Kênh dữ liệu CAN CAN bus khởi đầu được dùng cho các hệ thốngnhúng, và như tên đã bao hàm ý là một công nghệ mạng cung cấp truyền thôngtin nhanh chóng trong các vi điều khiển theo yêu cầu
Trang 1Luận văn
Đề tài: Tìm hiểu hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển CAN-MPX trên ôtô Ứng dụng máy chẩn đoán lỗi
để kiểm tra và chẩn đoán lỗi trên ôtô
Trang 2Nhưng năm gần đây xe ô tô ở Việt Nam bắt đầu được sử dụng rộng rãi,
số lượng ô tô hiện đại sử dụng công nghệ đánh lửa điện tử ngày càng nhiều Nhờvào hệ thống phun xăng, đánh lửa điện tử và hoạt dộng của các cảm biến dẫn tớiviệc điều khiển xe ngày càng dễ dàng hơn Mặt khác nó cũng đề ra thách thứckjhi sử lý sự cố hỏng hóc của các dòng xe này, một mặt nữa là các trang thiết bịsửa chữa còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ của người kỹ thuật chưa cao và cónhiều hạn chế về ngoại ngữ trong vấn đề tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuậtnước ngoài
Qua quá trình học tập và làm đồ án tốt nghiệp chúng em nhận thấy rằng
hệ thống đánh lửa điện tử sử dụng trên ô tô có nhiều ưu điểm vượt trội so vớicác hệ thống thông thường trước đó như: công suất được nâng cao, khí thải rasạch sẽ hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn…
Với mục đích giúp sinh viên có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo vàcủng cố kiến thức đã học đào sâu và tìm tòi nghiên cứu về kiến thức chuyênmôn về nguyên lý, cấu tạo hệ thống điều khiển nâng cao hiểu biết cơ sở lý luận
chuyên nghành ô tô em đã chọn đề tài: ” Tìm hiểu hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển CAN-MPX trên ôtô Ứng dụng máy chẩn đoán lỗi để kiểm tra và chẩn đoán lỗi trên ôtô ” với 3 chương:
Chương 1: Sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp ô tô
Chương 2: Tìm hiểu cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống kết nối
thông tin điều khiển CAN-MPX trên xe ô tô
Trang 3Chương 3: Ứng dụng của máy chẩn đoán lỗi để kiểm tra và chẩn đoán lỗi
trên ô tô
Sau một thời gian tìm tòi nghiên cứu thực hiện đồ án chúng em đã hoànthành Nhưng do thời gian không có nhiều và sự hạn chế về trình độ chuyênmôn nên đồ án không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhà trường cùngcác thầy cô và các bạn góp ý để đồ án được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn nhà trường, các thầy cô trong Khoa
Công nghệ Kỹ thuật Ô tô và thầy giáo Phạm Trọng Phước đã dạy dỗ chỉ bảo
hướng dẫn tận tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tạitrường và giúp em hoàn thành đồ án này!
Hà Nội, ngày … tháng…….năm 2013
Sinh viên thực hiện: 1 - Phạm Văn Hiếu
2 - Bùi Văn Linh
Trang 4Chương 1: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP
Ô TÔ
1.1 Lịch sử hình thành công nghệ ô tô thế giới và đặc điểm, vai trò của ngành ô tô
1.1.1 Sự ra đời của nghành công nghệp ô tô thế giới
Cùng với các nhu cầu về “ăn”, “mặc”, “ở”, thì “đi lại” là một trong bốnnhu cầu cần thiết của con người trong sinh hoạt hàng ngày Từ việc mong muốnsao cho đi lại được tiện lợi hơn, nhanh hơn, đỡ tốn sức hơn, nhân loại đã sángtạo ra nhiều loại phương tiện khác nhau như: xe ngựa, xe đạp, xe điện, máy bay,
… Với ưu điểm tốc độ di chuyển cao, cơ động, không tốn sức, ô tô đã trở thànhphương tiện hữu ích ở tất cả các quốc gia trên thế giới và là phương tiện khôngthể thiếu của người dân các nước công nghiệp phát triển
Năm 1820 ở Đức, lần đầu tiên người ta nhìn thấy một chiếc xe chuyểnđộng bằng động cơ hơi nước Chiếc xe vừa to vừa thô kệch lại tuôn ra nhiềukhói nên đã không dược chấp nhận Cho đến năm 1885 chiếc ô tô chạy bằngđộng cơ xăng đầu tiên ra đời do một người Đức có tên là Karl Vesh phát minh.Chiếc ô tô chạy băng động cơ xăng này đã thực sự trở thành phương tiện mangtính thực dụng Nhưng thời đó, ô tô vẫn bị coi là những cỗ máy thô kệch, là nỗikinh hoàng của người đi đường và nó không thể sánh được với những cỗ xengựa sang trọng
Năm 1892, tại một cuộc triển lãm ở Chicago (Mỹ) đã xuất hiện một chiếc
ô tô chạy bằng động cơ đốt trong, có bốn bánh và hàng loạt tính năng kỹ thuậtmới như hệ thống đánh lửa bằng điện, bộ bơm dầu tự động Phát minh này làcủa ông Iacốplép, một kỹ sư cơ khí quân đội Nga, và nó đã được thử nghiệmthành công Chiếc xe có thể chạy với tốc độ 20 km/h Ngay sau đó, Nga hoàng
đã ban sắc lệnh về quy chế và các điều kiện để sử dụng các loại xe có dộng cơ tựvận hành ở nước Nga Điều đó có nghĩa là xe ô tô, bằng hiệu quả thực tế của nó,
đã trở thành loại phương tiện của giai cấp đặc quyền và những người giàu có
Đa số các nhà sản xuất ô tô thời kỳ đó đều muốn làm sao sản xuất ra được nhiều
Trang 5xe có chất lượng cao mà giá thành thấp Mục tiêu đó đã được thực hiện và một
kỷ nguyên mới của ô tô bắt đầu: Sản xuất dây chuyền và ô tô “nhân dân”
Vào năm 1902 ở Pháp, ô tô “Popula” ra đời, người ta gọi là xe nhân dân.Đây mới chỉ là tên gọi, phải ba năm sau xe Popula mới thực sự đi vào đời sốngcủa tầng lớp bình dân Ở Mỹ, có một nhà sản xuất tên là Ranson Onsu cũngquan tâm đến việc sản xuất những chiêc ô tô dành cho quần chúng và hàng năm
đã có khoảng từ 3.000 dến 4.000 chiếc xe mang nhãn hiệu Onsu được tung ra thịtrường Nhằm mục đích quảng cáo, hãng này cho phép mọi người vào thamquan nhà máy của họ Trong số những người tham quan có một người thườngxuyên có mặt, đó là Henry Ford Đến năm 1903, sau một thời gian dài chuẩn bị,Henry Ford đã cho ra đời chiếc xe rẻ tiền đầu tiên của mình với giá 1.000 $ Lúc
đó người Mỹ đang chuộng loại xe Cadillac hay Pascal với giá thành rất cao Họcho rằng những chiếc xe của Ford là để dành cho những kẻ bất hạnh vì ngườimua chiếc xe với giá 1.000 $ là kẻ không may Nhưng Henry Ford đã thànhcông nhờ những “kẻ bất hạnh” vì họ rất đông Đến cuối năm 1928, hãng Ford đãcho ra đời chiếc xe thứ 15 triệu và Henry Ford trở thành người giàu có nhấttrong ngành sản xuất ô tô thế giới Ông có công rất lớn trong việc tạo ra nhữngdây chuyền sản xuất xe hơi, biến những chiếc xe ô tô thành phương tiện đi lạicho người dân Cơ cấu của dây chuyền này được chia ra làm nhiều khâu để lắpráp và như vậy tốc độ lắp ráp đã tăng lên khoảng 500 lần so với trước và giá cảtheo đó cũng giảm đi nhiều
Trên thế giới trong lịch sử phát triển ô tô không thể không kể đến nướcNga Tình hình sản xuất ô tô của Nga vao những năm 20 của thế kỷ hầu nhưchưa có gì Chỉ có vài cơ sở sản xuất của Nga lúc đó nhập các loại khung xe, cácchi tiết máy, sau đó hoàn thiện tại nhà máy cơ khí mang tên Piôt Alêchxây Evic
và đó là cơ sở hình thành các xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô đầu tiên Năm
1945, nhà máy sản xuất ô tô Gaz đã tung ra loại xe mới có tên ”Chiến thắng” vớiđộng cơ gây được sự chú ý và giá rẻ Năm 1960, chính phủ Italia đã ký kết hiệpđịnh với chính phủ Liên Xô (cũ) về việc sản xuất loại xe ô tô rất nổi tiếng làLada Vào thập kỷ 70 ở Liên xô, ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh, mỗi
Trang 6ngày bình quân có khoảng vài trăm chiếc ô tô được xuất xưởng và mỗi năm lại
có một kiểu ô tô mới ra đời
Cùng thời gian đó, Nhật Bản, một nước bại trận nhưng đã phát triển kinh
tế với một tiềm lực phi thường Người Nhật Bản sang Mỹ để học kinh nghiệmchế tạo ô tô và họ đã thành công, trở thành một trong những nước có ngành côngnghiệp ô tô phát triển nhất thế giới
Ngày nay, sản xuất ô tô đã trở thành một ngành công nghiệp chủ yếu củathế giới Công nghiệp ô tô được đánh giá là bộ mặt cho nền công nghiệp mỗiquốc gia Tổng số ô tô trên thế giới hiện nay khoảng 660 triệu xe Số lượng nàyhầu như không tăng giảm trong nhiều năm gần đây và sản lượng ô tô thế giớigần như ổn định quanh con số khoảng 50 -52 triệu xe/năm, tập trung vào 3 trungtâm công nghiệp lớn là Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Tuy nhiên, trong nhữngnăm gần đây, Đông Nam Á và Châu Á cũng đang nổi lên và có xu hướng là mộttrung tâm công nghiệp ô tô của thế giới trong tương lai (đáng kể là Hàn Quốc,Thái Lan và Trung Quốc) Các hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới hiện nay là:TOYOTA, FORD, CHRYSLER, GM, VW, FIAT, NISSAN, MISUBISHI,PEUGEOT,…
Ngày nay sản xuất ô tô đã mang tính quốc tế và toàn cầu, sự hợp tác vàchuyên môn hoá sản xuất không có biên giới, khoảng cách địa lý và không gianhầu như không có ý nghĩa Sự đầu tư của các nước đan xen nhau và hoà lẫnnhau Điều đó giải thích một phần cho sự thâm nhập ồ ạt của các hãng sản xuất
ô tô hàng đầu thế giới vào Việt Nam thời gian qua
1.1.2 Đặc điểm của ngành công nghiệp ô tô.
1.1.2.1 Về vốn đầu tư.
So với vốn đầu tư vào đại bộ phận các ngành công nghiệp khác, vốn đầu
tư vào sản xuất ô tô cao hơn rất nhiều, trung bình để sản xuất một xe ô tô cầnkhoảng 15.000-20.000 USD Mỗi ô tô có đến 20.000 -30.000 chi tiết, bộ phậnkhác nhau Các chi tiết, bộ phận lại được sản xuất với những công nghệ có đặcđiểm khác biệt, do vậy vốn đầu tư cho việc sản xuất 20.000- 30.000 chi tiết thường rấtlớn
Trang 7Thêm vào đó, do đặc điểm của ngành là không ngừng vận dụng các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất Vì thế, ngoài các khoản chi phí ban đầu bao gồm chiphí xây mới nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật, đào tạo công nhân lànhnghề,…và các khoản chi thường xuyên như mua nguyên vật liệu, bảo dưỡng nhàxưởng, máy móc, bảo quản hàng hoá,…thì chi phí cho công tác nghiên cứu vàtriển khai (R&D) trong lĩnh vực ô tô cũng chiếm một phần đáng kể trong tổngvốn đầu tư ban đầu và tăng thêm
1.1.2.2 Về công nghệ kỹ thuật.
Đây là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Một sảnphẩm ô tô được tung ra trên thị trường là sự kết hợp của hàng nghìn, hàng vạnchi tiết các loại, không giống nhau Mỗi chi tiết đều có những tiêu chuẩn kỹthuật riêng và được chế tạo theo phương pháp riêng ở những điều kiện khácnhau nhưng vẫn đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm Khi công nghiệp ô tô pháttriển, xuất hiện nhiều chi tiết vượt quá khả năng thao tác của con người, yêu cầuphải có sự trợ giúp của máy móc kỹ thuật Máy móc kỹ thuật càng hiện đại cànggiảm bớt sự nặng nhọc và nguy hiểm; nhưng điều quan trọng hơn là dưới sựđiều khiển của con người, những máy móc hiện đại có thể chế tạo và lắp ráp cácchi tiết thành sản phẩm cuối cùng với xác suất sai sót không đáng kể
1.1.2.3 Về lao động.
Hiện nay, ngành sản xuất ô tô không còn sử dụng một số lượng lớn laođộng như thời kỳ trước và như một số ngành sản xuất vật chất khác (lương thực,dệt may, khai khoáng,…) do đã áp dụng nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật.Trong phần lớn các nhà máy lắp ráp ô tô trên thế giới, người ta ít thấy bóng dángcon người, công việc sản xuất đều do các rôbôt đảm nhận, con người chỉ điềukhiển máy móc chính Do vậy, số lượng lao động làm việc trong ngành khôngcao Thêm vào đó, để có thể sử dụng thành thạo các máy móc hiện đại, nhữngngười công nhân phải có tay nghề cao, được đào tạo bài bản, đòi hỏi có chi phílớn và thời gian dài cho đào tạo Mặc dù ưu thế của các nước đang phát triển là
có nguồn nhân công dồi dào với tiền công thấp nhưng hạn chế lớn trong ưu thếnày lại là chất lượng nguồn lao động không cao
Trang 8Vì vậy, có thể khẳng định ngành không tận dụng được nhiều lợi thế sosánh về nguồn lao động của các nước đang phát triển (dồi dào về số lượng, chiphí nhân công thấp) Thêm vào đó có thể thấy được đây là một khó khăn lớn chocác nước đang phát triển trong quá trình xây dựng và phát triển ngành côngnghiệp ô tô bởi đây là một ngành khá mới mẻ, kiến thức nghề nghiệp và kinhnghiệm của người công nhân còn non.
1.1.3 Vai trò của nghành.
Bên cạnh vai trò cung cấp phương tiện đi lại tối ưu, từ việc gắn chặt vớicác tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghiệp ô tô còn đóng vai trò thúc đẩy pháttriển khoa học kỹ thuật của các quốc gia có ngành sản xuất ô tô, đặc biệt là khoahọc điện tử, tự động hoá, công nghệ vật liệu mới Sở dĩ như vậy là do nguồn gốcxuất xứ của các sản phẩm ô tô là từ các nước công nghiệp phát triển Đứng trướcnhu cầu ngày càng cao của các khách hàng khó tính, các hãng sản xuất khôngngừng đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm để nắm chắc và pháttriển thị phần của mình Chiếc ô tô đầu tiên xuất hiện vào năm 1885 ở Đức, chạybằng động cơ xăng bị cho là những cỗ máy thô kệch, là nỗi kinh hoàng củangười đi đường đã buộc các nhà khoa học phải nghiên cứu một sản phẩm khác
và năm 1892 chiếc ô tô chạy bằng động cơ đốt trong đã ra đời Còn đối với cácnước có nền kinh tế ít phát triển thì việc xây dựng ngành công nghiệp ô tô từ sựtrợ giúp của nước ngoài đã thúc đẩy tiến bộ trong kỹ thuật và công nghệ khôngchỉ cho riêng ngành công nghiệp ô tô mà còn tác động đến nhiều ngành liênquan khác như ngành hoá chất, điện tử,…Tính đến cuối thế kỷ XX, thế giới cókhoảng 170 nước có công nghiệp chế tạo hoặc lắp ráp ô tô, vì các quốc gia đềuhiểu và xác định được ngành sản xuất ô tô là động lực phát triển cho các ngànhliên quan Hiện ngành đang tiêu thụ 77% cao su tự nhiên, 67% sản lượng chì,64% gang đúc, 50% cao su tổng hợp, 40% máy công cụ, 25% vật liệu bán dẫn,18% nhôm, 12% thép và một số lượng khổng lồ các nhiên liệu gồm: xăng, dầudiesel, dầu nhờn,…Ngoài ra, cứ 1 đồng vốn cho sản xuất ô tô của thế giới thìphải đầu tư 8 đồng vốn cho các ngành công nghiệp phụ cận và bình quân cứ 7chỗ làm việc thì có 1 người thuộc lĩnh vực lắp ráp & chế tạo ô tô
Trang 91.2 Sự ra đời của ngành công nghệp ô tô, tình hình cung cấp, tiêu thụ ô tô ở Việt Nam
1.2.1 Sự ra đời của ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam.
Từ cuối những năm 60, sản xuất ô tô vẫn chỉ là mơ ước của ngành cơ khíViệt Nam Định hướng xây dựng công nghiệp ô tô trong thời kỳ này là đi từ sảnxuất phụ tùng cơ bản rồi nâng dần lên sản xuất ô tô hoàn chỉnh đã sớm bộc lộtính không hiện thực Như vậy, có thể nói từ năm 1991 trở về trước, Việt Namchưa có ngành công nghiệp lắp ráp và chế tạo ô tô Mặc dù lúc đó cũng đã cómột vài nhà máy mang tên “Nhà máy ô tô” nhưng thực chất hoạt động ở nhữngnơi đây chỉ là sửa chữa, bảo dưỡng, tân trang một số bộ phận nào đó hoặc chếtạo theo mẫu những chi tiết mau hỏng của ô tô Trang thiết bị được đầu tư vàođây rất ít ỏi, phần lớn là các loại máy chuyên dùng đơn giản, trình độ kỹ thuậtthấp như: Máy rà su-páp, máy doa xi lanh, máy thử công suất động cơ,… Xe ô
tô sử dụng trong thời kỳ này chủ yếu của Liên Xô (cũ), Trung Quốc và một sốnước Đông Âu
Tháng 6 /1991 Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép cho một số công tyliên doanh lắp ráp ô tô đầu tiên: Công ty LD MEKONG có công suất thiết kế10.000 xe/ năm Ngay sau đó, công ty này đã xây dựng tại thành phố Hồ ChíMinh một nhà máy lắp ráp dạng CKD công suất 10.000 xe/ năm, năm 1992 mộtnhà máy nữa của công ty lại ra đời tại khu vực Cổ Loa, Đông Anh- Hà Nội đểlắp ráp xe cỡ trung và cỡ lớn, công suất 20.000 xe/ năm Cũng thời gian này,tháng 8/1991, công ty liên doanh VMC của nhà máy ô tô Hoà Bình với côngsuất thiết kế 10.900 xe/ năm cũng được phép hoạt động Tuy là 2 liên doanhhoàn toàn không có tên tuổi trong công nghiệp ô tô thế giới, ít vốn, năng lựccông nghệ và kỹ thuật còn thấp, nhưng thực sự đã mở đầu cho công nghiệp ô tôViệt Nam và tạo nên sức hấp dẫn cho các hãng ô tô hàng đầu thế giới đầu tư vàoViệt Nam sau khi Mỹ bỏ cấm vận vào giữa năm 1995 Cũng cần phải nói thêmrằng ở thời điểm 1991, không một hãng ô tô có uy tín nào muốn đầu tư vào ViệtNam để sản xuất, lắp ráp Nhưng mới chỉ sau 5 năm, đến tháng 9/1996 trên toàn
Trang 10quốc, chúng ta đã có tới 14 công ty liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô hợp tác vớihầu hết các hãng nổi tiếng thế giới
Mục tiêu lâu dài của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được xác địnhtrong Quy hoạch tổng thể ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010 là xây dựngngành công nghiệp ô tô Việt Nam tiên tiến, hoàn chỉnh để Việt Nam có thể chếtạo lấy các loại ô tô cơ bản phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, với tỷ lệ chếtạo nội địa hoá khoảng 40% vào năm 2010 cho ô tô và 30% cho phụ tùng
1.2.2 Tình hình cung cấp ô tô nước ta.
Ô tô nước ta được cung cấp từ hai nguồn chính là nhập khẩu và do cácliên doanh lắp ráp và chế tạo ô tô trong nước cung cấp
Công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô Việt Nam thời gian qua phát triểnchậm nhưng cũng đã sản xuất ra nhiều sản phẩm, thay thế gần như toàn bộ sốlượng xe ô tô cũ kỹ của Đông Âu trước đây Nhiều kiểu mẫu xe tiên tiến đangthịnh hành ở các nước công nghiệp phát triển như Iveco Turbo Daily, BMW325i, Mitsubisshi Pajero, Ford Laser, Toyota Camry,…đã được các nhà sản xuất
ô tô liên doanh với Việt Nam đưa vào nước ta, đáp ứng phần nào nhu cầu cácloại xe du lịch cho các cơ quan, công sở và các quan chức Nhà nước
Tính đến hết ngày 30/6/2002, chúng ta có 11 đơn vị hoạt động trong lĩnhvực lắp ráp và chế tạo ô tô (mặc dù có 14 dự án lắp ráp ô tô được cấp giấy phépđầu tư tại Việt Nam nhưng có 3 dự án không triển khai là Chrysler, Nissan,Viet-Sin; Chrysler và Viet-Sin bị giải thể theo quyết định ra ngày 6/7/2000 vàngày 18/12/2000, riêng Nissan dãn tiến độ đến 2003) và cả 11 cơ sở này đều làliên doanh Tổng sản lượng ô tô tại Việt Nam tính từ ngày cấp giấy phép đầu tưđầu tiên là 68.196 xe với nhiều loại xe khác nhau Sản lượng bình quân năm củamỗi liên doanh là 1300/năm và mỗi loại xe sản xuất tại Việt Nam chỉ có sảnlượng bình quân là 378 xe/năm Trong khi đó với số chủng loại xe này nếu đượcsản xuất ở 1 số nước khác trong khu vực thì sản lượng của họ gấp nhiều lần củaViệt Nam, ví dụ sản lượng ô tô năm 1992 của Hàn Quốc là 1.754.500 xe Điềunày cho thấy sự nhỏ bé về quy mô sản xuất của ngành công nghiệp ô tô nước ta
Trang 11Khi so sánh với quy mô bình quân của ASEAN thì quy mô sản xuất của các nhàsản xuất ô tô Việt Nam mới chỉ bằng 1%
Bảng 1.2: Sản lượng sản xuất của 11 liên doanh lắp ráp và chế tạo ô tô Việt Nam
Nguồn: Bộ Công nghiệp
1.2.3 Tình hình tiêu thụ ô tô ở Việt Nam.
Từ đầu thập kỷ 90 đến nay (1990-2001) lượng ô tô nhập khẩu và đăng kýmới ở nước ta ngày càng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước và năm 2001 lànăm đỉnh cao (tăng 46.121 xe ô tô so với năm 2000) Từ năm 1990 đến năm
1995 toàn quốc đăng ký mới tổng số 113.502 xe ô tô, như vậy trong 6 năm này,bình quân mỗi năm tăng 18.917 xe ô tô Từ năm 1996 đến năm 2001, do có sựgia tăng nhu cầu đi lại và mức sống của nhiều cá nhân, gia đình Việt Nam đượcnâng cao hơn trước nên số lượng tiêu thụ ô tô ở thị trường nước ta tăng mạnh:Toàn quốc đăng ký mới tổng số 191.979 xe ô tô Như vậy trong 6 năm này,bình quân mỗi năm tăng 31.996 xe ô tô, tăng gần gấp đôi so với 6 năm trước đó.Riêng trong 3 tháng đầu năm 2002, toàn quốc đăng ký mới 13.602 xe ô tô, nângtổng số xe hiện có trong cả nước lên 547.791 xe ô tô
Cho đến nay, mặc dù Nhà nước đã có chính sách hạn chế và cấm nhậpkhẩu xe nguyên chiếc để dành thị trường nội địa cho các liên doanh lắp ráp vàchế tạo ô tô trong nước song số lượng xe được tiêu thụ là xe nhập khẩu vẫnchiếm tỷ trọng lớn
Trang 12Bảng 1.3: Lượng ô tô lưu hành tại Việt Nam từ 1996 đến 2001
1996 1997 1998 1999 2000 2001 0
1.3 Xu hướng phát triển của ngành
Hiện nay ngành công nghiệp ô tô đang chú trọng đến các loại xe thânthiện với môi trường, sử dụng các nguồn nhiên liệu sạch, có sẵn trong tự nhiênhay nguồn nhiên liệu sinh học, các loại xe sinh thái tiết kiệm nhiên liệu…
Dưới đây là một số hình ảnh của một số loại xe đang được thế giới quantâm và chú trọng:
Trang 13Hình 1.5 Xe năng lượng mặt trời
Hình 1.6 Xe điện
Trang 14Hình 1.7 Xe nhiên liệu sinh học
Hình 1.8 Xe chạy bằng hidro
Trang 15Chương 2: CẤU TẠO, NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA HỆ THỐNG MẠNG KẾT NỐI THÔNG TIN ĐIỀU KHIỂN CAN-MPX TRÊN Ô TÔ
2.1 Khái quát chung về hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển MPX trên ô tô
CAN-2.1.1 Khái quát chung về hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển CAN trên ô tô
2.1.1.1 Lịch sử phát triển của CAN
Hình 2.1 CAN được sử dụng cho ô tô
CAN viết tắt của Controller Area Network, tạm dịch là "mạng khu vựcđiều khiển", hay gọi đơn giản Mạng CAN, là một công nghệ mạng ghép nối tiếpkhởi nguồn được thiết kế dùng cho công nghiệp xe ô tô, đặc biệt các loại xeChâu Âu Kênh dữ liệu CAN (CAN bus) khởi đầu được dùng cho các hệ thốngnhúng, và như tên đã bao hàm ý là một công nghệ mạng cung cấp truyền thôngtin nhanh chóng trong các vi điều khiển theo yêu cầu thời gian thực đang dầnthay thế cho công nghệ sử dụng bộ nhớ cổng đôi (Dual-Ported RAM) đắt đỏ vàphức tạp hơn nhiều
Ý tưởng của mạng CAN được nhóm kỹ sư tại GmbH Robert Bosch, Đức,
ấp ủ từ đầu thập niên 1980s Họ đã nghiên cứu thị trường cho một công nghệbus trường mới dùng trong xe ô tô mà có thể cho phép họ đưa thêm các chứcnăng vào nữa Họ tập trung chủ yếu vào hệ thống thông tin giữa các bộ điềukhiển điện tử trong xe hơi của hãng Mercedes-Benz
Trang 16Từ đó đến nay có nhiều nhá sản xuất linh kiện bán dẫn khác đã quyết địnhsản xuất loại bộ điều khiển CAN độc lập, hoặc thực hiện chúng trong nhữngthiết kế chíp đơn.
Một bước phát triển thành công CAN đáng kể khác là sự thành lập tồchức nhóm các nhà sản xuất và người sử dụng quốc tế, gọi là Hội CAN tự độnghóa (CiA = CAN in Automation) năm 1992, hoạt động của hội này dựa trên mốiquan tâm, tham gia và khởi xướng của các thành viên
Tóm tắt lịch sử CAN
1983: Bắt đầu dự án phát triển mạng trên xe hơi trong nội bộ hãng Bosch 1986: Chính thức giới thiệu giao thức CAN
1987: Những chíp điều khiển CAN đầu tiên xuất hiện ở nhà sản xuất linh
kiện bán dẫn Intle và Philips
1991: Bosch xuất bản thông số kỹ thuật CAN 2.0
1992: Thành lập nhóm các nhà sử dụng và sản xuất CAN quốc tế
1993: Xuất bản tiêu chuẩn ISO 11898
1994: CiA tổ chức Hội nghị CAN quốc tế lần thứ nhất (iCC)
1995: Xuất bản Tiêu chuẩn ISO 11898 sửa đổi định dạng khung mở rộng 1995: CiA xuất bản giao thức CANopen
2.1.1.2 Nguyên lý truyền thông tin của CAN
Trong một mạng CAN mỗi nút đều nhận tín hiệu ngay lập tức sau khichúng được phát ra theo trật tự gói dữ liệu thông báo Nguyên lý này cho phépkhả năng đáp ứng rất nhanh tới những dữ liệu không đồng bộ và nó nhận boeetsmức độ quan trọng của gói dữ liệu đang truyền trong thời gian vài mili giây, đây
là những yêu cầu mấu chốt đối với các dữ liệu thuộc bộ phận truyền lực và hộp
số tự động
Vì địa chỉ của gói dữ liệu đang truyền đều được tất cả các nút trên mạngnhận biết Bằng phương pháp lọc, từng nút chọn những thông báo có liên quanđến nó Có thể có tối đa 2048 gói thông báo trong mạng, nhờ địa chỉ được dành
11 bít trên gói dữ liệu như minh họa dưới đây
Trang 17Hình 2.2 Nguyên lý truyền thông tin trên mạng CAN
Vì cấu trúc đa hướng, truyền thông tin trên mạng CAN không thể đoántrước nó theo cơ chế ngẫu nhiên Những sự giao thoa của các gói dữ liệu thôngbáo có thể gây ra các rũi ro Nguy cơ rủi ro này sẽ tăng khi tăng gói dữ liệutruyền Để bảo đảm sự truyền dữ liệu không bị phá hủy và cung cấp thứ tự xử lý
là áp dụng tiện ích CSMA/CA (Carrier Sense Multiple Access with CollisionAvoidance- xử lý nhiều gói dữ liệu tránh xung đột)
Phương pháp CSMA/CA có vài hạn chế như: đường truyền chỉ hoạt độngkhi mạng sẵn sàng hoạt động Đường truyền không cho phép khi một khungCAN đang được truyền Những nút CAN muốn phát tín hiệu đi phải đợi chođến đường truyền trở lại trạng thái sẵn sàng Trong trường hợp có sự truy nhậpđồng thời, sự truy nhập sẽ quyết định truyền nhờ vào quyền ưu tiên được gántrong gói dữ liệu Trong ví dụ, nút 1 được truyền đầu tiên, rồi Nút 2 phát đi
Hình 2.3 Phương pháp truyền dữ liệu CSMA/CA
Trang 182.1.1.3 Lợi ích
Bộ xử lý không phá hủy cung cấp đường truyền trên cơ sở thiết yếu, vàcáclợi ích mang lại này không thể có từ các phương thức khác
Với việc tăng dung lượng của đường truyền cũng như tốc độ truyền, CAN
sẽ không bao giờ bị đổ sập hoặc bị nghẽn
Quá trình dữ liệu tiến hành theo độ ưu tiên của thông tin, thời gian chờngắn và sức tải của đường truyền lớn được rồi sau đó chuyển tiếp dữ liệu đi chomột máy khác để dữ liệu đó đi tới đích
2.1.2 Khái quát chung về hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển MPX trên ô tô
Hình 2.4 Minh họa cho phương pháp thông tin của MPX
Trong xe hơi hiện đại có rất nhiều các hệ thống sử dụng vi điều khiển, vi
xử lý Các hệ thống đó lại cần giao tiếp, trao đổi thông tin với nhau, trong những
xe hơi hiện đại số lượng ECU( có thể hiểu là một máy tính nhỏ) có thể lên tớivài chiếc cho tới "nhiều chục" chiếc như LEXUS LS Do đó phải có một mạngthông tin để các ECU này trao đổi thông tin với nhau Chính vì thế người ta đãnghĩ ra một mạng giao tiếp và đặt tên là MPX Và nói đến mạng thì phải nói đếngiao thức( cách thức chuyển giao dữ liệu), và MPX trên các xe hiện đại thì sửdụng CAN (Controler Area network) để chuyển giao dữ liệu do CAN có ưuđiểm vì tốc độ truyền dữ liệu cao và ít bị nhiễu
Trang 192.1.2.1 Đường truyền tín hiệu
Các cực của đường truyền tín hiệu dùng trong hệ thống MPX thườngđược ký hiệu là MPX1, MPX2…Khi tranzitor được bật lên, mức truyền dẫn sẽtrở nên cao = “1” Điều này được gọi là trạng thái Trội Khi Tranzistor tắt đi,mức truyền dẫn trở nên thấp= ‘’0’’ Đây được gọi là trạng thái Lặn Nếu có bất
kỳ một Nút được nối với đường truyền tín hiệu phát ra “1”, mức tín hiệu truyềndẫn sẽ là “1” Chỉ khi tất cả các nút phát tín hiệu “0” sẽ làm cho mức tín hiệutruyền dẫn là “0” (Nút mà phát ra tín hiệu “1” trước những nút khác.)
Trạng thái Trội: Trạng thái của đường truyền là trội (hay Chủ động 1trong hệ thống BEAN
Trạng thái Lặn: Trạng thái của đường truyền là “Lặn” (hay Thụ động 0trong hệ thống BEAN
Các chức năng của đường truyền trong quá trình truyền và nhận tín hiệu
2.1.2.2 Các loại hệ thống truyền tín hiệu
Hình 2.5 Tín hiệu tương tự và tín hiệu số
Trang 20BEAN (Body Electronics Area Network -Mạng Điện Tử Thân Xe): Tốc
độ truyền: 10 kbps (bps: bit trên giây) Hệ thống này được dùng cho hệ thốngMPX trong các hệ thống điều khiển của xe
Truyền một chiều: Tốc độ truyền: 1000 bps Thực hiện truyền tín hiệugiữa công tắc chính cửa sổ điện và ECU thân xe Đây chỉ là việc giao tiếp mộtchiều đến ECU định trước do hệ thống truyền tín hiệu một chiều
AVC-LAN (Audio Visual Communication - Local Area Network [Truyềntín hiệu cho hệ thống nghe nhìn - Mạng cục bộ]): Tốc độ truyền: 17 kbps Hệthống này được sử dụng để truyền tín hiệu cho hệ thống âm thanh, hệ thống dẫnđường…
UART (Universal Asynchronous Receiver/Transmitting-Truyền/Nhận dữliệu nối tiếp không đồng bộ): Tốc độ truyền: 9600 - 19200 bps Hệ thống nàyđược dùng trong việc truyền tín hiệu giữa các ECU có liên quan đến việc điềukhiển xe: giữa ECU động cơ và ECU điều khiển trượt, ECU động cơ và ECUcủa xe HV (xe dùng động cơ lai) v.v
Truyền dữ liệu nối tiếp: Tốc độ truyền: 333bps Hệ thống này được dùngtrong việc truyền tín hiệu giữa bộ nhận tín hiệu điều khiển khóa cửa điện vàECU thân xe
Truyền dữ liệu thông minh: Tốc độ truyền: 125 kbps Hệ thống này đượcdùng trong việc truyền tín hiệu giữa các ECU động cơ bên trái và ECU động cơbên phải
Đơn vị của tốc độ truyền tín hiệu: Tốc độ truyền thông tin giữa 2 cựcđược gọi là tốc độ truyền Nó biểu diễn số bít truyền trong 1 giây Ví dụ, nếutruyền 100 bít trên giây, tốc độ tín hiệu là 100 bps
BEAN là một chuẩn (giao thức) thông tin đa chiều mà được thiết lập đểtruyền dữ liệu giữa các ECU điều khiển những thiết bị điện hay điện tử Chuẩn(giao thức): Chuẩn hay giao thức là những quy tắc cần thiết để quản lý việctruyền tín hiệu giữa các loại thiết bị và máy tính khác nhau Chúng quy định cáctrạng thái khác nhau, như phần cứng và phần mềm, cho việc truyền tín hiệu
Trang 21Cấu trúc thông điệp của hệ thống BEAN: Thông điệp của BEAN bao gồm
“Bắt đầu mẫu tin” và “Kết thúc mẫu tin” Để tăng hiệu quả truyền, còn có nhữngthông tin “Truyền định kỳ” được truyền theo chu kỳ và “Truyền không định kỳ”
nó được truyền khi có điều gì đó xảy ra
2.2 Điểm điểm cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển CAN-MPX trên ô tô
2.2.1 Điểm điểm cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển CAN
Ngoài việc sử dụng BEAN - Mạng điều khiển điện tử thân xe và LAN - mạng cục bộ cho hệ thống nghe nhìn, từ năm 2003, hệ thống MPX đãứng dụng CAN để điều khiển các hệ thống điều khiển điện gầm xe
AVC-Hình 2.6 Sơ đồ vị trí các bộ phận của CAN
Sơ đồ bố trí các bộ phận của CAN trên xe RX330, CAN bao gồm nhữngchi tiết sau, vị trí của chúng được biểu diễn trong hình vẽ:
CAN J/C (Hộp giắc nối) No.1
Trang 222.2.1.1 Khái quát
Hinh 2.7 Sơ đồ mạch điện CAN
CAN bao gồm giắc kết nối tạo nên đường truyền chính và các đườngtruyền phụ nối các ECU và cảm biến với nhau Đường truyền chính có một điệntrở ở cuối đường để tạo độ ổn định cho mạch
CAN trong xe RX330 được trang bị giữa ECU điều khiển trượt, cảm biến
vô lăng, cảm biến độ lệch và cảm biến gia tốc dọc và DLC3
CAN sử dụng một cặp dây xoắn làm đường truyền có dây dương và dâyâm
Một DTC cho lỗi liên lạc của CAN được phát ra đến máy chẩn đoán từ DLC3qua đường truyền kết nối để chẩn đoán ECU điều khiển trượt DLC3 được trang
bị bằng các cực CAN-H và CAN-L để chẩn đoán
Hình 2.8 Đường dây liên lạc của CAN
Trang 232.2.1.2 Đường dây liên lạc
Một dây AV đơn (dây nhựa ôtô) được dung cho liên lạc BEAN, một cặpdây xoắn được dùng cho liên lạc của CAN và AVC-LAN
Dây AV đơn: Đây là một dây dẫn đơn có khối lượng nhẹ nó có chứa mộtdây đồng bao quanh bởi lớp cách điện Điện áp đợc cấp đến dây này để dẫnđộng hệ thống liên lạc, và hệ thống này được gọi là “Dẫn động điện áp một dâyđơn”
Cặp dây xoắn: Trong dây liên lạc loại này, một cặp dây được xoắn vàonhau và bọc bằng lớp cách điện Việc liên lạc được dẫn động bằng cách cấp điện
áp dương (+) và điện áp âm (-) đến 2 dây dẫn để gửi một tín hiệu đơn Hệ thốngnày, được gọi là “dẫn động điện áp vi phân”, có thể giảm được nhiễu
Hình 2.9 Sự khác nhau giữa CAN BEAN và AVC-LAN
2.2.1.3 Sự khác nhau giữa CAN, BEAN và AVC-LAN
Chuẩn (những nguyên tắc) giữa CAN, BEAN và AVC-LAN:
Nếu các ECU sử dụng những loại dữ liệu khác nhau như tốc độ truyền dữliệu, dây liên lạc, và tín hiệu, chúng sẽ không thể hiểu được nhau Do đó, phảithiết lập chuẩn giữa chúng
Tốc độ liên lạc của CAN nhanh hơn nhiều so với BEAN và AVC-LAN.Khi hệ thống điều khiển gầm xe sử dụng BEAN và AVC- LAN với tốc độ liênlạc chậm hơn CAN, điều đó có nghĩa là việc điều khiển hệ thống bị chậm lại
Vì lý do đó, hệ thống điều Khiển gầm xe sử dụng CAN, nó có tốc độ liênlạc nhanh hơn và có thể gửi và nhận một lượng thông tin lớn cùng một lúc
Trang 24Hình 2.10 Bảng mã chẩn đoán hư hỏng CAN
2.2.2 Đặc điểm cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống mạng kết nối thông tin điều khiển MPX
Hình 2.11 Sơ đồ mạng kết nối MPX
2.2.2.1 Khái quát
Một đặc tính của ô tô hiện đại là sự phát triển việc điều khiển điện tử mộtcách nhanh chóng: Nhiều hệ thống khác nhau và điều khiển chính xác Vấn đềđặt ra là sự gia tăng mạnh của số lượng dây điện Để đối phó với điều này, mỗinhà sản xuất ô tô đã chủ động phát triển MPX (Multiplex CommunicationSystem) Một ECU điều khiển từng hệ thống mà đã được kết nối với nhau tạonên hệ thống MPX
Trang 25Hình 2.12 Mạng điều khiển không có MPX và có MPX
2.2.2.2 Ưu điểm
Việc áp dụng MPX mang lại những ưu điểm sau
Nó làm giảm số lượng dây điện
Việc chia sẻ thông tin cho phép giảm số lượng công tắc,cảm biến và bộchấp hành
Do ECU nằm gần công tắc và cảm biến sẽ đọc thông tin của tín hiệu vàtruyền tín hiệu đến các ECU khác, chiều dài của dãy điện có thể rút ngắn lại.Dưới đây là sơ đồ truyền thông tin nối tiếp của MPX
Hình 2.13 Sơ đồ truyền thông tin nối tiếp của MPX
Trang 263: Mở rộng đến 11 ECU để hỗ trợ máy chẩn đoán.
4: Mở rộng đến 28 ECU và áp dụng hệ thống thông tin thân xe nhiềuđường truyền và ECU trung tâm
2.2.2.4 Mô tả
Khái niệm MPX là một hệ thống trong đó có nhiều ECU được kết nối vớinhau bằng một đường truyền tín hiệu đơn (đường truyền) và dữ liệu hay tinnhắn được truyền giữa các ECU qua đường truyền này Để áp dụng MPX,Toyota đã phát triển một chuẩn thông tin liên lạc mới tên là BEAN (BodyElectronics Area Network - Mạng điện tử thân xe) Hãy lưu ý rằng một bộ điềukhiển độc lập (ECU) được nối với đường truyền gọi là một “điểm nút” trongMPX
Điểm nút: Khái niệm này có nghĩa ban đầu là “giao điểm” và để cho biếtmột cấu trúc lôgic của mạng Một mạng máy tính bao gồm nhiều cổng và thiết
bị “Điểm nút” sẽ số hỏi các bộ phận này và quyết định cấu trúc hay chức năng.Trong mạng thông tin đa chiều, “Nút” có nghĩa là ECU
Trang 27Hình 2.15 Đường truyền tín hiệu của MPX
Đường truyền tín hiệu
Các cực của đường truyền tín hiệu dùng trong hệ thống MPX thườngđược ký hiệu là MPX1, MPX2 v.v Khi tranzitor đựợc bật lên, mức truyền dẫn
sẽ trở nên cao = “1” Điều này đợc gọi là trạng thái Trội Khi Tranzistor tắt đi,mức truyền dẫn trở nên thấp= ‘’0’’ Đây đợc gọi là trạng thái Lặn
Nếu có bất kỳ một Nút được nối với đường truyền tín hiệu phát ra “1”,mức tín hiệu truyền dẫn sẽ là “1” Chỉ khi tất cả các nút phát tín hiệu “0” sẽ làmcho mức tín hiệu truyền dẫn là “0” Nút mà phát ra tín hiệu “1” trước những nútkhác
Trạng thái trội: Trạng thái của đường truyền là “trội” hay “Chủ động” “1”trong hệ thống BEAN
Trạng thái lặn: Trạng thái của đường truyền là “Lặn” hay “Thụ động” “0”trong hệ thống BEAN
Các chức năng của đường truyền trong quá trình truyền và nhận tín hiệu
Trang 28hiệu ACK hoặc NAK được phát ra) RSP, ACK, và NAK sẽ được giải thích sautrong phần “Chi tiết về thông điệp”
Trạng thái của đường truyền là “Lặn” (hay “Thụ động” “0” trong hệ thốngBEAN
Hình 2.16 Đường truyền trong quá trình truyền và nhận tín hiệu
2.2.2.5 Phương pháp truyền dữ liệu
Hình 2.17 Phương pháp truyền dữ liệu
Sơ đồ kết nối: MPX có ba kiểu kết nối là: kiểu bus ( tất cả các ECU đượcnối nhau bằng một đường truyền chung), loại vòng tròn ( tất cả các ECU đượcnối thành vòng tròn), và loại hình sao ( thiết kế với từng ECU nối trực tiếp vàoECU chủ, nó có chức năng điều khiển trung tâm) Dưới đây là sơ đồ minh họa:
Trang 29Hình 2.18 Sơ đồ kiểu kết nối của MPX
2.2.2.6 Các loại chuẩn truyền dữ liệu
Các phương pháp sau đây được dùng để truyền dữ liệu
(Toyota original)
CAN(ISO Standard)
Lin(ISO standard)Ứng dụng Body Eectrical Power train Body ElectricalTốc độ truyền 10 kbps 500 kbps(HS)
voltage
Differential Voltage Drive
Single Wire VoltageDrive
Hướng truyền
One-way andTwo- wayCommunications
Two-wayComunication
Two-way communication)
Hệ thống truy
cập
Trang 30(Multi Master) (Multi master) (Single Master
2.2.2.7 Đặc điểm chính của MPX
Mạch kết nối khép kín: Trong hệ thống BEAN, đường truyền tín hiệukhung ở dạng đường truyền thông thường mà ở dạng vòng tròn Kết quả là, độtin cậy ngăn ngừa mất tín hiệu đường truyền bị đứt được tăng lên Đường truyềnthông thường Nếu dây bị đứt, liên lạc giữa các ECU sau điểm đứt sẽ bị mất.Đường truyền BEAN Cấu trúc dạng mạch khép kín cho phép việc liên lạc đượctiếp tục bằng cách dựng đường truyền khác nếu đường truyền tín hiệu bịđứt
Nếu đường dây trong mạng bị đứt nhiều hơn một điểm, việc liên lạc
sẽ không thực hiện được
Hình 2.19 Chế độ nghỉ và sẵn sàng của MPX
Chế độ “Nghỉ” và “Sẵn sàng”: Khi sử dụng xe, MPX ở trong trạng thái
“Sẵn sàng”, tuy nhiên khi hệ thống nhận thấy rằng lái xe đó rời khỏi xe, nó sẽ
Trang 31dừng việc liên lạc giữa mọi điểm nút (ECU) để tránh dòng điện rò Trạng tháinày được gọi là “ trạng thái nghỉ” Lúc này, tất cả ECU ở trong chế độ tiết kiệmnăng lượng ngoại trừ chức năng “Phát hiện trạng thái sẵn sàng”.
Trạng thái nghỉ và sẵn sàng thay đổi như sau:
Khi hệ thống phát hiện thấy trạng thái mà lái xe đó rời khỏi xe, tất cả cácnút sẽ dừng việc liên lạc Trạng thái này được gọi là trạng thái Nghỉ
ECU trong hệ thống chuyển sang chế độ tiết kiệm năng lượng, ngoại trừchức năng phát hiện chế độ sẵn sàng
Khi đang ở chế độ nghỉ, nếu có bất kỳ công tắc có liên quan nào đượckích hoạt (Ví dụ, khi lái xe mở cửa hay mở khóa cửa bằng chìa) ECU phát hiệnthấy có hoạt động sẽ thoát khỏi chế độ tiết kiệm năng lượng và bắt đầu truyềntín hiệu trở lại
Tại thời điểm đầu tiên của quá trình truyền dữ liệu sau khi đó sẵn sàng, nó
sẽ gửi một thông báo “Sẵn sàng” đến các ECU khác để khôi phục hoạt động
Khi khóa điện được đặt ở vị trí ACC hay LOCK và tất cả các cửa đóng,
và một thời gian sau khi công tắc cuối cùng hoạt động, các ECU sẽ đồng thờichuyển sang chế độ Nghỉ Khi một ECU khôi phục từ chế độ Nghỉ, nó sẽ đánhthức các ECU khác
Hình 2.20 Truyền tín hiệu giữa ECU
2.2.2.8 Các loại hệ thống truyền tín hiệu
Các phương pháp sau đây được sử dụng để truyền tín hiệu:
Trang 32BEAN (Body Electronics Area Network -Mạng Điện Tử Thân Xe): Tốc
độ truyền: 10 kbps (bps: bit trên giây) Hệ thống này được dùng cho hệ thốngMPX trong các hệ thống điều khiển của xe
Truyền một chiều: Tốc độ truyền: 1000 bps Thực hiện truyền tín hiệugiữa công tắc chính cửa sổ điện và ECU thân xe Đây chỉ là việc giao tiếp mộtchiều đến ECU định trước do hệ thống truyền tín hiệu một chiều
AVC-LAN (Audio Visual Communication - Local Area Network-Truyềntín hiệu cho hệ thống nghe nhìn - Mạng cục bộ): Tốc độ truyền: 17 kbps Hệthống này được sử dụng để truyền tín hiệu cho hệ thống âm thanh, hệ thống dẫnđường v.v
UART (Universal Asynchronous Receiver/Transmitting -Truyền/Nhận dữliệu nối tiếp không đồng bộ): Tốc độ truyền: 9600 - 19200 bps Hệ thống nàyđược dùng trong việc truyền tín hiệu giữa các ECU có liên quan đến việc điềukhiển xe: giữa ECU động cơ và ECU điều khiển trợt, ECU động cơ và ECU của
xe HV (xe dùng động cơ lai) v.v
Truyền dữ liệu nối tiếp: Tốc độ truyền: 333 bps Hệ thống này được dựngtrong việc truyền tín hiệu giữa bộ nhận tín hiệu điều khiển khóa cửa điện vàECU thân xe v.v
Truyền dữ liệu thông minh: Tốc độ truyền: 125 kbps Hệ thống này đượcdùng trong việc truyền tín hiệu giữa các ECU động cơ bên trái và ECU động cơbên phải v.v
Tham khảo: Bps viết tắt của từ “Bits Per Second” (tốc độ truyền tín hiệu).Đơn vị của tốc độ truyền tín hiệu Tốc độ truyền thông tin giữa 2 cực được gọi làtốc độ truyền Nó biểu diễn số bít truyền trong 1 giây Ví dụ, nếu truyền 100 bíttrên giây, tốc độ tín hiệu là 100 bps
Trang 33Hình 2.21 Điện áp của đường truyền
2.2.2.9 Khái niệm về BEAN
Khái quát: BEAN là một chuẩn (giao thức) thông tin đa chiều mà đượcthiết lập để truyền dữ liệu giữa các ECU điều khiển những thiết bị điện hay điện
tử (Được sử dụng đặc biệt cho các sản phẩm của Toyota)
Chuẩn (giao thức): Chuẩn hay giao thức là những quy tắc cần thiết đểquản lý việc truyền tín hiệu giữa các loại thiết bị và máy tính khác nhau Chúngquy định các trạng thái khác nhau, như phần cứng và phần mềm, cho việc truyềntín hiệu
Cấu trúc thông điệp của hệ thống BEAN: Thông điệp của BEAN bao gồm
“Bắt đầu mẫu tin” và “Kết thúc mẫu tin” Để tăng hiệu quả truyền, còn có nhữngthông tin “Truyền định kỳ” được truyền theo chu kỳ và “Truyền không định kỳ”
nó được truyền khi có điều gì đó xảy ra
Chi tiết về thông điệp, truyền theo định kỳ và truyền không định kỳ củaBEAN:
Bảng chi tiết về thông điệp
Trang 34SOF Bắt đầu mẫu tin Bít khởi đầu
DST-ID ID của nơi nhận
Thông tin phổ biến (đến tất cả các
nút):$FEThông tin chung (đến tất cả các
nhóm):$D1-D3Thông tin riêng (đến một nút nào
đó): ID của từng nútMES-ID ID của thông
điệp
Nội dung của thông điệp
DATA Dữliệu Có chiều dài thay đổi (Được chỉ ra
bởi ML)CRC Kiểm tra chu kỳ
ACK khi bình thường(NAK)khi bất thườngEOF Kết thúc mẫu tin Báo rằng tất cả thông điệp đã kết
thúc
Lỗi nhận RSP (Reception error) và gửi lại: Nếu một nút ở đầu nhận pháthiện thấy lỗi trong thông điệp, lỗi đó sẽ được thông báo đến nút ở đầu truyềnbằng RSP Sau đó, nút truyền đó sẽ truyền lại thông điệp một lần nữa (đến 3 lầnbao gồm cả lần truyền ban đầu)
Trang 35Mã CRC (kiểm tra lỗi của dữ liệu phát đi): Một chuỗi dữ liệu từ PRI đếnDATA được thiết lập bằng số nhị phân Khi số nhị phân được chia bởi một đathức cố định (X8 + X4 + X +1) sẽ có một số d Mã CRC được biễu diễn bằng số
d đó Nếu số nhị phân của dữ liệu từ PRI đến CRC chia hết cho đa thức ở đầunhận (hay nói theo cách khác, số d bằng không), dữ liệu sẽ được đánh giá làbình thường
Hình 2.22 Truyền định kỳ và truyền không dịnh kỳ của BEAN
Truyền định kỳ và Truyền không định kỳ
Trong BEAN có 3 loại thời điểm truyền như sau:
Truyền định kỳ: Dữ liệu được truyền tại những chy kỳ nhất định Thờiđiểm truyền định kỳ (chu kỳ: t)
Truyền không định kỳ: Dữ liệu được truyền theo hoạt động của công tắc.Thời điểm truyền không định kỳ
Truyền kết hợp (Truyền định kỳ và không định kỳ): Khi công tắc được bật
ON, bộ định thời truyền định kỳ được đặt lại
2.2.2.10 Đặc điểm chính của BEAN
Áp dụng hệ thống nhiều nút chủ: Tất cả các nút kết nối trên đường truyềnđều có quyền ngang nhau khi phát đi thông điệp của chúng
Trang 36Gợi ý: So với hệ thống này, trong hệ thống (Chính - phụ), máy tính chínhđiều khiển tất cả các máy phụ và máy phụ chỉ đáp ứng các yêu cầu của máychính.
Hình 2.23 Sự va chạm thông tin của BEAN
Điểm đến của thông điệp: Cho phép chuyển giữa thông tin chung vàthông tin riêng Thông tin chung: truyền đến tất cả các nút Thông tin riêng:truyền đến một nút nào đó
Áp dụng phương pháp xác định không làm hỏng: Khi có nhiều hơn mộtnút bắt đầu yêu cầu, hệ thống này xác định nút nào có mức ưu tiên cao hơn tùytheo trật tự đó xác định trước và ngăn không cho dữ liệu bị phá hủy do xung đột
Phát hiện lỗi ở nút nhận và gửi thông tin lỗi đến nút gửi: Khi lỗi bị pháthiện và lỗi sẽ được thông báo lại (việc liên lạc không hoàn tất như bình thường),nút ở đầu truyền sẽ tự động phát lại thông điệp
Chiều dài của thông điệp thay đổi: Chiều dài của thông điệp có thể thayđổi trong mạch MPX
Tốc độ truyền: 10 kbps
2.2.2.11 Phương pháp CSMA/CD và điểm đến của thông điệp
Phương pháp CSMA/CD gồm :
Trang 37Thời điểm bắt đầu truyền chỉ khi đường truyền không bị tắc nghẽn (khikhông có nút nào đang truyền tín hiệu), tất cả các nút có cơ hội truyền tín hiệunhư nhau.
Gợi ý: "Đường truyền không tắc nghẽn" có nghĩa là một chuỗi 7 bít hay nhiều hơn tín hiệu “0” (tín hiệu lặn) được xác định trong đường truyền đó Về
nguyên tắc, khi một nút đang truyền tín hiệu, các nút khác không thể truyền tínhiệu
Nếu tỷ lệ chiếm dụng đường truyền trở nên đặc biệt cao, thông điệp cómức ưu tiên thấp hơn có thể bị chậm hay đôi khi không được truyền
Trong phương pháp CSMA/CD, tỷ lệ chiếm dụng đường truyền đượckhống chế sao cho tỷ lệ này phải khoảng 70% hay thấp hơn trong trường hợpxấu nhất
Tỷ lệ chiếm đường truyền (thông lượng): Cho biết lượng chiếm dụng trênmột đường truyền bởi tín hiệu của thông điệp
Thời điểm truyền của từng thông điệp được xác định bởi “phân chia bíttruyền” để sao cho tỷ lệ này không vượt quá 70% trong trường hợp xấu nhất.(Thời gian còn lại 30%, đường truyền không bị chiếm chỗ)
Điểm đến của thông điệp
Trong BEAN, các điểm đầu nhận có thể được xác định bằng một trong 3phương pháp sau:
Liên lạc chung: Truyền thông điệp đến tất cả các nút
Liên lạc riêng: Truyền thông điệp đến một số nút nhất định
Liên lạc chung theo khu vực (1-3): Truyền thông điệp đến nhóm các nútnhất định (các nút được chia thành nhóm theo chức năng của chúng)
Gợi ý: Khi một nút nhận thấy rằng DST-ID không cho nút đó, nó sẽkhông xử lý bất kỳ việc tiếp nhận nào (Để giảm tắc nghẽn trên đường truyền)
Trang 38Hình 2.24 Đường truyền giữa các nút của BEAN
Xác định: Có 3 nút đồng thời bắt đầu truyền thông điệp
Tất cả các nút phải phát ra "1" là SOF (bít ban đầu)
Nút 3 phát ra “0” tại điểm kiểm tra đường truyền này nhận thấy “1” đangphát ra Do đó, nó xác định bản thân nó là lặn và ngừng truyền
Nút 2 phát ra “0” tại điểm này kiểm tra đường truyền này nhận thấy “1”đang phát ra Do đó, nó xác định bản thân nó là lặn và ngừng truyền
Gợi ý: Nút 1 giành được quyền gửi yêu cầu trước tiên
Chức năng xác định sẽ giao quyền ưu tiên cho từng thông điệp Các nút bị
từ chối bởi chức năng xác định rút lại thông điệp của mình và lần sau khi đườngtruyền không bị tắc nghẽn, chúng sẽ cố gắng phát lại một lần nữa.Chú ý rằngchức năng phân xử chỉ có tác dụng khi nhiều nút cùng một lúc phát ra thôngđiệp
Vì vậy, nếu một nút đó bắt đầu phát tín hiệu của nó, nút khác không thểcản trở nó, ý tưởng cơ bản là “Đến trước, phục vụ trước” Nếu nhiều nút ở trạngthái chờ, tại thời điểm mà thông điệp trội đó kết thúc và đường truyền trở nên
Trang 39thông, SOF (bít bắt đầu) sẽ phát ra bởi tất cả các nút Một số nút có thể bị chậm,tuy nhiên việc chậm này có thể chấp nhận được.
Hình 2.25 Sơ đồ khối của hệ thống MPX
Đường truyền dự trữ: Việc bảo vệ hệ thống chiếu sáng (đèn signal, đènhậu, đèn phanh, và đèn sương mù sau) trong trường hợp việc liên lạc bị giánđoạn do hư hỏng trong đường truyền trục lái, một đường truyền dự trữ đượcthiết kế giữa công tắc tổ hợp, ECU điều khiển hộp đầu nối “ECU J/B” phía lái
xe và ECU J/B khoang hành lí
Đường dây dự phòng: được thiết kế giữa công tắc tổ hợp và ECU đènphía trước, giữa công tắc tổ hợp và ECU J/B phía hành khách để đảm bảo hoạtđộng của đèn pha – chiếu gần và gạt nước ở chế độ nhanh
Trang 402.2.3.1 Đường truyền cho hệ thống cửa
Khái quát
Từng ECU được nối vào đường truyền cho hệ thống cửa (đường MPX)truyền và nhận dữ liệu điều khiển chủ yếu liên quan đến hệ thống điều khiểncửa sổ điện, hệ thống điều khiển ghế điện, hệ thống điều khiển khóa cửa, hệthống chống trộm,
Hình 2.26 Đường truyền hệ thống MPX của hệ thống cửa
*1: Không có hệ thống chìa thông minh
*2: Có hệ thống chìa thông minh
*3: Có hệ thống gạt mưa tự động (nhận biết trời mưa)
*4: Có hệ thống cửa trời
*5: Có hệ thống ghế điện
*6: Có hệ thống ghế sau điện