MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA HÀN QUỐC 6 1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 1.1.1. Khái niệm 6 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 7 1.1.4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 9 1.2. Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc và chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc 11 1.2.1. Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc 11 1.2.2. Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc 11 CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA HÀN QUỐC 13 2.1. Thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc trong những năm gần đây 13 2.1.1. Về đối tác đầu tư 13 2.1.2 Về lĩnh vực đầu tư 13 2.1.3 Về mục đích đầu tư 14 2.2. Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc 14 2.2.1. Thành công 14 2.2.2. Hạn chế 15 CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM THU HÚT, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ FDI TỪ HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM 16 3.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam 16 3.2. Một số đề xuất nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả FDI từ Hàn Quốc vào Việt Nam 21 3.2.1. Đối với nhà nước 22 3.2.2. Đối với doanh nghiệp 22 KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư là tất yếu, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang diễn ra trên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Bên cạnh việc phát huy nguồn lực trong nước, việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng là một nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp bởi đó là cách thức để mở rộng kinh doanh, khai thác những lợi thế vốn có của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài, hoặc tìm kiếm những nguồn lực ở nước ngoài để phát triển. Tại Hàn Quốc, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp xuất hiện khá sớm, từ đó chính phủ cũng đã có sự can thiệp vào hoạt động này thông qua việc ban hành hệ thống các chính sách cụ thể để quản lý và điều tiết. Từ những năm 1990, với chính sách tự do hóa đầu tư ra nước ngoài, các công ty đa quốc gia của Hàn Quốc đã bắt đầu đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Thông qua đó, một số tập đoàn của Hàn Quốc như Samsung, LG và Hyundai đã trở thành những công ty đa quốc gia từ đầu những năm 1990. Sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã thực sự góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao vị thế của các doanh nghiệp Hàn Quốc trên thị trường quốc tế. Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ tư ở Châu Á. Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) dự báo năm 2022 sẽ là năm thứ ba liên tiếp Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 10 toàn cầu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Là quốc gia nổi tiếng được nhiều người biết đến bởi tốc độ phát triển kinh tế thần kỳ từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước phát triển có thu nhập cao chỉ qua vài thế hệ và chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng đã góp phần tích cực giúp cho nền kinh tế Hàn Quốc đứng vững và ngày càng phát triển vượt bậc. Hiện nay Hàn Quốc cũng là một trong những nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất vào Việt Nam với những dự án đầu tư lên tới hàng tỷ USD và đang là một hiện tượng trong thu hút FDI ở nước ta. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã quyết định nghiên cứu đề tài “Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc” nhằm tìm hiểu thực trạng và đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc và thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm thu hút, sử dụng hiệu quả FDI từ Hàn Quốc vào Việt Nam. Thông qua việc tìm kiếm, tham khảo các tài liệu trên giáo trình, các bài viết trên internet,...và do hạn chế về nguồn tài liệu và vốn kiến thức còn hạn hẹp chắc chắn không tránh khỏi còn những thiếu sót, nhóm chúng em rất mong sẽ nhận được các ý kiến đóng góp của cô và mọi người để nội dung bài tiểu luận được hoàn thiện hơn. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA HÀN QUỐC 1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1.1. Khái niệm Theo cách hiểu cung trên phạm vi quốc tế, “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn và người quản lý, kiểm soát, sử dụng vốn là một chủ thể”. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trực tiếp trong nước hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investmentFDI). Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đã đưa ra các khái niệm về FDI: Theo IMF. “FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp và hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”(IMF,1993). Theo OECD, “Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư;(ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có;(iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới;(iv) Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)”(OECD,1999). Từ đó có thể rút ra khái niệm chung về FDI như sau: “FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó”. 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mục đích ưu tiên hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận bởi chủ thể của hoạt động này là tư nhân. Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư. FDI gắn liền với chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. 1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau đây: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: Khi thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường được ưu ái lựa chọn hơn cả thông qua các hình thức công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,… Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước nhận đầu tư (nước sở tại). Nhà đầu tư nước ngoài phải tự quản lý các hoạt động của doanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Nước được đầu tư không phải bỏ vốn nên có thể tránh được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư chủ động đầu tư cả về công nghệ, kỹ thuật các trang thiết bị hiện đại nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa bên hoặc các bên nước chủ nhà với bên hoặc các bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại. Hoạt động của doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố của nước được đầu tư như yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tình trạng pháp luật,… Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh. Hợp đồng BOT, BTO, BT: BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự. Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước…; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước. Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước được đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước được đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước được đầu tư thông qua việc mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nhưng phải đảm bảo đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của doanh nghiệp. Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hóa hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà. 1.1.4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với nước Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Khai thác chuyên gia, nguồn lao động và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa nhằm khai thác khả năng công nghệ và trình độ của chuyên gia, tận dụng nguồn lao động dồi dào và rẻ ở các nước được đầu tư Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Về mặt tích cực: Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp; Thúc đẩy chuyển giao công nghệ; Góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực; Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới;... Về mặt hạn chế: Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ: Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài. Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ. Nước tiếp nhận đầu tư có thể sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp. Các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ. Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu sẽ gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là: Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Gây tổn hại môi trường sinh thái. Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao, và do đó sản phẩm của các nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Phụ thuộc kinh tế đối với các nước nhận đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này năm nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế và các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước. Nếu nước nào tranh tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chóng phát triển công nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia. 1.2. Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc và chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc 1.2.1. Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc Sau Chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trong hơn một thập kỷ. Năm 1960, GDP bình quân đầu người của cả nước chỉ là 79 đô la Mỹ, và sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp là động lực chính cho nền kinh tế quốc dân. Năm 1986, lĩnh vực chế tạo chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 25% lực lượng lao động. Nhờ các ưu đãi mạnh mẽ của nhà nước và viện trợ nước ngoài, các công ty công nghiệp của Seoul đang nhanh chóng đưa công nghệ hiện đại vào các cơ sở sản xuất mới và hiện có, thúc đẩy sản xuất hàng hóa đặc biệt là hàng hóa bán ở thị trường nước ngoài và thu lại số tiền thu được để mở rộng hơn nữa lĩnh vực công nghiệp. Kết quả là, ngành công nghiệp đã cách mạng hóa bộ mặt đất nước, thu hút hàng triệu lao động đến các trung tâm sản xuất đô thị. Năm 1989, nền kinh tế Hàn Quốc bị đình trệ do đơn đặt hàng nước ngoài giảm mạnh, điều này làm dấy lên mối lo ngại sâu sắc trong ngành. Các nhà phân tích tại Bộ Thương mại và Công nghiệp cho rằng kết quả xuất khẩu kém là do các vấn đề cơ cấu trong nền kinh tế quốc gia, bao gồm đồng won mạnh làm tăng chi phí lao động và gây ra các cuộc đình công, tạo việc làm thường xuyên và lãi suất cao. Do đó, hàng tồn kho đã tăng lên và một số nhà sản xuất thiết bị điện tử, ô tô, dệt may và linh kiện lớn đã phải giảm quy mô đáng kể. Các hệ thống tự động hóa của nhà máy đã được giới thiệu để giảm sự phụ thuộc vào lao động, tăng năng suất thay vì thâm dụng lao động và tăng khả năng cạnh tranh. Người ta ước tính rằng hơn 23 các nhà sản xuất Hàn Quốc dành hơn một nửa số vốn hiện có của họ để đầu tư vào cơ sở vật chất và hệ thống tự động hóa. 1.2.2. Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc Về lĩnh vực đầu tư: Trước đây, đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc vào ASEAN chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất sử dụng nhiều lao động xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba, nhưng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước trong khu vực và tốc độ tăng trưởng vốn, khả năng cạnh tranh về công nghệ và Năng lực cạnh tranh về công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, tài chính, bảo hiểm, giải trí, CNTT, xây dựng, bất động sản, hậu cần, bán buôn, bán lẻ, v.v., thông qua mua bán và sáp nhập ... Thâm nhập thị trường địa phương và khu vực ASEAN Tự có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ kể từ đầu những năm 2000. Về mục đích đầu tư: Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài với mục tiêu tiếp cận thị trường (36% mục đích đầu tư); giảm chi phí sản xuất (31%); lấy nguyên liệu; có công nghệ nguồn; tránh các rào cản thương mại và đầu tư kết hợp với phát triển doanh nghiệp. Ngoài ra, gần đây, khi các nước ASEAN tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới (TPP, EU…) với mục tiêu gia công xuất khẩu, các nhà đầu tư Hàn Quốc có xu hướng tận dụng các ưu đãi thuế quan.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
—o0o—
TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
CỦA HÀN QUỐC
Trang 21.2 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc và chính sách đầu tư trực tiếp ra nước
1.2.2 Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc 11
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
3.1 Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam 16 3.2 Một số đề xuất nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả FDI từ Hàn Quốc vào
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng, xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư là tất yếu, trong đó đầu tưtrực tiếp nước ngoài là một hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nướcđầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang diễn ratrên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn Bên cạnhviệc phát huy nguồn lực trong nước, việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng là mộtnhu cầu thiết thực của doanh nghiệp bởi đó là cách thức để mở rộng kinh doanh, khaithác những lợi thế vốn có của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài, hoặc tìm kiếmnhững nguồn lực ở nước ngoài để phát triển
Tại Hàn Quốc, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệpxuất hiện khá sớm, từ đó chính phủ cũng đã có sự can thiệp vào hoạt động này thôngqua việc ban hành hệ thống các chính sách cụ thể để quản lý và điều tiết Từ nhữngnăm 1990, với chính sách tự do hóa đầu tư ra nước ngoài, các công ty đa quốc gia củaHàn Quốc đã bắt đầu đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài Thông qua đó, một sốtập đoàn của Hàn Quốc như Samsung, LG và Hyundai đã trở thành những công ty đaquốc gia từ đầu những năm 1990 Sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đã thực sự góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao vịthế của các doanh nghiệp Hàn Quốc trên thị trường quốc tế
Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ tư ở Châu Á Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF)
dự báo năm 2022 sẽ là năm thứ ba liên tiếp Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 10 toàncầu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Là quốc gia nổi tiếng được nhiều người biếtđến bởi tốc độ phát triển kinh tế thần kỳ từ một trong những nước nghèo nhất thế giớitrở thành nước phát triển có thu nhập cao chỉ qua vài thế hệ và chính sách đầu tư trựctiếp ra nước ngoài cũng đã góp phần tích cực giúp cho nền kinh tế Hàn Quốc đứngvững và ngày càng phát triển vượt bậc Hiện nay Hàn Quốc cũng là một trong nhữngnhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất vào Việt Nam với những dự án đầu tưlên tới hàng tỷ USD và đang là một hiện tượng trong thu hút FDI ở nước ta Chính vìvậy, nhóm chúng em đã quyết định nghiên cứu đề tài “Chính sách đầu tư trực tiếp ranước ngoài của Hàn Quốc” nhằm tìm hiểu thực trạng và đánh giá tình hình đầu tư trực
Trang 4tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc và thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của HànQuốc vào Việt Nam để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm thu hút, sử dụng hiệu quảFDI từ Hàn Quốc vào Việt Nam Thông qua việc tìm kiếm, tham khảo các tài liệu trêngiáo trình, các bài viết trên internet, và do hạn chế về nguồn tài liệu và vốn kiến thứccòn hạn hẹp chắc chắn không tránh khỏi còn những thiếu sót, nhóm chúng em rấtmong sẽ nhận được các ý kiến đóng góp của cô và mọi người để nội dung bài tiểu luậnđược hoàn thiện hơn.
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA HÀN QUỐC 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo OECD, “Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệkinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khảnăng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thànhlập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý củachủ đầu tư;(ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có;(iii) Tham gia vào một doanhnghiệp mới;(iv) Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)”(OECD,1999)
Từ đó có thể rút ra khái niệm chung về FDI như sau: “FDI là một hình thức đầu
tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu
tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát
dự án đó”
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mục đích ưu tiên hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận bởi chủ thể của hoạtđộng này là tư nhân
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanhnghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phảilợi tức
FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràngbuộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư
Trang 6FDI gắn liền với chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thôngqua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến,học hỏi kinh nghiệm quản lý.
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới các hìnhthức chủ yếu sau đây:
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài:
Khi thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hình thức doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài thường được ưu ái lựa chọn hơn cả thông qua các hình thức công ty cổphần, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,… Doanh nghiệp có 100% vốnđầu tư nước ngoài phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước nhận đầu tư (nước sởtại) Nhà đầu tư nước ngoài phải tự quản lý các hoạt động của doanh nghiệp và tự chịutrách nhiệm về kết quả kinh doanh Nước được đầu tư không phải bỏ vốn nên có thểtránh được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh Nhà đầu tưchủ động đầu tư cả về công nghệ, kỹ thuật các trang thiết bị hiện đại nhằm đạt đượchiệu quả kinh tế cao
Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài:
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ
sở hợp đồng liên doanh ký giữa bên hoặc các bên nước chủ nhà với bên hoặc các bênnước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại Hoạt động của doanh nghiệp liêndoanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố của nước được đầu tư như yếu tố kinh tế, chính trị,
xã hội, tình trạng pháp luật,…
Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyếttình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tếnhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm;tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nướcngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nướcngoài Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nướcngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện chonước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có
Trang 7nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp
do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyềnthống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệgóp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liêndoanh yếu
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC):
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tưnhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thànhlập pháp nhân
Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, côngnghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thulợi nhuận tương đối ổn định Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếpnhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối vớimột số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọihoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại Do đó, về phía nhà đầu tư, họrất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giảnnhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạnđầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI Khi các hình thức100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh
Hợp đồng BOT, BTO, BT:
BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhànước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kếtcấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao khôngbồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khaithác, chuyển giao được đảo lộn trật tự
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhànước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sânbay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước…; bắt buộc đến thời hạn phải chuyểngiao không bồi hoàn cho Nhà nước
Trang 8Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạtầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn chongân sách nhà nước Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những côngtrình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế Tuynhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách;nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ.
Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp:
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nướcđược đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trườngchứng khoán nước được đầu tư
Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước được đầu tư thông qua việc mua cổphần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nhưng phải đảm bảo đáp ứng điều kiện về tỷ
lệ sở hữu vốn điều lệ của doanh nghiệp
Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là
để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanhnghiệp bên bờ vực phá sản Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định củathị trường tài chính Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hóa hoạtđộng đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắcrối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà
1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đối với nước Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:
Các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phísản xuất thấp hơn
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương
Khai thác chuyên gia, nguồn lao động và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theohướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chícòn mạnh mẽ hơn nữa nhằm khai thác khả năng công nghệ và trình độ của chuyên gia,tận dụng nguồn lao động dồi dào và rẻ ở các nước được đầu tư
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công
ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú
Trang 9Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
tế với khu vực và thế giới;
Về mặt hạn chế:
Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ: Mục đích cao nhất của các nhàđầu tư là lợi nhuận Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đềuđược các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dânsinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nướcngoài
Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ Nước tiếp nhận đầu tư có thể sẽ nhậnnhiều kỹ thuật không thích hợp Các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển giaonhững công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ Do vậy việc chuyển giaocông nghệ lạc hậu sẽ gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là: Rất khó tính đượcgiá trị thực của những máy móc chuyển giao đó Gây tổn hại môi trường sinh thái.Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao, và do đó sản phẩm của các nước nhận đầu
tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
Phụ thuộc kinh tế đối với các nước nhận đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước ngoàithường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng cáccông ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹthuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia Đầu tư trực tiếpnước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế
và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thôngqua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thểtiêu thụ hàng hóa vì các công ty này năm nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từnước này sang nước khác Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài,thì sự phụ thuộc của nền kinh tế và các nước công nghiệp phát triển càng lớn Nhưng
Trang 10vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận
kỹ thuật của từng nước Nếu nước nào tranh tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnhhưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chóng phát triểncông nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ vàtiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽđược rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia
1.2 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc và chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc
1.2.1 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc
Sau Chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhấtthế giới trong hơn một thập kỷ Năm 1960, GDP bình quân đầu người của cả nước chỉ
là 79 đô la Mỹ, và sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp là động lực chính cho nềnkinh tế quốc dân Năm 1986, lĩnh vực chế tạo chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm quốcnội (GDP) và sử dụng 25% lực lượng lao động Nhờ các ưu đãi mạnh mẽ của nhànước và viện trợ nước ngoài, các công ty công nghiệp của Seoul đang nhanh chóngđưa công nghệ hiện đại vào các cơ sở sản xuất mới và hiện có, thúc đẩy sản xuất hànghóa - đặc biệt là hàng hóa bán ở thị trường nước ngoài - và thu lại số tiền thu được để
mở rộng hơn nữa lĩnh vực công nghiệp Kết quả là, ngành công nghiệp đã cách mạnghóa bộ mặt đất nước, thu hút hàng triệu lao động đến các trung tâm sản xuất đô thị Năm 1989, nền kinh tế Hàn Quốc bị đình trệ do đơn đặt hàng nước ngoài giảmmạnh, điều này làm dấy lên mối lo ngại sâu sắc trong ngành Các nhà phân tích tại BộThương mại và Công nghiệp cho rằng kết quả xuất khẩu kém là do các vấn đề cơ cấutrong nền kinh tế quốc gia, bao gồm đồng won mạnh làm tăng chi phí lao động và gây
ra các cuộc đình công, tạo việc làm thường xuyên và lãi suất cao Do đó, hàng tồn kho
đã tăng lên và một số nhà sản xuất thiết bị điện tử, ô tô, dệt may và linh kiện lớn đãphải giảm quy mô đáng kể Các hệ thống tự động hóa của nhà máy đã được giới thiệu
để giảm sự phụ thuộc vào lao động, tăng năng suất thay vì thâm dụng lao động và tăngkhả năng cạnh tranh Người ta ước tính rằng hơn 2/3 các nhà sản xuất Hàn Quốc dànhhơn một nửa số vốn hiện có của họ để đầu tư vào cơ sở vật chất và hệ thống tự độnghóa
Trang 111.2.2 Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc
Về lĩnh vực đầu tư: Trước đây, đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc vào ASEANchủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất sử dụng nhiềulao động xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba, nhưng với sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ của các nước trong khu vực và tốc độ tăng trưởng vốn, khả năng cạnh tranh vềcông nghệ và Năng lực cạnh tranh về công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch
vụ, tài chính, bảo hiểm, giải trí, CNTT, xây dựng, bất động sản, hậu cần, bán buôn,bán lẻ, v.v., thông qua mua bán và sáp nhập Thâm nhập thị trường địa phương vàkhu vực ASEAN Tự có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ kể từ đầu những năm 2000
Về mục đích đầu tư: Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài với mục tiêu tiếp cận thịtrường (36% mục đích đầu tư); giảm chi phí sản xuất (31%); lấy nguyên liệu; có côngnghệ nguồn; tránh các rào cản thương mại và đầu tư kết hợp với phát triển doanhnghiệp Ngoài ra, gần đây, khi các nước ASEAN tham gia các hiệp định FTA thế hệmới (TPP, EU…) với mục tiêu gia công xuất khẩu, các nhà đầu tư Hàn Quốc có xuhướng tận dụng các ưu đãi thuế quan
Trang 12CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
HÀN QUỐC 2.1 Thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc trong những năm gần đây
2.1.1 Về đối tác đầu tư
Về đối tác đầu tư: Hàn Quốc có các dự án đầu tư ở tất cả các khu vực trên thế giới, có dự án tại 188 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), Hoa Kỳ (83 tỷ đô la Mỹ), Việt Nam (20,635 tỷ đô la Mỹ), Australia (17,38 tỷ đô la Mỹ), Hà Lan (15,26 tỷ đô la Mỹ), Hà Lan ( 15,26 tỷ USD), Quần đảo (14,83 tỷ USD), Canada (13,91 tỷ USD), Indonesia (12,92 tỷ USD), Vương quốc Anh (12,5 tỷ USD), Malaysia (11.063 USD)
Ngoài Việt Nam, Indonesia và Malaysia trong TOP 10, tổng vốn đăng ký của các nước ASEAN như Singapore, Myanmar, Campuchia, Philippines, Thái Lan và Lào đứng trong TOP 40 về thị trường đầu tư Hàn Quốc, từ 1 đến 10 tỷ đô la Mỹ Khu vực ASEAN là khu vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn thứ ba của Hàn Quốcsau Trung Quốc và Hoa Kỳ, với tổng vốn đầu tư đăng ký lũy kế đạt khoảng 71,422 nghìn tỷ USD (17,1% tổng vốn FDI) 9.989 dự án (16,3% số dự án) với số vốn giải ngân xấp xỉ 42,7 tỷ đô la Mỹ, đạt khoảng 59,7%, thấp hơn tỷ trọng khoảng 70% tổng
số tiền thanh toán
2.1.2 Về lĩnh vực đầu tư
Trước đây, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc vào ASEAN chủ yếu tập trungvào lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động để xuất khẩu sangthị trường nước thứ 3 Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của cácnước trong khu vực cũng như sự lớn mạnh về sức cạnh tranh về vốn, công nghệ củacác doanh nghiệp Hàn Quốc, đầu tư vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng, dịch vụ, tàichính, bảo hiểm, giải trí, CNTT, xây dựng, bất động sản, logistic, bán buôn, bán lẻ,qua hình thức M&A với mục tiêu thâm nhập thị trường các nước bản địa và trongkhu vực ASEAN có xu hướng gia tăng mạnh từ đầu thế kỷ 21
Trong thời gian tới, một số lĩnh vực đầu tư mà các nhà đầu tư Hàn Quốc sẽ tiếp
tục đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam là: lĩnh vực công nghiệp điện tử (đi đầu là Samsung, LG cùng các doanh nghiệp vệ tinh) ; phân phối, bán buôn bán lẻ (Lotte,