Tăng cường quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, phảnánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,mang lại thu nhập lớn nhất song cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất chongân hàng Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, một số NHTMCP đãcoi chính sách mở rộng tín dụng là một giải pháp để thu hút khách hàng, chiếm lĩnhthị phần Nhưng không thể đồng nghĩa với việc hạ thấp các tiêu chuẩn đánh giákhách hàng, tìm cách lách rào kiểm soát, thông tin sai lệch… mà vẫn phải thực hiệnđúng quy trình tín dụng để giảm tỷ lệ nợ xấu, tránh tổn thất cho ngân hàng Nhất làtrong bối cảnh khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu, mà khởi nguồn là cuộc khủnghoảng tài chính từ Mỹ, thì những tác động của nó lên nền kinh tế Việt Nam đanghội nhập càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới nói chung và ngành ngân hàngViệt Nam nói riêng là không hề nhỏ Những khoản cho vay không thu hồi được cảgốc và lãi đúng thời hạn càng lớn, tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng, đặc biệt là tronglĩnh vực tín dụng bất động sản, đã có lúc đe dọa tới tính thanh khoản của hệ thốngngân hàng Do vậy, quản lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu phát sinh và xử lý nợ xấu đãphát sinh là một yêu cầu cấp thiết, có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt độngquản lý của ngân hàng
Trong một thời gian thực tập ngắn tại Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư vàphát triển Việt Nam, đơn vị trực tiếp kinh doanh của Hội sở chính, một khu vựctrọng điểm của hệ thống Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, được tìm hiểu về
hoạt động của Sở, nhất là hoạt động tín dụng, em đã chọn đề tài: “Tăng cường quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”
làm chuyên đề tốt nghiệp
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của Ngân hàng thươngmại
Chương II Thực trạng quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – BIDV
Chương III Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – BIDV
Trang 2Em xin cảm ơn TS Lê Thanh Tâm và các anh chị phòng Quan hệ kháchhàng 2 – Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã giúp đỡ emhoàn thành chuyên đề này.
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
Chương I Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại 8
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 8
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 8
1.1.2 Phân loại NHTM 9
1.1.2.1 Theo hình thức sở hữu 9
1.1.2.2 Theo tính chất hoạt động 9
1.1.2.3 Theo cơ cấu tổ chức 9
1.1.3 Chức năng của NHTM 10
1.2 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của NHTM 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.1.1 Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu 11
1.2.1.2 Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc 12
1.2.1.3 Theo định nghĩa của Việt Nam 12
1.2.2 Phân loại 13
1.2.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM 14
1.2.4 Dấu hiệu nhận biết nợ xấu 15
1.2.4.1 Dấu hiệu từ phía ngân hàng 15
1.2.4.2 Dấu hiệu từ phía khách hàng 16
1.2.5 Tác động của nợ xấu 16
1.2.5.1 Đối với ngân hàng thương mại 16
1.2.5.2 Đối với nền kinh tế 17
1.3 Quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 18
1.3.1 Sự cần thiết quản lý nợ xấu tại các NHTM 18
1.3.2 Nội dung quản lý nợ xấu của NHTM 18
1.3.2.1 Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 18
1.3.2.2 Xử lý nợ xấu 21
Trang 41.3.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nợ xấu 26
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan 26
1.3.3.2 Nhân tố khách quan 29
Chương II Thực trạng quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 32
2.1 Tổng quan về Sở giao dịch I – BIDV 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 32
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 32
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 34
2.1.2 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 36
2.1.2.1 Phân tích tài chính 36
2.1.2.2 Phân tích hoạt động 37
2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – BIDV 42
2.2.1 Tình hình nợ xấu 42
2.2.2 Tình hình quản lý nợ xấu tại SGD I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 45
2.2.2.1 Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 45
2.2.2.2 Xử lý nợ xấu phát sinh 49
2.3 Đánh giá công tác quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – BIDV 52
2.3.1 Thành tựu 52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 54
2.3.2.1 Hạn chế 54
2.3.2.2 Nguyên nhân 56
2.3.3.2 Nhân tố khách quan 58
Chương III Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – BIDV 62
3.1 Định hướng đối với vấn đề quản lý nợ xấu của SGD 62
3.1.1 Định hướng phát triển chung 62
3.1.2 Định hướng phát triển với hoạt động quản lý nợ xấu 63
Trang 53.2 Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu 63
3.2.1 Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 63
3.2.2 Xử lý nợ xấu đã phát sinh 65
3.3 Kiến nghị 69
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 69
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 NHTM: Ngân hàng thương mại
2 SGD: Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
3 BIDV: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
9 CAR: Hệ số an toàn vốn tối thiểu
10 AMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
11 BAMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu
Biểu 2.1 Biểu đồ tổng tài sản của Sở giao dịch qua các năm
Biểu 2.2 Biểu đồ nguồn vốn huy động của Sở giao dịch qua các năm Biểu 2.3 Biểu đồ dư nợ tín dụng của Sở giao dịch qua các năm
Trang 8Chương I Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của
Ngân hàng thương mại1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nềnkinh tế Tùy thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như sự phát triển củanền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, ngân hàng bao gồm ngânhàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác, trong đó ngân hàng thương mạithường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngânhàng
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quantrọng nhất trong nền kinh tế NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp mộtdanh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chứckinh doanh nào trong nền kinh tế Ở Việt nam, theo khoản 2 điều 20 Luật các tổchức tín dụng do Quốc hội khóa 10 thông qua vào ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/6/2004, định nghĩa:
NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Theo khoản 1 điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng, và khoản 7 điều 20 luật này định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
NHTM thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy
là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định nềnkinh tế Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vaitrò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nềnkinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của nền kinh
tế thị trường còn non kém
Trang 9- NHTM nước ngoài: Đúng ra là chi nhánh ngân hàng nước ngoài Là ngânhàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, là cơ sở của ngân hàng nước ngoàitại Việt nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- NHTM liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bênngân hàng Việt nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt nam, hoạt độngtheo pháp luật Việt Nam
1.1.2.2 Theo tính chất hoạt động
Theo hoạt động chuyên doanh và đa năng:
- NHTM chuyên doanh: Là loại hình NHTM chỉ tập trung cung cấp một sốdịch vụ ngân hàng, ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối vớinông nghiệp…
- NHTM đa năng: Là loại hình NHTM cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng chomọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM
Theo hoạt động bán buôn và bán lẻ:
- NHTM bán buôn: Là loại hình NHTM cung cấp các dịch vụ cho các ngânhàng, các công ty tài chính, cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn Thường lànhững ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp cáckhoản tín dụng lớn
- NHTM bán lẻ: Là loại hình NHTM cung cấp dịch vụ trực tiếp cho doanhnghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ
1.1.2.3 Theo cơ cấu tổ chức
- NHTM sở hữu công ty: Là ngân hàng nắm giữ phần vốn chi phối của công
ty, cho phép ngân hàng tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty
Trang 10- NHTM thuộc sở hữu công ty: Các tập đoàn kinh tế thường tổ chức thànhlập ngân hàng nhằm cung ứng dịch vụ tài chính cho các đơn vị thành viên của tậpđoàn và ngoài tập đoàn.
1.1.3 Chức năng của NHTM
- Trung gian tài chính
Các tổ chức như NHTM, công ty tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệmtương trợ, liên hiệp tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ tương trợ, quỹ trợ cấp và nhữngcông ty tài chính là những trung gian vay vốn của những người đã tiết kiệm đượctiền rồi ngược lại cho những người khác vay Ngân hàng, nhất là NHTM là trunggian tài chính mà một người bình thường thường xuyên giao dịch nhất
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chứctrong nền kinh tế Thứ nhất là cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức làchi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần
bổ sung vốn Thứ hai là cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhậphiện tại lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền đểtiết kiệm Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp vềquy mô, thời gian, không gian… tạo điều kiện nảy sinh và phát triển của trung giantài chính Ngân hàng có thể làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm đồng thời giảmphí tổn cho người đi vay so với quan hệ trực tiếp Trung gian tài chính đã tập hợpngười tiết kiệm và người đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụngtrực tiếp
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩmđịnh thông tin Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tinđược gọi là tình trạng thông tin không cân xứng làm giảm tính hiệu quả của thịtrường nhưng tạo ra một khả năng sinh lời cho ngân hàng, nơi có chuyên môn vàkinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụvới các yếu tố rủi ro, lợi nhuận hấp dẫn nhất
- Tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhậnthấy nếu họ có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được
Trang 11hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu Mặt khác, khi ngân hàng cho vay, số dư trên tàikhoản của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ.
Do đó, bằng việc cho vay( hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiệnthanh toán (tham gia tạo M1)
- Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết cácquốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa,dịch vụ Để việc thanh toán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí,ngân hàng đưa ra cho khác hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằngséc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối cácquỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanhtoán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trungtâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy
mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiệnđại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiềuhình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toánkhông chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà còn giữa các ngân hàng trên thế giới.Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toánqua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệuquả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
1.2 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của NHTM
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Những khoản nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòibồi thường từ nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ
- Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợhoặc không thể tìm được người mắc nợ
Trang 12- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tàisản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
* Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấpkhông đủ trả nợ Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc cóthời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy
đủ như:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưngphần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản đượcchuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợnhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận
- Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thếchấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợkhông thể trả nợ ngân hàng đầy đủ
- Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phầnbồi hoàn ít hơn dư nợ
1.2.1.2 Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấpvốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc cac khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngàynhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toánđầy đủ Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày
và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toánquốc tế (IAS) hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới
1.2.1.3 Theo định nghĩa của Việt Nam
Theo quyết định 493/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ngày22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng; và quyết định số 18/2007 QĐ –NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493 thì
Nợ xấu được định nghĩa như sau:
Trang 13Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn),nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu theo định nghĩacủa Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và(ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại
Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợxấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả
nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng
1.2.2 Phân loại
Theo quyết định 493/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ngày22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng; và quyết định số18/2007 QĐ –NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định 493 thì Nợ xấu đượcxác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi
a Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điềuchỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoảnnày
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năngtrả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 điềunày
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi caonhất Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợcủa nhóm
b Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
Trang 14- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 điềunày
Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn sovới các khoản nợ của nhóm 3 Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ màngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ xấuthuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm
c Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời gian trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai
1.2.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM
- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộkhoản nợ xấu của ngân hàng Chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số dư nợ đó, nợkhông có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu Vànhư vậy, nó chưa phản ánh một cách chính xác số nợ cho vay không có khả năngthu hồi của ngân hàng
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu/ tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản ánh mức
độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng chovay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồihoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thìkhả năng rủi ro càng cao Nếu như tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có
Trang 15chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì được coi là có chất lượng tíndụng tốt, các khoản cho vay an toàn Tuy nhiên các con số được sử dụng để tính chỉ
số này được đo tại một thời điểm nhất định nên chưa phản ánh hoàn toàn chính xácchất lượng tín dụng của ngân hàng
- Tỷ lệ nợ khó đòi/ tổng dư nợ và nợ khó đòi/ nợ xấu: Các chỉ số này phảnánh chỉ tiêu tương đối của nợ khó đòi – một cấu phần quan trọng của nợ xấu Đây lànhững chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngânhàng Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao
- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro
có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành cáckhoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bùđắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh koanh của ngân hàng
và ngược lại
Ngoài ra tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng hoặc quốc gia trongtừng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợxấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp lý
1.2.4 Dấu hiệu nhận biết nợ xấu
1.2.4.1 Dấu hiệu từ phía ngân hàng
Nợ xấu làm giảm doanh thu của ngân hàng, làm giảm hình ảnh của ngânhàng đối với khách hàng, tác động rất tiêu cực đối với hoạt động của cả hệ thống
Do vậy, dự báo nợ xấu phát sinh từ các dấu hiệu định tính và định lượng là mộtcông việc có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Đó là:
- Sự đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hàng
- Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra trong tương lai, ví dụnhư sáp nhập
- Cho vay do khách hàng hứa duy trì một khoản tiền lớn trong ngân hàng
- Không xác định rõ kế hoạch hoàn trả đối với từng khoản cho vay
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ
- Do cạnh tranh có thể cấp tín dụng cho khách hàng để họ khởi chạy sangngân hàng khác dù biết khoản vay có thể dẫn đến rủi ro
Trang 16- Cơ cấu tín dụng không hợp lý, cho vay tập trung vào một số lĩnh vực nóngtrong nền kinh tế như đầu tư vào bất động sản…
1.2.4.2 Dấu hiệu từ phía khách hàng
Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc kháchhàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng hóa, thu hồi công nợ chậm hơn
dự tính
Việc thanh toán tiền không đúng kế hoạch Người vay tiền liên tục trả nợkhông đúng hạn Kì hạn của khoản vay liên tục bị thay đổi, khách hàng luôn yêucầu được gia hạn nợ
Các số liệu và tài liệu cần thiết cung cấp cho ngân hàng không được kê khaichính xác và nộp không theo kế hoạch Các tài liệu quan trọng phải nộp cho ngânhàng như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyểntiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính… liên tục bị trì hoãn một cách bất thường Sốliệu kê khai, hay số liệu về doanh thu và dòng tiền thực tế bị nghi ngờ là có sựchênh lệch khá lớn so với mức dự kiến khi khách hàng xin vay
Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo thấp hơn so vớikhi định giá cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, hay bán, trao đổihoặc bị mất
Những thay đổi bất lợi về giá cổ phiếu của khách hàng vay vốn
Những thay đổi trong cơ cấu vốn của người vay (tỷ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu),khả năng thanh toán
Hoạt động kinh doanh của khách hàng thua lỗ trong một hay nhiều năm liêntục, đặc biệt thể hiện qua các chỉ số ROA, ROE hay thu nhập trước thuế và lãi vay(EBIT)
Những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong số
dư tiền gửi của khách hàng
1.2.5 Tác động của nợ xấu
1.2.5.1 Đối với ngân hàng thương mại
Nợ xấu ảnh hưởng hầu hết tới các hoạt động của NHTM, thậm chí số dư nợ xấu lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng
Trang 17Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM Nợ xấu hạn chế khảnăng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của NHTM Khi nợxấu tăng cao, thu nhập của ngân hàng giảm, thậm chí không còn lợi nhuậ do khôngthu hồi được nợ, lại phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý
nợ xấu và các chi phí khác liên quan
Thứ hai, nợ xấu sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng Nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao,vượt quá giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NHTM trong nước vàquốc tế giảm sút nghiêm trọng
Thứ ba, nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh toán và kế hoạch kinhdoanh của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay.Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn,không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay Trong khi
đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi Sựmất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản của ngân hàng và ảnhhưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng
Thứ tư, nợ xấu làm cản trở quá trình hội nhập của các NHTM Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của NHTM khi phân tích đánh giá tình hình tàichính hoạt động ngân hàng, là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển
1.2.5.2 Đối với nền kinh tế
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế Vì thế nợ xấu của NHTMảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế tác độnggián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: Ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế.Theo đó, nợ xấu làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng sẽảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Khả năng khai thác và đáp ứng vốn,khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấuphát sinh Mặt khác, nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tới sự tăngtrưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh bị đình trệ
Trang 181.3 Quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
1.3.1 Sự cần thiết quản lý nợ xấu tại các NHTM
Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chínhsách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả
và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạnchế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh từ đó làmtăng doanh thu, giảm chi phí nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Tổn thất nếuxảy ra sẽ làm giảm thu nhập, có thể thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng Do vậy, antoàn tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi NHTM Có hai mốiliên hệ giữa rủi ro và sinh lời trong hoạt động tín dụng Trước khi tài trợ, mối quan
hệ có thể là rủi ro càng cao, sinh lợi kỳ vọng càng lớn Nhưng sau khi tài trợ mốiquan hệ đó lại là tổn thất càng cao thì sinh lợi càng thấp Ngân hàng có thể theođuổi chiến lược tài trợ rủi ro cao hoặc thấp trong ngắn hạn song đểu phải xác lậpmối liên hệ giữa rủi ro và sinh lợi nhằm đảm bảo gia tăng thu nhập cho ngân hàngtrong dài hạn Nghiên cứu và tìm các giải pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, giảiquyết và bù đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dung chính của quản lýtín dụng, nhằm mục tiêu gia tăng thu nhập cho ngân hàng trên cơ sở an toàn củatừng khoản vay, của cả danh mục khoản vay
1.3.2 Nội dung quản lý nợ xấu của NHTM
1.3.2.1 Phòng ngừa nợ xấu phát sinh
Theo Quyết định (QĐ) 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thốngđốc NHNN về việc ban hành Quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD và Quyết định số18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổsung một số điều của Quyết định 493, nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng từ 2 - 5% là một
tỷ lệ chấp nhận được Để có được một tỷ lệ nợ xấu thấp, NHTM cần tập trung vàocác biện pháp ngăn chặn nợ xấu xuất hiện
- Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng
Ngân hàng phải tiến hành hoạt động thẩm định đối với dự án vay, kháchhàng vay trước khi cho vay, trong cho vay và sau khi cho vay Ngân hàng dùng các
Trang 19biện pháp để kiểm tra tính khả thi và sinh lợi của dự án, kiểm tra khả năng tài chínhcủa khách hàng đi vay, theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động của dự án sau khigiải ngân để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về khả năng thu hồi vốn, cả gốc
và lãi từ dự án Khi đến kì hạn trả nợ, nếu nhận thấy khách hàng cố tình chây ỳ, lừađảo, không có thiện ý hoàn trả nợ… thì ngân hàng phải tiến hành thu nợ Còn nếukhách hàng có thiện ý trả nợ nhưng gặp khó khăn tạm thời thì ngân hàng có thể tiếnhàng các biện pháp hỗ trợ khách hàng như giảm lãi suất, gia hạn nợ, tiếp tục chovay để khách hàng thu lợi nhuận trả ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạnchế rủi ro phải phù hợp với khả năng huy động vốn và kiểm soát rủi ro, bảo đảm antoàn hệ thống
Yêu cầu các tổ chức tín dụng phân tích, đánh giá các rủi ro có thể xảy ratrong từng quy trình nghiệp vụ để triển khai ngay các biện pháp phòng ngừa, ngănchặn rủi ro, đồng thời rà soát, lựa chọn cán bộ có đủ năng lực, trình độ, phẩm chấtđạo đức để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ; có cơ chế uỷ quyền, quy định tráchnhiệm đối với cán bộ phụ trách và tác nghiệp Theo chức năng nhiệm vụ của mình,các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện cơ chế thông tin, báo cáo, kiểmsoát, xây dựng hệ thống cảnh báo rui ro để nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát thịtrường ngoại hối, phát hiện kịp thời những rủi ro tiềm ẩn để có biện pháp xử lýthích hợp
Hoàn thiện cơ chế thông tin, báo cáo, kiểm soát, xây dựng hệ thống cảnh báo
để nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát thị trường; đẩy nhanh việc xây dựng cácvăn bản quy phạm pháp luật
Đôn đốc các TCTD ban hành quy định về tiêu chuẩn và yêu cầu tối thiểu đốivới hệ thống quản lý rủi ro hữu hiệu áp dụng trong hệ thống của mình Đánh giátoàn diện về mức độ rủi ro trong thanh toán và áp dụng công nghệ thông tin để đềxuất và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa rủi ro; Tiếp tục ban hành sửađổi, hoàn chỉnh chế độ kế toán cho phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế…
- Xây dựng chiến lược hoạt động hợp lý
Trang 20Chiến lược hoạt động của ngân hàng một mặt phải đảm bảo khả năng sinhlời, mang lại thu nhập cho ngân hàng, mặt khác phải đảm bảo khả năng thanhkhoản Ngân hàng xây dựng và triển khai các sản phẩm, dịch vụ truyền thống vàhiện đại phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như sự phát triển củanền kinh tế Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tíndụng, hoạt động mang lại hơn 70% thu nhập cho ngân hàng, ngân hàng phải xácđịnh mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu Rủi ro luôn đi kèm với hoạt độngcủa bất kì một ngân hàng nào, chúng ta có thể làm hạn chế tổn thất của chúng, chứkhông thể ngăn ngừa chúng xuất hiện Hoạt động ngân hàng nằm trong giới hạn rủi
ro, đó là một thành công lớn của ngân hàng
Bất kể ngân hàng nào, phải xây dựng cho mình danh mục tài sản với các rủi
ro có thể chấp nhận được và danh mục nguồn vốn với chi phí hợp lý, phù hợp vớikhả năng thanh khoản của ngân hàng và thực tế ngành kinh tế,vùng kinh tế và cảnền kinh tế Ngân hàng đưa ra những sản phẩm, dịch vụ thu hút khách hàng với cácchính sách về lãi suất, phí, khách hàng… hợp lý trên cơ sở nghiên cứu kỹ kháchhàng và thị trường
Ngân hàng phải xác định và tận dụng lợi thế của mình trong việc xác địnhchiến lược hoạt động ngắn hạn và cả trung dài hạn đồng thời hạn chế những mặtcòn hạn chế trong nội tại ngân hàng Tập trung hoạt động vào những điểm mạnh,khai thác thị trường dựa trên những ưu điểm của mình để không ngừng mở rộngmạng lưới phân phối, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ.Chỉ có thể thì chiến lược mới phát huy hiệu quả, đem lại nguồn thu cho ngân hàng,hình ảnh ngân hàng được nhiều cá nhân, tổ chức biết đến
Ngân hàng cũng có thể triển khai các hoạt động bằng cách kết hợp với cácngân hàng, các định chế tài chính khác để cùng nhau khai thác khách hàng, khaithác ngành và vùng kinh tế, khai thác thị trường dựa trên những lợi thế sẵn có củamỗi bên
Chiến lược hoạt động có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động ngânhàng Nó xuyên suốt trong toàn hệ thống, là cương lĩnh hoạt động của tất cả cán bộ,công nhân viên, là kim chỉ nan dẫn đường cho từng bước đi của ngân hàng Chính
vì vậy, chiến lược hoạt động phải xây dựng một cách hợp lý, khoa học và thực tế
Trang 21- Triển khai công cụ kiểm soát rủi ro mới
Ngân hàng phải tiến hành phân loại khách hàng, chấm điểm tín dụng vớitừng đối tượng khách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng Đaphần các ngân hàng đều có tiêu chí xếp loại và phân loại nợ theo nhóm khách hàng
để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng Nợ của khách hàng nhóm A được coi có rủi
ro thấp nhất, còn nợ khách hàng nhóm C được coi là có khả năng mất vốn cao nhất
Ngân hàng cũng có thể kiểm soát tín dụng bằng giới hạn tín dụng, giải ngânkèm chứng từ hàng hóa… để hạn chế tổn thất trong cho vay Triển khai các công cụkiểm soát mới đồng thời làm chi phí hoạt động của ngân hàng tăng lên, nhưng sẽlàm giảm tổn thất mà các rủi ro mang lại Các tổn thất này lớn hơn chi phí hoạtđộng của các công cụ này thì sẽ mang lại lợi nhuận, hiệu quả cho chính ngân hàng
1.3.2.2 Xử lý nợ xấu
- Yêu cầu tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và tái cơ cấu lại nợ
Đối với các khoản nợ xấu của khách hàng là doanh nghiệp, sau khi phân tíchthực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu đánh giá khách hàng cókhả năng phát triển để thanh toán nợ xấu cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ áp dụngbiện pháp cấu trúc lại hay tái cơ cấu doanh nghiệp
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình thực hiện tái cơ cấu hoạt động sản xuấtkinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chínhkém nhưng có khả năng phục hồi Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp được thựchiện giữa các bên có liên quan: nhà đầu tư, nhà kinh doanh, ngân hàng cho vay nợvới mục đích cao nhất là hồi sinh, tăng giá trị cho doanh nghiệp
Nói chung, đề xuất xử lý nợ xấu theo giải pháp cấu trúc lại chỉ được áp dụngcho các khoản nợ thuộc nhóm 3 và nhóm 4 và đối với các khách hàng được quyếtđịnh tiếp tục duy trì quan hệ Khi đã có quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với đốitượng khách hàng này, khoản nợ có thể được quản lý thông qua việc giám sát chặtchẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để cải thiện tìnhhình của họ và sửa chữa sai sót Đặc biệt, trong trường hợp không trả được nợ lầnđầu, ngân hàng cần có hành động kiên quyết để thuyết phục khách hàng trong việcthực thi các biện pháp cứng rắn để củng cố vị thế của khách hàng Ngân hàng duy
Trang 22trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát quá trình xử lý nợ Trên cơ sở
đó, ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:
Thứ nhất, điều chỉnh kỳ hạn nợ: Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thườngđược thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/ và giảm khối lượng nợ gốc phải thanhtoán của kỳ hạn trả nợ, nhưng không được giảm tổng số dư nợ phải trả Nếu được
sử dụng một cách cẩn thận, việc điều chỉnh kỳ hạn nọ là một hình thức được chấpnhận khi thực hiện tái cơ cấu lại nợ
Thứ hai, gia hạn nợ: Đây là phương án tránh áp lực trả nợ cho khách hàng để
hỗ trợ khách hàng tiếp tục kinh doanh Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tíndụng giúp khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản
nợ trước Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao
Thứ ba, giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả: Giải pháp này có thể đượcxem xét áp dụng tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân thủ theocác quy định hiện hành của Nhà nước và của từng ngân hàng Việc giảm, miễn lãiđối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của ngân hàng để có thểtận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay
- Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu – Biến nợ thành chứng khoán
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đang được áp dụngrộng rãi trên thế giới là chứng khoán hóa các khoản nợ Một cách đơn giản, chứngkhoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoảnnhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải thu, cáckhoản nợ rồi chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra giao dịch trên thị trườngtài chính Chứng khoán hóa các khoản nợ là chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc cáckhoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp đểgiao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp Ngânhàng có thể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản nợ xấu của mình nhưng cần có sựphát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ Đốimặt với áp lực rủi ro tín dụng và yêu cầu tăng vốn chủ sở hữu, công cụ quản lý rủi
ro chứng khoán hóa các khoản cho vay đã giúp ngân hàng hạn chế một cách có hiệuquả rủi ro tín dụng
Trang 23Công nghệ chứng khoán hóa hấp dẫn nhiều ngân hàng, bởi vì thông qua đó
mà ngân hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanhkhoản của tài sản, cung cấp một phương tiện tài trợ mới, giảm được các chi phí cótính chất thuế cũng như tăng thu nhập từ thuế
Trước hết, nó giúp bổ sung, làm đa dạng hóa hàng hóa giao dịch trên sàn,giúp mở rộng quy mô thị trường Chứng khoán hóa mở ra thêm một kênh huy độngvốn cho các doanh nghiệp, mở cơ hội tiếp cận thị trường vốn và làm giảm chi phítài trợ lẫn tối ưu hóa việc sử dụng vốn Chứng khoán hóa tạo ra một nguồn tài trợvốn dài hạn và có hiệu quả thông qua việc có thể được phát hành với kỳ hạn dài hơncác loại tài sản liên kết so với các khoản nợ của ngân hàng hoặc các loại tín phiếu.Ngoài ra, chứng khoán hóa còn là phương thức giúp làm tăng thu nhập của các tổchức phát hành và là công cụ đa dạng hóa rủi ro tốt nhất
Bên cạnh những tích cực mà chứng khoán hóa mang lại, còn có những rủi ro
đi kèm, đó là: Công bố thông tin không bảo vệ được, những hạn chế của định mứctín nhiệm, các tài sản không giống như mong đợi, dữ liệu giao dịch không sẵn có,nhược điểm của chế độ báo cáo sản phẩm phái sinh và sản phẩm thu nhập cố định,tính thanh khoản yếu của công cụ nợ
- Xử lý tài sản đảm bảo, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không cókhả năng phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý các tài sảnđảm bảo nợ vay kể cả là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền với đất thuộcquyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau:
Bên bảo đảm trực tiếp bán tài sản cho người mua
NHTM trực tiếp bán tài sản cho người mua
Bán thông qua tổ chức đấu giá
NHTM nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ đượcbảo đảm Trong trường hợp này, việc quyết định nhận tài sản để sử dụng thay thế thựchiện nghĩa vụ phải thực hiện theo thủ tục mua tài sản của NHTM
NHTM nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ: người thứ ba trong trường hợpthế chấp quyền đòi nợ, Công ty bảo hiểm trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng
Trang 24tiền bảo hiểm nhân thọ, hoặc từ bên thứ ba có nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm.Trong trường hợp này, vẫn phải thoả thuận và có cam kết bằng văn bản của bên bảođảm về quyền truy đòi lại bên bảo đảm nếu không thu hoặc thu không đủ từ bên thứ ba
vì bất kỳ lý do nào
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại tài sản đảmbảo hoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thờigian, khả năng thu hồi đầy đủ nợ thường không cao, song ngân hàng vẫn buộc phảithực hiện để thu hồi vốn Cho đến nay, đây là một trong số các biện pháp thu hồivốn có hiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt các khoản nợ do cơ sở pháp lýchưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
- Bán các khoản nợ
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với khoản nợ không có tài sảnđảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợcho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân khác có chức năng theo quy định đểsớm thu hồi vốn của mình Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhậnbán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tớinhững khoản nợ còn lại Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việcnhanh chóng đưa ra các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các ngân hàngthường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn cao gọi là Công ty quản lý nợ vàkhai thác tài sản (AMC) Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện muabán tiếp theo
AMC ra đời trước tiên nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nợ và khai thác tài sảncủa ngân hàng, làm lành mạnh và minh bạch hóa tình hình tài chính, đảm bảo kinhdoanh an toàn và bền vững của ngân hàng Công ty có đầy đủ chức năng của mộtcông ty xử lý nợ, bao gồm: tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản bảođảm nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất; Hoànthiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình các cơquan có thẩm quyền cho phép Ngân hàng xóa nợ cho khách hàng; Chủ động bán cáctài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của ngân hàng thương mại theo giáthị trường; Cơ cấu lại nợ tồn đọng; Xử lý các tài sản bảo đảm nợ vay; Mua bán, xử
lý nợ tồn đọng của các đơn vị khác theo quy định của pháp luật,… Bên cạnh đáp
Trang 25ứng nhu cầu về xử lý nợ xấu của chính ngân hàng, AMC sẽ sử dụng các kỹ năngchuyên sâu của mình để phục vụ nhu cầu xử lý nợ và tài sản tồn đọng của các doanhnghiệp khác, giúp nguồn vốn trong nền kinh tế lưu chuyển thông thoáng hơn, thayđổi diện mạo mới về cách thức giải quyết nợ thuộc toàn hệ thống Ngân hàng ViệtNam và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế.
- Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro được trích lập từ nguồn lợi nhuận của các NHTM nhằm
để bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh NHTM phải phân loại cáckhoản nợ xấu xem loại nào thì được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro Dự phòng rủi
ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vayvốn, bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổchức bị phá sản, giải thể hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện đượccác nghĩa vụ nợ thuộc nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn
Do tính chủ động cao nên biện pháp này được các ngân hàng vận dụng tối đanhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng Thực chất của biện pháp này là ngân hàng sử dụngnội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều biện pháp này làm giảm thu nhập củangân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được Vì vậy, ngân hàng nênchú trọng vào các biện pháp thu hồi nợ có tính triệt để hơn
- Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách củaChính phủ, các ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ ngân sách nhà nước.Thực chất các khoản vay theo chính sách có thể coi như khoản vay có bảo lãnh củabên thứ 3 là Chính phủ Do vậy, khi ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ kháchhàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho ngân hàng.Chính phủ có thể sử dụng ngân sách mua toàn bộ nợ xấu của NHTM để xử lý dầntrong một số năm nhằm giải thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng
nợ xấu, giúp ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh Biện pháp này có hạnchế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quanchức năng, không thể áp dụng thường xuyên vì ngân sách có hạn, việc xử lý một
Trang 26khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vựckhác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nợ xấu
hoạt động tín dụng của ngân hàng Nếu công tác quản lý được đánh giá đúng vai trò
quan trọng của nó, được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn thì sẽ mang lại hiệu quả cho ngân hàng Ngược lại, công tác quản lý không được phổ biến đúng mực tới các bộ phận, phòng ban của ngân hàng, không tạo được sự thống nhất trongtoàn hệ thống sẽ làm giảm thu nhập cho ngân hàng, nợ xấu vì thế mà tăng lên
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro có thể xảy ra Nếu các ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, gia tăng dư nợ tín dụng trong khi chưa hoàn thiện được các chính sách tín dụng hoặc chính sách tín dụng không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ thì sẽ làm nợ xấu gia tăng Cơ chế quản lý tín dụng của ngân hàng có thể được hiểu qua một số biểu hiện sau đây:
Thứ nhất là quy trình nghiệp vụ ngân hàng Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng
Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi
ro tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm các bước sau: Lập hồ sơ vay vốn, phân tích tín dụng, ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát tín dụng và thanh lý hợp đồng tín dụng Một quy trình tín dụng chặt chẽ, đảo bảo tính chính xác và đầy đủ là một nhân tố làm giảm đáng kể nợ xấu trong tổng dư nợ Ngược lại, một quy trình tín dụng lỏng lẻo, không khoa học sẽ làm gia tăng nợ xấu
Trang 27Thứ hai là cơ cấu cho vay Đó là tỷ trọng cho vay trong từng ngành, từnglĩnh vực, từng loại doanh nghiệp và cả theo thời gian Tỷ trọng các khoản cho vaygiữa ngắn hạn và trung, dài hạn; giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệplớn; giữa tổ chức và cá nhân; giữa ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữangành hoạt động mang tính chất thời vụ và lâu dài… nếu hợp lý, phù hợp với thực
tế nền kinh tế, với chủ trương của Chính phủ, của NHNN thì sẽ mang lại hiệu quảkinh tế và cả hiệu quả xã hội cho đất nước Ngược lại, cơ cấu cho vay bất hợp lý sẽlàm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, của ngành kinh tế, củavùng kinh tế và của cả nền kinh tế, không đáp ứng được nhu cầu phát triển năngđộng của đất nước
Thứ ba là đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn
đề hạn chế rủi ro tín dụng Đội ngũ cán bộ tín dụng vừa có đạo đức, phẩm chất vừa
có trình độ chuyên môn trong đánh giá, thẩm định các khoản vay thì khả năng xảy
ra nợ xấu là rất thấp Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưngmột cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguyhiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
Thứ tư là công tác kiểm tra nội bộ ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh
ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tínhsâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùngvới công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội
bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức, làm gia tăng thêm rủi rocho ngân hàng Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xetín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệuquả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tạithường trực trên con đường đi tới
Trang 28toàn, bảo mật Cho dù khách hàng đến bất cứ địa điểm giao dịch nào của ngân hàngđều cảm nhận được chất lượng và “tính trong suốt” của dịch vụ.
Với ngân hàng, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra đột phá trong khai thác sảnphẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, gián tiếp khẳng định được đẳng cấp têntuổi hình ảnh của ngân hàng Dưới góc độ quản lý, nhờ có công nghệ mà việc quản
lý nội bộ trong ngân hàng sẽ chặt chẽ hiệu quả hơn, quản trị rủi ro tốt hơn, làm giảm
nợ xấu Nhưng nếu công nghệ ngân hàng mà lạc hậu, không theo kịp ngân hàngtrong nước và quốc tế thì sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng,cũng là nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu
- Cơ cấu tổ chức
Nếu ngân hàng được cơ cấu và phân định các phòng ban theo đối tượng
khách hàng, kết hợp theo sản phẩm, dịch vụ: phân cấp quản lý theo mô hình nângcao hiệu quả quản lý và tăng cường kỹ năng quản trị rủi ro, tăng cường chất lượng
và hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng mạng lưới và phát triển sản phẩm mớitrên nền tảng công nghệ; Các phòng ban tại Trụ sở chính cũng như tại chi nhánhđược củng cố và chuyển đổi theo hướng sản phẩm và đối tượng khách hàng; Chứcnăng chuyên sâu theo nhiệm vụ kinh doanh trực tiếp và gián tiếp, hỗ trợ và quản lýtăng cường các bộ phận quản lý rủi ro theo mô hình ngân hàng hiện đại và nếu cơcấu tổ chức ngân hàng từ trung ương đến các chi nhánh, phòng ban chặt chẽ, thốngnhất thì sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sựthống nhất, chặt chẽ giữa các cấp sẽ làm giảm nợ xấu trong quy trình tín dụng, giảmthiệt hại cho ngân hàng
Ngược lại, tổ chức lỏng lẻo sẽ tạo điều kiện cho nhân viên tín dụng cùng cấptrên hợp thức hóa hồ sơ, làm giả mạo giấy tờ tín dụng, làm phát sinh nợ xấu
1.3.3.1.2 Nhân tố chủ quan từ phía khách hàng vay
Khi doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để triển khai, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, với một dự án đầy khả thi và với tư duy quản lý, kinh doanh tiên tiến thì sẽ mang lại hiệu quả cho dự án, đảm bảo trả đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng.Còn với tư duy kinh doanh hạn chế thì dù với một dự án đầy triển vọng thì cũng sẽ thất bại làm gia tăng nợ xấu cho ngân hàng
Trang 29Việc thu hồi được nợ vay còn phụ thuộc lớn vào thiện chí trả nợ của khách hàng Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phátsinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
1.3.3.2 Nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế - xã hội
Với những nền kinh tế nhỏ bé, sản xuất công nghiệp còn lạc hậu, chủ yếu làthành phẩm đơn giản như dầu thô, may gia công, chế biến thực phẩm và nguyênliệu… thì rất dễ bị tổn thương khi nền kinh tế thế giới biến động mạnh Nếu thế giới
ít biến động thì hoạt động của các doanh nghiệp cũng được đảm bảo, khả năng trả
nợ cho ngân hàng càng cao Còn thế giới biến động mạnh mẽ: giá cả, tỷ giá, hạnngạch, thuế… thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khókhăn, thậm chí là có nguy cơ phá sản, mất khả năng thanh toán cho ngân hàng
Ví dụ như ở Việt Nam: Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặpkhông ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nóichung Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương khôngkém Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới Việc tăng giáphôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sảnxuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm
Mối quan hệ song phương và đa phương giữa một quốc gia với phần còn lạicủa thế giới cũng tác động rất lớn tới hoạt động kinh doanh nói chung và của ngânhàng nói riêng Một đất nước ổn định về chính trị, có quan hệ tốt đẹp với các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu Ngược lại, một đất nước bất ổn, biểutình, đình công, khủng hoảng, bị cấm vận… thì nền kinh tế chắc chắn sẽ kiệt quệ,ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thành phần kinh tế và làm nợ xấu của ngân hàngcũng gia tăng lên rất nhiều
Trang 30- Môi trường tự nhiên
Đối với những nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp nhưtrồng trọt, chăn nuôi… thì rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, của môi trường
tự nhiên mà điển hình là Việt Nam Nếu như thời tiết thuận lợi, cây trồng đạt năngsuất, vật nuôi không bị dịch bệnh, khỏe mạnh… thì khả năng thu hồi vốn từ người
đi vay là rất lớn Còn ngược lại, môi trường tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai,nguồn nước không thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hạn hán thì dự
án sẽ thất bại, không thu hồi được vốn, nợ xấu phát sinh
- Môi trường pháp lý
Thứ nhất là hành lang pháp lý Hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi và đủmạnh thì sẽ góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hoạt động củadoanh nghiệp và ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh Còn ngược lại, hànhlang pháp lý chưa phù hợp, còn nhiều bất cập sẽ tạo điều kiện cho những khuất tấttrong hoạt động tín dụng
Thứ hai là hiệu quả hoạt động của cơ quan pháp luật địa phương trong việctriển khai áp dụng các văn bản pháp luật của Quốc hội, chính phủ và NHNN vào
thực tế hoạt động Luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động
ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập nhưmột số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Điều đó làm gia tăng dư nợ xấu, làmgiảm doanh thu của ngân hàng Nếu việc áp dụng các luật, văn bản dưới luật sẵn cóvào hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng nhanh chóng, đúng thời điểm,nghiêm túc, không còn vướng mắc thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vàngân hàng sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
Thứ ba là sự thanh tra, giám sát của NHNN
Nếu NHNN tiến hành thanh tra, giám sát hoạt động của NHTM thườngxuyên, chủ động, đáp ứng được yêu cầu, đúng nội dung và phương pháp thì sẽ ngănngừa được các khoản nợ xấu phát sinh
Ngược lại, năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu,thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng cònchưa theo kịp Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổimới Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức
Trang 31một cách hữu hiệu Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không đượcthanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng
nề đã xảy ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tíndụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàncủa cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh traphát hiện và xử lý sớm hơn
Trang 32Chương II Thực trạng quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam2.1 Tổng quan về Sở giao dịch I – BIDV
2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Sở giao dịch I được thành lập ngày 28/3/1991 theo quyết định số 76QĐ/TCCB của Tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Thựcnghiệm thành công mô hình mới là đơn vị trực tiếp kinh doanh của Hội sở chính,thực thi có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược của BIDV Từ ngày đầu thành lập, Sởgiao dịch có 2 phòng và 1 tổ nghiệp vụ; chủ yếu làm nhiệm vụ cấp phát ngân sáchđầu tư từ các dự án
Giai đoạn tiếp theo 1996 – 2000: Với 167 cán bộ nhân viên, Sở giao dịch đã
có 12 phòng nghiệp vụ, 1 chi nhánh khu vực, 2 phòng giao dịch và 7 quỹ tiết kiệm.Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, phục vụ đông đảokhách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế và dân cư
Từ 2001 – nay: Sở giao dịch đã thực hiện tách nâng cấp mở 4 chi nhánh cấp
1 trên địa bàn Hà Nội, đó là:
Chi nhánh Bắc Hà Nội năm 2002
Chi nhánh Hà Thành năm 2003
Chi nhánh Đông Đô năm 2004
Chi nhánh Quang Trung năm 2005
Cơ cấu lại Sở giao dịch theo mô hình phục vụ giao dịch một cửa thuận lợicho khách hàng và quản lý thông tin, thanh toán trực tuyến Đến nay Sở giao dịch
đã có 17 phòng nghiệp vụ; 15 điểm giao dịch với gần 300 cán bộ nhân viên Hệthống máy rút tiền tự động ATM hoạt động kết nồi với các điểm giao dịch củaBIDV trên phạm vi toàn quốc hợp thành mạng lưới rộng khắp phục vụ khách hàng
sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Mô hình tổ chức của Sở giao dịch đang đượctiếp tục hoàn thiện theo hướng các ngân hàng hiện đại trên cơ sở áp dụng công nghệ
Trang 33thông tin để hình thành các kênh phân phối sản phẩm tín dụng, huy động vốn, dịchvụ…
Quá trình phát triển quy mô hoạt động của Sở giao dịch được thể hiện: tăngtrưởng khách hàng, tổng tài sản Đến nay đã có hàng vạn khách hàng mở tài khoảnhoạt động, trong đó có tới 1400 khách hàng doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế: Tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liêndoanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn lớn… Tổng tài sản năm 1991 là 137 tỷ đồng,sau 15 năm đến năm 2005 là 13976 tỷ đồng, đến năm 2008 là 30,125.642 tỷ đồng
0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000
1991 1995 2005 2006 2007 2008
Biểu 2.1 Biểu đồ tổng tài sản của Sở giao dịch qua các năm Nguồn: Kỷ yếu 15 năm thành lập SGD (1991 – 2006) và Báo cáo kết quả kinh doanh của SGD giai đoạn 2006 - 2008
Công nghệ là nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng vớitiện ích và chất lượng cao Năm 1992 với hệ thống chuyển tiền điện tử trong nước
và hạch toán kế toán IBS đã đánh dấu bước khởi đầu trong việc hiện đại hóa của Sởgiao dịch Trong năm 1996 – 2000, với việc trang bị 70% máy PC liên kết trênmạng cục bộ (mạng LAN) và liên kết trên mạng rộng (mạng WAN), cùng với hệthống phần mềm kế toán IBS, thanh toán điện tử nội bộ, thanh toán quốc tế(SWIFT), thanh toán bù trừ liên ngân hàng (In terbank) và liên kết tới hệ thốngthông tin CIC đã giúp cho Sở giao dịch triển khai mạnh mẽ hoạt động kinh doanh,ngày càng đáp ứng yêu cầu của khách hàng về thanh toán, tiện ích sản phẩm dịchvụ
Trang 34Từ năm 2003, Sở giao dịch là đơn vị thành viên đầu tiên đã triển khai thànhcông dự án hiện đại hóa ngân hàng do Word Bank tài trợ với tính năng là quản lý dữliệu tập trung, xử lý giao dịch tức thời và hạch toán tự động
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 1991 – 2000: Sở giao dịch được tổ chứcBVQI và QUACERT cấp chứng chỉ đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theotiêu chuẩn ISO 1991 – 2000 cho hầu hết các sản phẩm dịch vụ Các nghiệp vụ đãđược thực hiện theo quy trình thống nhất đảm bảo tính minh bạch, công khai, rõtrách nhiệm đối với từng chủ thể tham gia, tránh phiền hà cho khách hàng và là cơ
sở để xây dựng, nâng cấp chương trình phần mềm xử lý nghiệp vụ
Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng tập thể vững mạnh là một trongnhững thế mạnh tạo nên thành công trong hoạt động của Sở giao dịch cũng như toàn
hệ thống BIDV Thứ nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ thành thạo kỹ năng Từ 16
cán bộ từ ngày đầu thành lập, đến nay Sở giao dịch đã có gần 300 cán bộ độ tuổitrung bình là 27.5 được đào tạo cơ bản và thường xuyên được đào tạo nâng cao kỹnăng nghiệp vụ Với sức trẻ và lòng nhiệt huyết, gắn bó trung thành với sự nghiệp
đã tăng thêm niềm tin của khách hàng với ngân hàng Thứ hai là bồi dưỡng đội ngũcán bộ chủ chốt Phù hợp với sự phát triển mô hình tổ chức và nhiệm vụ kinhdoanh, trong 15 năm đã có 6 đồng chí Giám đốc trong đó có 3 đồng chí đã trở thànhphó tổng giám đốc BIDV, 20 đồng chí phó giám đốc và hàng trăm đồng chí trưởng,phó phòng hiện đang được giữ cương vị công tác tại Sở giao dịch và các đơn vịthành viên trong hệ thống BIDV Ngoài ra hoạt động Đảng bộ vững mạnh, hoạtđộng công đoàn, hoạt động đoàn Thanh niên, phong trào thể thao văn hóa cũng gópphần xây dựng một tập thể vững mạnh trong Sở giao dịch
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Trang 35Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của SGD
Nguồn: Kỷ yếu 15 năm thành lập SGD (1991- 2006) và
Quy định về chức năng, nhiệm vụ của các phòng năm 2008
P Dịch vụ khách hàng doanh nghiệp 2
P Quản lý và dịch vụ kho quỹ
P Thanh toán quốc tế
P Kế hoạch tổng hợp
P Điện toán
P Tài chính kế toán
P Tổ chức nhân sựVăn phòng
Ban giám
đốc
Trang 362.1.2 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
2.1.2.1 Phân tích tài chính
Là một đơn vị trọng điểm trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cùng với chiến lược hoạt động hợp lý và sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên, Sở giao dịch đã gặt hái được những con số ấn tượng trong báo cáo kết quả kinh doanh trong 3 năm gần đây
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của SGD
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SGD giai đoạn 2006 – 2008
Lợi nhuận trước thuế năm 2007 đạt 321,000 triệu đồng, tăng 74% so với năm
2006 Đây là năm có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao nhất trong vòng 5 năm Lợinhuận sau thuế phụ thuộc vào thuế suất và đối tượng chịu thuế (giả sử thuế suất chomọi đối tượng tính toán là 25%) Do vậy, lợi nhuận sau thuế trong năm 2007 có tốc
độ tăng lớn nhất là 74% Nguyên nhân là trong năm 2007, Sở giao dịch đã xây dựng
và triển khai chiến lược kinh doanh một cách hợp lý, có hiệu quả phù hợp và theosát với những diễn biến của nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giớinói chung, nhất là diễn biến của ngành tài chính ngân hàng Mặt khác môi trườngkinh tế vĩ mô, môi trờng kinh tế quốc tế cũng có những thuận lợi đối hoạt động kinhdoanh của ngành ngân hàng tài chính nói chung cũng như BIDV nói riêng, nhất là
so với năm 2008, đó là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được củng cố ở mức cao,
Trang 37dòng vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp đổ vào Việt Nam lớn, cùng với đó là sự ra đờicủa hàng loạt công ty chứng khoán – hàn thử biểu của nền kinh tế, các ngân hàngmới được thành lập, thị trường tài chính được mở rộng và không ngừng phát triển…
Tỷ lệ ROA năm 2007 lại đạt tỷ lệ cao nhất, 0.0134, tương đương 1.34% Dotrong năm 2007, lợi nhuận sau thuế có tốc độ tăng lớn hơn so với năm 2008 và tổngtài sản lại có tốc độ tăng chậm hơn so với năm 2008 dẫn đến tỷ lệ sinh lời của tổngtài sản trong năm 2007 cao hơn trong năm 2008 và cao nhất trong 3 năm Nhưng tỷ
lệ ROE cao nhất vào năm 2008 đạt 0.2661, tương đương 26,61% Do năm 2008, lợinhuận sau thuế lớn hơn và VCSH lại thấp hơn so với năm 2006, 2007 nên dẫn đếnROE cao hơn VCSH giảm 45% là do trong năm 2008 Sở giao dịch đã triển khaicác biện pháp, các sản phẩm, dịch vụ huy động vốn từ cá nhân, tổ chức một cách đadạng, phù hợp làm cho tỷ trọng VCSH trong tổng nguồn vốn giảm đáng kể và con
số tuyệt đối của VCSH giảm so với năm trước
2 Tiền gửi dân cư 2,791,400 2,491,021 (11) 2,355,873 (5)
- Tiền gửi tiết kiệm 2,290,055 2,130,000 (7) 1,865,230 (12)