trình sinh sản tế bào não chấm dứt Nếu tế bào chết
đi, sẽ không có tế bào mới thay thế Đây là một đặc tính cực kì bất lợi duy nhấtcủa não mà các bộ phận khác của cơ thể hầu như không gặp phải
2 Học để thay thế chức năng:
Đây là một khả năng mà các bộ phận khác của cơ thể không có Khi mộtphần não nào đó bị tổn thương sẽ dẫn đến việc mất chức năng cơ thể (mất mộtphần hoặc toàn phần) thì phần não láng giềng – hoặc tương ứng – có thể họccách tiếp nhận thông tin và chỉ đạo cơ thể để phục hồi lại chức năng đã mất nếuphần não láng giềng ấy được kích thích và huấn luyện đúng cách
3 Không có khả năng dự trữ oxy và dưỡng chất:
Não là một mô “quí tộc” của cơ thể Nó sử dụng rất gấp và rất nhiều O2
cùng dưỡng chất nhưng lại không thể dự trữ chúng Chỉ cần cắt nguồn cung cấp
Trang 3O2 trong 30 giây là não bị đặt vào tình trạng báo động và nếu là hai phút thì nãobắt đầu bị tổn thương (bắt đầu có tế bào chết).
4 Não là một dụng cụ chứa đặc biệt:
Khi bạn bỏ vào càng nhiều thì sức chứa của nó càng tăng lên (xã hộithường có thành kiến rằng trẻ sẽ gặp rắc rối khi học nhiều thứ ngôn ngữ cùngmột lúc: Sai! Vấn đề nằm ở chỗ phương pháp dạy chứ không phải khả năng tiếpnhận thông tin của não)
III QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VẬN ĐỘNG.
1 Phát triển.
Khi bé lọt lòng mẹ toàn bộ não đã được cấu tạo hoàn chỉnh nhưng phầnlớn hầu như vẫn ở trạng thái nghỉ (trừ trường hợp bé quá sinh non); những hoạtđộng của các chức năng cơ bản chỉ mới bắt đầu, lúc này bé có thể thực hiệnđược những việc như: thở, chớp mắt, biết đau, bú, nuốt, uống, giật mình… Dolúc này não hoạt động chưa nhiều nên nhu cầu về O2 não cũng chưa cấp báchlắm
Sau đó, thông qua quá trình tiếp xúc v ới môi trường, bé sẽ nhận đượcnhững kích thích cần thiết dùng đánh thức những phần não cao cấp hơn để thểhiện ra những chức năng cao hơn Các chức năng ấy sẽ lần lượt được thể hiện từthấp tới cao: nghe, nhìn theo tiếng động và ánh sáng; đập tay chân, lật, khóc khi
bị đau, bị ướt, bò… khi các chức năng thể hiện ra thì các hoạt động của nó sẽcủng cố sự hoàn thiện của phần não phụ trách nó; đó là mối quan hệ tương hỗ.Khi phần não đã được đánh thức hoạt động hoàn hảo, nó sẽ truyền tín hiệu thông
Trang 4tin bằng những xung động thần kinh (truyền lên theo mạng tựa như mạng nhện)đem những kích thích của môi trường bên ngoài đánh thức phần não cao hơn kếtiếp Quá trình đánh thức này diễn ra liên tục cho đến khi toàn bộ khối não hoạtđộng đồng bộ, nhịp nhàng và hiệu quả (khi bé khoảng 8 tuổi).
2 Vận động.
Cũng như các bộ phận cơ thể khác, não cần được vận động – theo cáchriêng của nó - để tồn tại Não càng được vận động nhiều thì nó càng khoẻ mạnh
và sức làm việc của nó càng tăng lên
Vì nhiệm vụ của não là xử lý thông tin từ môi trường truyền vào thôngqua các giác quan rồi chỉ đạo cơ thể phản ứng để hồi đáp lại môi trường bênngoài nên cách duy nhất để vận động não là tạo thật nhiều cơ hội cho não nhậnđược các kích thích, các thông tin từ môi trường thông qua 5 giác quan: thị giác,thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác (trong đó thị giác, thính giác và xúcgiác đóng vai trò rất quan trọng) Đó là năm con đường vào của thông tin (haycòn gọi là dẫn truyền kích thích) đi tới não Khi đó não sẽ xử lý lượng thông tintrên và chỉ đạo cơ thể cho ra câu trả lời => lúc ấy chức năng sẽ xuất hiện Cóđầu vào thì sẽ thấy có đầu ra
IV BẠI NÃO LÀ GÌ?
Là khi một hay nhiều tế bào, một cụm hay nhiều cụm tế bào bị chết (donhiều nguyên nhân như: tai nạn, xung đột gen cha – mẹ, rối loạn nhiễm sắc thể,dùng thuốc bất lợi khi mang thai…và còn rất nhiều nguyên nhân chưa xác địnhđược)
Trang 5Khi đó bệnh nhân sẽ mất một phần hay toàn phần của một hoặc nhiềuchức năng Ví dụ: liệt, mù, câm, điếc bẩm sinh, hội chứng down, rối loạn tư duy.
V CÁC DẠNG BẠI NÃO (từ năng tới nhẹ).
VI KẾT THÚC PHẦN TÌM HIỂU VỀ NÃO VÀ BẠI NÃO.
Việc của chúng ta sẽ làm là huấn luyện phần não cón khoẻ mạnh làm thaynhiệm vụ của các phần đã chết bằng cách tác động tối đa lên các cơ quan truyềnthông tin lên não là thính giác + thị giác + xúc giác cùng các cơ quan có liênquan (Ví dụ: cơ quan phát âm) và dạy cho não phản ứng với những kích thíchđó
Nguyên tắc huấn luyện não bất kỳ kích thích nào lên não cũng phải hội đủ 2 yếutố:
(1) (2)
Trang 6Tôi làm thế này + để làm gì => chức năng
bé này, khả năng cung cấp O2 não của cơ thể yếu tới rất yếu vì số lượng mạchmáu lên não không bằng trẻ thường Điều đó khiến cho sự thiếu O2 não – vốn đã
là một rắc rối lớn nhất ở trẻ bại não – lại càng trở nên trầm trọng vì khi nhữngphần não còn sống dần dần được đánh thức bắt đầu làm việc thì não cần O2 ngàycàng nhiều hơn để đủ sức tồn tại và hoạt động
II HIỆN TƯỢNG THIẾU OXY NÃO.
- Nặng: Bé co giật từ ít tới nhiều, gồng cứng, có khi sùi bọt mép (gọi làđộng kinh)
- Nhẹ: Có khi bé chỉ thoáng rùng mình như bị lạnh Có rất nhiều trườnghợp không nhận thấy bằng mắt thường (gọi là động kinh dưới lâm sàng)
III CÁCH GIẢI QUYẾT.
1 Phương pháp mặt nạ.
Nhu cầu O2 não là một trong hai yếu tố cần thiết hàng đầu để một bộ nãotồn tại và hoạt động Do đó cung cấp đủ O2 cho não là công việc đặc biệt quantrọng trong việc phục hồi chức năng trẻ bại não Tuy nhiên cho thở O2 không
Trang 7phải biện pháp khả thi về lâu dài vì nếu tăng nồng độ O2 trong máu (quá 21%) sẽgây ra dự co mạch và thay đổi cơ cấu hoạt động của phổi theo hướng bất lợi.
Để giải quyết việc cung cấp O2 não, ta sử dụng phương pháp “MẶT NẠ”
và thở bằng đai Phương pháp mặt nạ sử dụng phản ứng hoá học tự nhiên của cơthể dựa trên đặc tính làm giãn mạch của khí CO2; khi ta làm tăng nồng độ CO2
trong máu (tới một mức cơ thể vẫn còn chấp nhận được, tuỳ theo cơ thể) sẽ gây
ra hai hiện tượng:
Thứ nhất, Phổi sẽ phải thở mạnh hơn và sâu hơn.
Khối lượng khí ta hít vào nhiều CO2 bình thường và không đủlượng O2 cần thiết, trung khu hô hấp (là phần não điều khiển hôhấp) sẽ ra lệnh cho phổi thở mạnh hơn và sâu hơn nhằm tìm đủlượng O2 cần thiết -> phổi liên tục được kích thích như vậy sẽ tăngdần sức làm việc
Thứ hai, Các mạch máu phần đầu – cổ sẽ nở ra đôi chút:
Ngoài việc chỉ đạo cho phổi thở mạnh hơn, khi lượng CO2 trongmáu tăng cao thì trung khu hô hấp còn tác động làm cho các mạchmáu giãn ra để nhận thêm máu lên đầu nhiều hơn nhằm tìm thêm
CO2 => khi bé đeo mặt nạ vào, lượng CO2 mà bé vừa thải ra khôngthoát đi được, bé hít lượng CO2 đó trở lại phổi nghĩa là nồng độ
CO2 trong máu sẽ tăng lên (chú ý theo dõi liều lượng đúng theo chỉđịnh; nếu không nồng độ CO2 trong máu cao quá mức cho phép sẽlàm ngộ độc thân khí, dễ tử vong) Lượng CO2 này sẽ kích thích lên
Trang 8trung khu hô hấp Qua thời gian dài luyện tập; phổi sẽ có thói quenthở sâu, thở mạnh; các mạch máu sẽ rộng hơn nghĩa là khả năng tựcung cấp đủ O2 của não sẽ dần dần hồi phục và não sẽ có đu lượng
O2 mà nó yêu cầu
cung cấp O2 => nghĩa là trong suốt quá trình tập phải bảo đảm rằng nguồn O2
không bị cắt đứt hoàn toàn
Không sử dụng “mặt nạ” trong các trường hợp sau:
Bé dị tật tim, phổi, các cơ quan hô hấp (ví dụ: mũi, khí quản, phếquản…)
Bị bệnh về hô hấp (hen suyễn…)
IV LỢ ÍCH CỦA CHƯƠNG TRÌNH CẢI THIỆN KHẢ NĂNG HÔ HẤP.
- Trẻ yếu sức, thở khó, di chuyển khó sẽ tăng khả năng hô hấp rõ rệt
Trang 9- Phổi tiết ra nhiều chất nhờn hơn: sẽ ít bị viêm nhiễm (viêm hô hấp trên)hơn.
- Dần dần não sẽ nhận được nhiều O2 hơn: việc vận động não sẽ dễ dànghơn -> bé sẽ học nhanh hơn
- Hiện tượng động kinh hay co cứng sẽ giảm
- Về lâu dài: Sức khoẻ được tăng cường -> bé càng nặng thì sự tiến triểncàng dễ nhận ra
* Các mức độ tập mặt nạ:
Sơ cấp (1,0’): mặt nạ có ống (loại túi 1/2kg)
Trung cấp (1,5’): mặt nạ kín (loại túi 1.5 – 2kg)
Cao cấp (2,5’): mặt nạ có một lỗ to bằng miệng ly được đan lại bằng lớplưới dày
Trang 10Không biết nói tiếng gió khi đã một tuổi.
Không nói được từ đơn khi đã 16 tháng
Không nói được từ đôi khi đã 2 tuổi
Nói khó khăn hoặc rất ghét nói
Đã nói được nhưng có thể mất ngôn ngữ bất kì lúc nào
Có khi bé nói suôn sẻ nhưng nội dung không liên quan gì đến môitrường – hoàn cảnh xung quanh (ngôn ngữ không có chức năng)
Thích độc thoại mà không đối thoại
3- Không chấp nhận giao tiếp, không kết bạn
4- Sự tập trung chú ý cực kỳ ngắn hoặc không có
5- Không hồi đáp khi được gọi tên
Trang 116- Có những hành vi kỳ quái, không giống ai, không lý giải được (rối loạn hànhvi) như tự hành hạ mình (tự đập đầu, cào, cấu, tự đánh, nói nhảm…) và hành
hạ người thân; có những bé không có khái niệm người thân hầu hết các hoạtđộng của bé đều có xu hướng bất biến Ở dạng bé ngoan, có khi cha mẹ còncảm thấy tự hào vì con mình ngoan quá, không đòi hỏi gì, không cần đồ chơimới, chỉ muốn ở một mình
7- Rất ít hoặc không giao lưu bằng mắt
8- Thường lặp đi lặp lại một số hành vi hoặc cử động cơ thể nhất định nào đó.9- Bị “hút” chặt vào một vài đồ vật quen thuộc (vật bất ly thân)
10- Thường xuyên ăn vạ
11- Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ
12- Từ chối quyết liệt một cách bất thường khi phải thay đổi thói quen sinh hoạthoặc những điều quen thuộc hàng ngày
13- Quá nhạy cảm với một số âm thanh, cảm giác hoặc một số mùi nào đó
14- Không có khả năng tổng hợp – khái quát hoá thông tin nhận được
15- Rối loạn ăn uống, tiêu hoá:
Có khi vị giác bé quá nhạy cảm khiến bé khó chịu hoặc từ chối hầu hết cácloại thức ăn Có khi ngược lại, vị giác bé thiếu nhạy cảm nên bé thích ăncác món kì khôi như: hành, tỏi sống, trái cây thật chua, muối ớt…Cơ thể békhông hấp thụ được một số chất nào đó khiến bé mất cân đối trong dinhdưỡng -> sinh ra những chứng như rối loạn tiêu hoá: tiêu chảy, táo bón…
Trang 12I KHỞI ĐỘNG.
- Lên danh sách tất cả những gì bé thích: ăn, uống, chơi, hoạt động chân tay (đábóng, chạy nhảy, nghịch nước…) kể cả những ý thích kì cục nhất (giặt khăn,búng tay, xé giấy,…), hoạt động trí óc (xếp hình, xếp chữ) và cần cập nhật danhsách này thường xuyên
- Lên danh sách những trò chơi – hoạt động mà bé đã làm được (một cách vôthức hoặc có ý thức)
II QUY TRÌNH XÂY MÓNG:
Trẻ tự kỷ có nhu cầu giao tiếp rất thấp (có bé không có); do đó đay sẽ là những
kỹ thuật đầu tiên nhằm kích thích bé bằng những thứ bé thích và có nhu cầu đểlàm cho bé dần dần cảm thấy muốn và cần giao tiếp; đồng thời đây là bước xâydựng một môi trường dạy – học thân thiện, vui vẻ
1- Hồi đáp khi nghe gọi tên
2- Nghe lệnh ngồi xuống ghế (1 – 20 giây)
Trang 133- “Nhìn cô” (1 – 20 giây).
4- Kết hợp các lệnh đơn giản
=> Thiết lập cho bé BẢN NĂNG NGHE LỜI Nếu không luyện cho bé bản
năng này thì sẽ không vào bài tập được và trong tương lai sẽ không thể kiểmsoát được bé nữa
5- Cắt trạng thái “thăng” của bé không để cho bé rảnh rỗi, cố gắng giữ cho bébận rộn để bé không có cơ hội rơi vào thế giới riêng của mình (tình trạng tự bế).6- Xoá độc thoại: gieo mần đối thoại -> tập cho bé có nhu cầu đối thoại (phản xạ
có điều kiện) Mỗi khi bé độc thoại, giáo viên phải chặn trước và đối đáp với bénhư thể hai người đang đối thoại Hình thức thấp nhất của đối thoại là điền chỗtrống của câu nói, bài hát, bài thơ Như vậy, dần dần bé sẽ có thói quen cần cóđối tượng để quăng bắt: đây chính là nhu cầu đối thoại – ngôn ngữ thoại trongứng xử – mức đơn giản nhất bao giờ cũng là một vòng tròn khép kín -> do đóphải luôn cùng bé khép kín trong vòng tròn Trong cuộc sống giao tiếp bằngngôn ngữ thoại thường là vòng tròn xoắn ốc (cho ví dụ)
7- Dạy cho bé biết yêu cầu (đòi hỏi những thứ bé muốn với thái độ đúng mực):đây là một trong những phần chủ chốt trong quá trình phục hồi trẻ tự bế vì nókích thích năng cao nhu cầu giao tiếp Nguyên tắc để dạy bé yêu cầu là khôngcung cấp cho bé những gì bé thích một cách vô điều kiện nữa mà bắt bé phải nêu
ra yêu cầu rồi mới đáp ứng (bé có thể yêu cầu bằng lời nói, ngôn ngữ tín hiệu,chữ viết, chỉ…) Sau đó ta năng cao số lượng những yêu cầu của bé bằng cách
Trang 14“đặt chướng ngại vật” => đây là cách làm tăng ý muốn giao tiếp và nuôi dưỡng
ý muốn đó thông qua những thứ bé thích
Ví dụ: Bé thích ăn kem thì “chướng ngai vật” sẽ gồm: Vào bếp -> mở tủ lạnh ->lấy kem -> lấy thìa -> mức kem ra chén -> mẹ đút Hoặc bé muôn chơi cầutrượt: Mở cửa phòng -> lên lầu -> mở cửa sân thượng -> leo lên -> trượt
*Số lượng chướng ngại vật nhiều hay ít tuỳ theo mức độ ham muốn của bé đôivới sự vật – sự việc nhiều hay ít
*Làm cho việc yêu cầu thành một việc dễ dàng đối với bé; bé cảm thấy lời nóihoặc cử chỉ của mình có uy lực hơn là tiếng khóc hoặc một cách ứng xử xấu; tạocho bé niềm vui khi bày tỏ nhu cầu
* Không làm cho bài tập này trở thành cực hình
*Tránh việc đặt chướng ngại vật theo một thứ tự bất biến
III PHỤC HỒI CHỨC NĂNG.
- Mục đích của phần phục hồi chức năng là giúp cho bé phục hồi trở lạicác chức năng cơ bản từ thấp đến cao để bé có đủ phương tiện học được các kỹnăng trong cuộc sống
- Các chức năng của con người dẫu hoạt động độc lập nhưng sự phát triểncủa một chức năng lại tuỳ thuộc vào sự phát triển của các chức năng khác (ví dụ:
bé điếc thì sẽ câm -> thính giác ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ) Do đó songsong với việc phục hồi các chức năng bị mất hoặc không hoàn chỉnh, ta vẫn phải
Trang 15củng cố những chức năng còn lại dù những chức năng còn lại đó có vẻ nhưkhông bị tổn thương.
- Có 3 giác quan chính cần được kích thích đúng mức:
1 Thính giác: Không phải chỉ có bé điếc mới không nghe được mà những bé
có thính giác bị rối loạn (loạn thính) tuy nghe được âm thanh nhưng nghe khônghoàn chỉnh, không chính xác dẫn đến việc phản ứng của bé đối với âm thanh đócũng không hoàn chỉnh, không chính xác
- Bài tập: Còi hơi, 2 khối gỗ nặng, khối lượng bài tập tuỳ theo mức độnặng nhẹ
- Khi nói với bé, giọng của bạn cần:
Đủ rõ : để bé nắm được các phát âm
Đủ nhanh : để níu giữ sự tập trung của bé
- Tránh nói ngọng với bé – thời gian đầu tập luyện không nên lên bổngxuống trầm quá nhiều vì sẽ dễ bị vướng vào những tần số âm thanh làm bé khóchịu và làm bé khó phân biệt về từ ngữ, âm sắc
2 Thị giác.
Hầu hết trẻ bại não từ nặng tới nhẹ đều có thị giác không hoàn chỉnh cho
dù cặp mắt bé trông vẫn có vẻ bình thường (theo khảo sát của Viện Nghiên cứutiềm năng con người - Philadenphia)
- Bài tập: Đèn công suất cao (500W-1000W tùy thuộc mức độ nặng nhẹ)trong phòng tối Nhìn vào bảng trắng-đen; bò; bơi lội; chuyền cành Nhìn vào
Trang 16hình đơn giản cỡ lớn Sau đó tăng thêm chi tiết trong hình và thu nhỏ kích cỡcủa hình.
Tất cả các tác động lên các giác quan phải:
- Đủ mạnh: Để đủ sức truyền tín hiệu kích thích lên tới vùng não cần thiết
- Đủ dày: Để thông tin nạp vào đủ sức lưu lại trong não
- Đủ lâu: Con đường lên tới vùng trí nhớ của trẻ bại não khó khăn trắc trởhơn nhiều so với trẻ thường Do đó, khi dạy bé điều gì, giáo viên phải kiên nhẫntập cho bé đến khi bé có thể thực sự hiểu và ghi nhớ điều ấy; luôn phải ôn đi ônlại tới khi nào bé có thể sử dụng được kiến thức đã học
4 Vận động não.
Là quá trình lâu dài và cơ bản cho đến khi bé phục hồi hẳn
4.1 Chương trình học toán.