LÞch sö TriÕt häc Phng §«ng cæ ®¹i; LÞch sö triÕt häc Hy L¹p cæ ®¹i Sù gièng vµ kh¸c nhau gi÷a chóng §Ò bµi So s¸nh gi÷a triÕt häc ph¬ng §«ng vµ triÕt häc T©y lêi më ®Çu Phương Đông để chỉ các nước[.]
Trang 1§Ò bµi : So s¸nh gi÷a triÕt häc ph¬ng §«ng vµ triÕt
häc T©y.
lêi më ®Çu
Ph ươ ng Đông đ ch các nể ỉ ước châu Á các nên văn minh trên ba l uư
v c sông l n: sông Nin, sông H ng, sông Hoàng Hà, ch y u là Ai C p, ự ớ ằ ủ ế ậ ả
r p, n đ và Trung Hoa H u h t các n n tôn giáo l n c a th gi i đ uậ ấ ộ ầ ế ề ớ ủ ế ớ ề
đ i l i là tri t h c ch t ch , th ng nh t thành h th ng c a Tây Tri t h cố ạ ế ọ ặ ẽ ố ấ ệ ố ủ ế ọ
phương Tây đi t g c lên ng n (t th gi i quan, vũ tr quan, b n thừ ố ọ ừ ế ớ ụ ả ể
lu n t đó xây d ng nhân sinh quan con ngậ ừ ự ười;) trong khi tri t h cế ọ
phương Đông đi t ng n xu ng g c (t nhân sinh quan, v n đ cách s ng,ừ ọ ố ố ừ ấ ề ố
l i s ng sau đó m i là vũ tr quan, b n th lu n ) Đó là 2 nét chính c aố ố ớ ụ ả ể ậ ủhai n n tri t h c Đông - Tây.ề ế ọ
Trang 2I Lịch sử Triết học Ph ơng Đông cổ đại; Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại- Sự giống và khác nhau giữa chúng.
Lịch sử triết học là môn học mang lại cho ngời họcnhững hiểu biết mang tính hệ thống về quá trình hìnhthành và phát triển t duy Triết học- cơ sở của t duy lý luậnnhân loại Qua đó, làm phong phú đời sống tinh thần vànâng cao năng lực sử dụng t duy vào việc giải quyết các vấn
đề do nhận thức khoa học và thực tiễn cuộc sống đặt ra.Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiệnvào khoảng thế kỷ VIII- VI (Tr CN) ở ấn Độ cổ đại, Trung Quốc
cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở một số nớc khác
1 Lịch sử triết học Phơng Đông cổ đại.
Lịch sử các nền văn minh nhân loại đã cho thấy, thời
điểm bắt đầu của Triết học Phơng Đông có thể vào khoảng
3000 năm TCN Trên 3 vùng đất rộng lớn với nhiều dân tộckhác nhau là vùng Trung cận đông, vùng ấn Độ và vùng TrungQuốc Vùng Trung Cận Đông cách đây 5000 năm đã phát sinhnhiều nền văn minh rực rỡ, tiến bộ nhất lúc bấy giờ Khoảngtrên 300 năm TCN, những thành tựu về Triết học của vùngtrung cận đông đã bị chia thành 2 ngả, ngả thứ nhất gianhập vào văn minh Ba T, ngả thứ hai gia nhập vào văn minh
Hy Lạp Phần còn lại bị lãng quên và hoàn toàn không có điềukiện nảy sinh trớc sự bành trớng, thống trị tuyệt đối của đạo
Do Thái và sau nữa là đạo Hồi Do đó, Triết học Phơng Đông
từ thời cổ đại đến nay chỉ còn nổi bật hai nền Triết họclớn- đó là nền Triết học ấn Độ và nền Triết học Trung Quốc.Hai nền triết học này phát triển rực rỡ vào cuối thời kỳ cổ đại
và đầu thời kỳ phong kiến
Trang 3a Triết học ấn Độ cổ đại- Lịch sử hình thành và phát triển.
ấn Độ là một đất nớc rộng lớn thuộc bán đảo Nam á baogồm cả nớc Pakixtan, Bănglađét và NêPan ngày nay Khắpvùng từ Đông Bắc và Tây Bắc của ấn Độ cổ đại núi non trùng
điệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2.600 km Dãy núiVinđya phân chia ấn Độ thành 2 miền Nam và Bắc MiềnBắc có hai con sông lớn là sông ấn ở phía Tây và sông Hằng
ở phía Đông, chúng tạo nên hai đồng bằng màu mỡ- cái nôicủa nền văn minh cổ ấn Độ Trớc khi đổ ra biển, sông ấn chialàm 5 nhánh và biến lu vực của mình thành đồng bằngPungiáp Đối với ngời ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng
có thành phố Varanadi bên bờ, nơi đây từ ngàn xa, ngời ấn
Độ c hành lễ tắm truyền thống mang tính chất tôn giáo, Cdân ấn Độ rất đa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc khácnhau, nhng về chủng tộc, có hai loại chính là ngời Đravida ctrú chủ yếu ở miền Nam và ngời Arya chủ yếu sống ở miềnBắc Từ trong nền văn minh sông ấn của ngời bản địa
Đraviđa xa xa, Nhà nớc ấn Độ cổ đại đã xuất hiện, các ngànhnghề nông nghiệp, thủ công nghiệp, thơng nghiệp đã hìnhthành Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XIII TCN, thiên tai (lũ lụttrên sông ấn) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ Voàkhoảng thế kỷ XV TCN, các bộ lạc du mục Arya ở Trung á xâmnhập vào ấn Độ Họ định canh, định c và tiến hành quátrình nô dịch, đồng hoá, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa
Đraviđa KInh tế tiểu nông kết hợp với thủ công nghiệp gia
đình mang tính tự cung, tự cấp lấy gia đình, gia tộc củangời Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các
Trang 4công xã nông thôn ra đời và sớm đợc khẳng định.
Trong mô hình công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất
đều thuộc quyền sở hữu Nhà nớc của các đế vơng, Nhà nớckết hợp với tôn giáo trị nhân dân và bóc lột nông nô côngxác; tôn giáo bao trùm mọi mặt đời sống xã hội; con ngời sốngnặng về tâm linh tinh thần và khao khát đợc giải thoát.Cũng trong mô hình này đã hình thành 4 đẳng cấp với sựphân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng Đó là: Tăng lữ -
đẳng cấp cao quý nhất trong xã hội bao gồm những ngờihành nghề tế lễ; quý tộc - đẳng cấp thứ hai trong xã hội -bao gồm vua, chúa, tớng lĩnh, bình dân tự do - đẳng cấpthứ 3 trog xã hội - bao gồm những ngời có chút tài sản, ruộng
đất; tiện nô hay nô lệ - đẳng cấp thấp nhất và đông đảonhất - bao gồm những ngời tận cùng không có quyền lợi gìtrong xã hội Ngoài sự phân biệt đẳng cấp nh trên, xã hội ấn
Độ cổ đại còn có sự phân biệt về chủng tộc, dòng dõi, tôngiáo, nghề nghiệp
Những sự phân biệt này đã tạo ra những xung độtngấm ngầm trong xã hội nhng bị kìm giữ bởi sức mạnh vậtchất và tinh thần của Nhà nớc - tôn giáo Xã hội vận động,phát triển một cách chậm chạp và nặng nề Tuy vậy, nhândân ấn Độ vẫn đạt đợc những thành tựu văn hoá tinh thầnrực rỡ
Về văn hoá, chữ viết đã đợc ngời ấn Độ sáng tạo từ thờivăn háo Harappa, sau đó chữ Kharosthi (thế kỷ VTCN) ra
đời; chữ Brami đợc dùng rộng rãi vào thời vua Axôca, saucùng, nó đợc cáhc tân thành chữ Đêvanagari để viết tiếngXanxcrit Văn học có các bộ Vêđa - là các thần thoại diễn ca
Trang 5truyền khẩu đợc sáng tạo trong một quãng thời gian dài hơn
1000 năm; sau đó, nó đợc ghi thành giáo lý của đạo Bàlamon Vêđa vốn óc nghĩa là hiểu biết, nó là nền tảng t t-ởng tôn giáo - triết học - chính trị của ấn Độ cổ đại; các bộ
Sử thi (Mâhbarata, Râymyana ) nghệ thuật nổi bật lànghệ thuật tạo hình nh kiến trúc, điêu khắc đợc thể hiệntrong các cung điện, nhà chùa, tháp, lăng tẩm, trụ đá (thápXansi (Sanchi)), trụ đá Sarnath, lăng Tajmaha, các tợng phật
và tợng thần
Về khoa học tự nhiên: Ngời ấn Độ đã làm ra lịch pháp,
phân biệt đcợ 5 hành tinh và một số chòm sao; đã phát hiện
ra chữ số thập phân, số , xây dựng môn đại số học đã biếtcách tính diện tích các hình đơn giản và xác định đợcquan hệ giữa các cạnh của một tam giác vuông; đã đa ra giảthuyết nguyên tử Ngời ấn Độ cũng có nhiều thành tựu trong
y dợc học
Về tôn giáo: ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo,
trong đó quan trọng nhất là đạo Bà lamôn (về sau là đạoHinđu) và đạo phật, ngoài ra còn có các tôn giáo khác nh đạoJaira, đạo xích
Tạo nên và nuôi dỡng các thành tựu đó là lịch sử ấn Độ
cổ và trọng đại Lịch sử này gồm 4 thời kỳ
Thời kỳ văn minh Sông ấn (từ giữa thiên niên kỷ III đếngiữa thiên niên kỷ II TCN) Nền văn minh này đợc biết đếnqua sự phát hiện hai thành phố bị chôn vùi Haráppa vàMohenjo Đaroo ởl u vực Sông ấn vào năm 1920 nên còn đợcgọi là văn hoá Harâppa
Thời kỳ văn minh Vêđa (từ giữa thiên niên kỷ II đến thế
Trang 6kỷ VII TCN) Nét nổi bật của nền văn minh này là sự thâmnhập của ngời Arya từ Trung á vào khu vực của ngời bản địasớm phản ánh sinh hoạt của họ, và sự pha trộn giữa hai nềnvăn hoá - tín ngỡng của hai chủng tộc khác nhau Chế độ
đẳng cấp và đạo Bàlamôn xuất hiện góp phần hình thànhmột nền văn hoá mới của ngời ấn Độ - văn hoá Vêđa
Thời kỳ các vơng triều độc lập (từ thế kỷ VI TCN đếnthế kỷ XII) đây là thời kỳ có những biến động lớn về kinh
tế, chính trị - xã hội, t tởng - văn hoá với sự ra đời của cácquốc gia và sự hình thành các trờn phái Triết học - tôn giáolớn của ấn Độ Thế kỷ VI TCN, ở ấn Độ có 16 nớc nhỏ trong đónớc mạnh nhất là Magađa nằm ở vùng hạ lu sông Hằng Năm
327 TCN, sau khi diệt đợc đế quốc Ba t rộng lớn, quân độiMakêđônia do Alếch xăngđrơ chỉ huy đã tiến chiếm ấn Độ.Nhng do quá mệt mỏi mà họ không đủ sức tấn công nớcMagađa Alếch xăng đrơ cho quân rút lui Khi quân độiMakêđônia rút lui, thủ lĩnh Sanđragupta, biệt hiệu Môrya(chim công) lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng, đánh
đuổi quân Makêđôria ra khỏi ấn Độ, làm chủ vùng Pungiáp,lập nên vơng triều Môrya - vơng triều huy hoàng nhất tronglịch sử ấn Độ cổ đại
Vào thời vua Axôca (273 - 236 TCN), vơng triều Môryacực thịnh, với đạo phật phát triển rực rỡ Sau đó vơng triềusuy yếu dần và bị diệt vong vào năm 28 TCN ấn Độ bị chiacắt Đến thế kỷ I, bộ tộc Cusan (cùng huyết thống với ngờiTuốc) từ Trung á tràn vào và chiếm lấy vùng Tây Bắc lập nênnớc Cusan Vào thời vua Canixca (78 - 123), nớc Cusan pháttriển rực rỡ, đạo phật lại hng thịnh, rồi sau đó suy yếu dần,
Trang 7lãnh thổ thu hẹp lại trong vùng Pungiáp, và cuối cùng bị diệtvong vào thế kỷ V Dù bị chia cắt, nhng vào năm 320, vơngtriều Gupta đã đợc thành lập ở miền Bắc và một phần miềnTrung ấn Độ Từ năm 500 đến năm 528 miền Bắc ấn Độ bịngời Eptalit chiếm đóng Năm 535 vơng triều này bị diệtvong Năm 606, vua Hác sa lập nên vơng triều Hác sa hùngmạnh ở miền Bắc, năm 648, ông mất vơng triều cũng tan rã.Ngay từ đầu thế kỷ XI, các vơng triều hồi giáo ở ápganixtanluôn tấn công ấn Độ; đến năm 1200, miền Bắc ấn Độ đã bịsáp nhập vào ápganixtan.
Thời kỳ các vơng triều lệ thuộc (từ thế kỷ XIII đến giữathế kỷ XIX) Năm 1206, viên tổng đốc ápganixtan ở miềnBắc ấn Độ đã tách miền Bắc ấn Độ ra thành một nớc riêngbiệttự mình làm Xuntan (vua), đóng đô ở Đêli và gọi tên nớc
là Xunta Đê li (1206 - 1526) trải qua 5 vơng triều do ngờihồi giáo ngoại tộc cai trị, đến năm 1526 dòng dõi ngời Mông
cổ ở Trung á, bị tuốc hoá theo đạo Hồi tấn công và chiếm lấy
ấn Độ lập nên vơng triều Môgôn Năm 1849, thực dân Anhbắt đầu chinh phục ấn Độ Năm 1857, vơng triều Môgôn bịdiệt vong ấn Độ trở thành thuộc địa của thực dân Anh
Các đặc điểm cơ bản của Triết học ấn Độ cổ đại.
Tất cả những yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị và trithức đã hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát triển những ttởng triết học - tôn giáo ấn Độ cổ đại
Căn cứ vào sự phát sinh và phát triển của những t tởngtriết học - tôn giáo của ngời ấn Độ cổ đại thì có thể nói tới bagiai đoạn sau đây
Giai đoạn thứ nhất: (từ giữa thiên niên kỷ III TCN đến
Trang 8khoảng giữa thiên niên kỷ II TCN) Đây là giai đoạn thờng đợcgọi là nền văn hoá Harappa (hay nền văn minh sông ấn) -khởi đầu của nền văn hoá ấn Độ, mà cho tới nay ngời ta cònbiết quá ít về nó ngoài những t liệu khảo cổ học vào nhữngthập kỷ đầu thế kỷ XX.
Giai đoạn thứ hai: (Tiếp nối giai đoạn thứ nhất tới thể kỷ
VII TCN) Đây là thời kỳ có sự thâm nhập của ngời Arya (gốc
ấn - Âu) vào khu vực của ngời Đraviđa (ngời bản địa) Đây là
sự kiện quan trọng về lịch sử, đánh dấu sự hoà trộn giữa hainền văn hoá - tín ngỡng của hai chủng tộc khác nhau Chínhquá trình này đã làm xuất hiện một nền văn hoá mới của ng-
ời ấn Độ; nền văn hoá Vêđa
Giai đoạn thứ ba: trong khoảng 5 - 6 thế kỷ (từ thế kỷ VI
TCN đến thế kỷ I TCN) đây là thời kỳ ấn Độ cổ đại cónhững biến động lớn cả về kinh tế, chính trị xã hội và t tởngcũng là thời kỳ nền kinh tế chính trị xã hội và t tởng cũng làthời kỳ hình thành các trờng phái triết học - tôn giáo lớn Đó là
9 hệ thống t tởng lớn, đợc chia làm hai phái chính thống vàkhông chính thống Thuộc phái chính thống gồm có:Sankhya, Mimâm, Vêdanta, Yoga, Nyàya, và Vaisêsika Thuộcphái không chính thống có Jaira, Lokayata và phật giáo
Từ hoàn cảnh lịch sử và truyền thống Vêđa, triết học ấn
Độ cổ đại đã hình thành và phát triển Chính Upanisát - tácphẩm Vêđa xuất hiện muộn nhất - đã thể hiện rõ nhữngtriết lý sâu sắc của ngời ấn Độ Những triết lý này đã tạothành những mạch sởi ngầm làm phát sinh ra nhiều dòngchảy t tởng Triết học - tôn giáo của ấn Độ Upanisat cố lý giảinhững vấn đề về bản thể - nhân sinh, về sự sống - cái
Trang 9chết nó ảnh hởng sâu đậm đến đời sống tinh thần củangời ấn Độ nói riêng, của nhiều dân tộc Phơng Đông nóichung.
Dù cùng đợc hình thành và phát triển từ trong truyềnthống Vêđa, nhng các trờng phái triết học ấn Độ cổ đại lạiluôn xung đột lẫn nhau và sự xung đột này kéo dài cho đếnhết thời trung đại Tuỳ thuộc vào việc có thừa nhận haykhông quyền uy, sức mạnh của Vêđa mà các trờng phái triếthọc ấn Độ đợc chia thành hệ thống chính thống và hệ thốngkhông chính thống Mặc dù có những trờng phái, hệ thốngkhác nhau nhng nhìn chung, triết học ấn Độ cổ đại cónhững đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, do chịu ảnh hởng bởi tinh thần Vêđa mà triết
học ấn Độ cổ đại không thể phân chia rõ ràng thành chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng vàphép siêu hình (nh triết học phơng tây), mà chủ yếu đợcchia thành các hệ thống chính thống và các hệ thống khôngchính thống trong các trờng phái triết học cụ thể luôn có sự
đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,giữa phép biện chứng và phép siêu hình với nhau
Thứ hai, do chịu ảnh hởng sâu sắc bởi các t tởng tôn
giáo mà triết học ấn Độ cổ đại thờng là một bộ phận lý luậnquan trọng tạo nên nội dung giáo lý của các tôn giáo lớn Tuynhiên, tôn giáo của ấn Độ không có xu hớng "hớng ngoại" đểtìm kiếm sức mạnh nơi thợng đến (nh các tôn giáo phơngtây) mà có xu hớng "hớng nội" đi sâu tìm hiểu đời sốngtâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cánhân con ngời, vì vậy, triết học ấn Độ cổ đại mang nặng
Trang 10tính chất duy tâm chủ quan và thần bí.
Thứ ba, triết học ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn
đề, song nó rất quan tâm đến việc giải quyết các vấn đềthuộc về lĩnh vực nhân sinh, nhằm tìm kiến con đờng giảithoát chúng sinh ra khỏi thực tế khắc nghiệt của cuộc sống
do chế độ đẳng cấp tạo ra
b Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển, các đặc
điểm cơ bản của triết học Trung Hoa cổ đại.
- Trung Hoa là một đất nớc rộng lớn thuộc vùng Đông á.Trên lãnh thổ Trung Hoa có hai con sông lớn chảy qua: SôngHoàng Hà ở phía bắc và sông Trờng Giang ở phía nam Lúcmới lập quốc, tức vào thế kỷ XXI TCN, Trung Hoa chỉ là mộtvùng nhỏ ở trung lu sông Hoàng Hà Dần dần, lãnh thổ đợc
mở rộng, đến thế kỷ XVIII về cơ bản đợc xác định nh hiệnnay
Dân tộc chủ yếu của Trung Hoa hiện nay là dân tộcHán, mà tiền thân của nó có nguồn gốc Mông Cổ, đợc gọi làHoa Hạ (hay Hoa/Hạ), sống du mục thích săn bắn và chinhphục Còn c dân phía nam Trờng Giang là các dân tộc BáchViệt, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, định canh, định c,
có nền văn hoá riêng, nhng sau này, dần dần bị dân tộc Hán
đồng hoá
Lịch sử Trung Hoa cổ đại đầy biến động có thể kháiquát nh sau: Theo truyền thuyết vào thời cổ Trung Quốc làmột xã hội thanh bình do những thủ lĩnh tài đức dẫn dắt làPhục Hy, Thần Nông, Toại Nhân (thời Tam Hoàng) Đến nửa
đầu thiên niên kỷ III TCN ở vùng Hoàng Hà xuất hiện một thủlĩnh bộ lạc họ Cơ, hiệu là Thiên Viên, mà ngời Trung Hoa tôn
Trang 11gọi là Hoàng Đế, và coi là Thủy tổ của mình Tiếp theoHoàng Đế là Chuyên Húc, Đế Cốc, Đờng Nghiêu, Ngu, Thuấn vàHạ Vũ cũng là những thủ lĩnh tốt (thời Ngũ Đế) Khi Hạ Vũmất, con là Khải đợc tôn lên làm Vua Trung Quốc bắt đầu từvờng triều nhà Hạ, và trải quza hai vơng triều nhà Thơng ànhà Chu.
Vơng triều Hạ (thế kỷ XXI - thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ
đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì bị diệt vong Thờinày, ngời Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, chữ viếtcha có, dân c sống phân tán chịu sự chi phối bởi những thếlực tự nhiên và ma thuật
Vơng triều Thơng (còn gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XIITCN) do Thành Thang thành lập tồn tại tới thời vua Trụ thì bịdiệt vong Thời này, ngời Trung Quốc sống định canh, định
c, biết dùng đồng thau khai khẩn ruộng đất và thực hiện ờng lối tỉnh điền; ma thuật đợc thay bằng tín ngỡng thờphụng tổ tiên và thần xã - tắc; ý tởng về lực lợng siêu nhiênhình thành qua biểu tựng Đế (Thợng Đế hay Trời); chữ viết
đ-đã xuất hiện
Vơng triều Chu (thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vơngthành lập, tồn tại hơn 8 thế kỷ trải qua thời Tây Chu đóng
đô ở Cảo Kinh, trớc 771 TCN và thời Đông Chu đóng đô ở Lạc
ấp Thời Tây Chu, đất nớc Trung Hoa tơng đối ổn định
Nh-ng saNh-ng thời ĐôNh-ng Chu, khi đồ sắt đợc dùNh-ng phổ biến, cácchế độ sở hữu t nhân về ruộng đất đợc hình thành thaythế cho chế độ ruộng đất tỉnh điền trớc đó đã làm nảysinh một loạt những thế lực chính trị mới Đó là tầng lớp địachủ mới đang lấn át và xung đột gay gắt với tầng lớp quý tộc
Trang 12cũ Do vậy, xã hội rơi vào tình trạng rối ren, các giá trị chuẩnmực cộng đồng bị đảo lộn Sự tranh giành địa vị xã hội củacác thế lực chính trị đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vàotình trạng chiến tranh khốc liệt Thời này bao gồm hai thời
kỳ nhỏ là Xuân Thu (722 481 TCN) và Chiến Quốc (403
-221 TCN) Thời Xuân Thu đất nớc loạn lạc với hơn 400 cuộcchiến lớn nhỏ làm cho 160 nớc ban đầu sau hơn hai thế kỷ
đánh nhau chỉ còn lại 5 nớc lớn là Tề, Tấn, Tống, Sở, Tần (cụcdiện ngũ bá) Sau đó xuất hiện nay nớc nữa là Ngô và Việt(cục diện thất hùng) Vào thời Chiến Quốc những cải cáchhiệu quả đã làm cho nhà Tần ngày càng mạnh Với sự lãnh đạocủa Tần Thuỷ Hoàng, nhà Tần đã tiêu diệt các nớc khác, thốngnhất giang sơn, xây dựng nhà nớc phong kiến trung ơng tậpquyền đầu tiên của xã hội Trung Quốc
- Các đặc điểm cơ bẩn của triết học Trung Hoa cổ đạiMặc dù xã hội đầy biến động nhng trong sự biến động
đó, nhân dân Trung Hoa đã tạo nên một nền văn hoá rất rực
rỡ về chữ viết Chữ giáp cốt ra đời từ thời nhà Thơng đợc cảicách thành chữ kim văn vào thời Tây Chu, chúng đợc gọichung là chữ Đại triện Sang thời Tần Thủy Hoàng chữ Tiểutriện ra đời rồi thông qua chữ lệ, xuất hiện chữ Hán
Về văn học: Có Kinh thi và Thơ Đờng cùng hàng loạt tiểuthuyết Minh - Thanh
Về sử học: Ngoài các sách Xuân Thu, còn có Sử ký, Hán
th và nhiều bộ sử do quan sử của nhà nớc biên soạn
- Về toán học, thiên văn học pháp, ngời Trung Hoa cũng
có những thành tựu rực rỡ Đặc biệt, họ có một nền y dợc vàgiáo dục đào toạ rất chi tiết, có tác dụng rất lớn đến đời