1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp

14 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp
Tác giả Bùi Anh Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 78,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Đề tài TRIẾT LÝ KINH DOANH VÀ TRIẾT LÝ DOANH NGHIỆP Họ và tên Bùi Anh Quốc Mã học viên EMBA14105 Lớp EMBA14C Hà Nội 2015 MỤ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài:

TRIẾT LÝ KINH DOANH VÀ TRIẾT LÝ DOANH NGHIỆP

Họ và tên: Bùi Anh Quốc

Mã học viên: EMBA14105

Hà Nội - 2015

MỤC LỤC

Trang 2

I Khái niệm về triết học và triết lý kinh doanh 1

1 Khái niệm triết học 1

2 Khái niệm triết lý kinh doanh 1

II Vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp 3

1 Cơ sở hình thành triết lý kinh doanh 3

2 Vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp 5

III Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 10

Trang 3

I Khái niệm về triết học và triết lý kinh doanh

1 Khái niệm triết học

“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là trí (bao gồm sự hiểu biết sâu rộng

về vũ trụ và nhân sinh), theo chữ Hy Lạp là “yêu mến sự thông thái” Khái niệm

“triết học” có những biến đổi nhất định trong lịch sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm: yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ trụ, về con người và sự giải thích bằng

hệ thống tư duy) và yếu tố nhận định (đánh giá về đạo lý để con người có thái độ

và hành động)

Theo quan điểm mácxít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội; là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận thức và của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

Đặc điểm nổi bật của triết học là cách nhìn chung về thế giới, là sự nghiên cứu thế giới xét như một chỉnh thể, cho nên tri thức triết học trước hết là những tri thức phổ quát Từ cách xem xét đó, triết học có vai trò giải thích bản chất, nguyên nhân và những quy luật phát triển của thế giới; vừa có vai trò vạch ra con đường, những phương tiện để nhận thức và cải tạo thế giới

Triết học chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện: Về mặt nhận thức, triết học xuất hiện khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định, cho phép họ tổng kết và khái quát những tri thức riêng lẻ thành hệ thống quan niệm, quan điểm chung Về mặt xã hội, triết học xuất hiện khi sản xuất vật chất của loài người phát triển đến trình độ làm nảy sinh quá trình phân công lao động trí óc và lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động này trong thực tế chỉ diễn ra khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai cấp

2 Khái niệm triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh là những tư tưởng có tính triết học mà chủ thể kinh doanh hình thành để hướng dẫn tư duy và hành động cho toàn thể các thành viên trong tổ chức

Trang 4

Triết lý kinh doanh bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, từ quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh… được con người tổng kết và rút ra những tư tưởng chủ đạo như là những nguyên tắc về đạo lý và phương pháp quản lý để dẫn dắt hành vi Triết lý kinh doanh thường thể hiện qua lý do tồn tại và các quan điểm hành động, liên quan đến các bộ phận chức năng, các đơn vị trong tổ chức Chẳng hạn trong quản trị nhân sự, quan điểm có tính triết lý như: “Con người là tài sản quý nhất của tổ chức”, nếu nhà quản trị hay chủ doanh nghiệp có quan điểm như vậy, họ luôn biết cách thu hút, sử dụng, đãi ngộ con người một cách hợp lý, giữ được lao động giỏi lâu dài Hoặc trong quản trị marketing, tư tưởng:

“Khách hàng là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp” là một trong những quan điểm dẫn dắt hành vi các thành viên của doanh nghiệp trong các mối quan hệ với khách hàng, họ luôn tìm cách đáp ứng tốt các nhu cầu và mong muốn của khách hàng để giữ được khách hàng lâu dài…

Trong lịch sử phát triển của nhiều công ty, triết lý kinh doanh thể hiện qua nhiều hình thức như: Bài hát của công ty; bản tuyên bố chính thức… Ví dụ: Công ty Sony tuyên bố: “Sony muốn thông qua sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

mà phục vụ thế giới… vì vậy, Sony phải là người đi tìm cái mới, luôn đi trước thời đại… Sony có nguyên tắc tôn trọng và khuyến khích tài năng của mỗi người, chọn đúng người, giao đúng việc và bao giờ cũng cố gắng làm cho mọi người có thể cống hiến hết khả năng của mình, Sony luôn tin tưởng ở họ và để cho họ phát triển tài năng Đó chính là nguồn sinh lực của Sony…” Đây chính

là những điều mà Akio Morita – được mệnh danh là “người thay đổi thói quen của toàn thế giới”, nhà sáng lập công ty Sony đã vạch ra, thể hiện cả mục tiêu dài, chiến lược và biện pháp, được xem là “Tinh thần Sony”

Như vậy, khi hình thành triết lý kinh doanh, các nhà quản trị chiến lược của tổ chức xuất phát từ những lý do cơ bản như: Họ muốn tuyên bố lý do tồn tại của tổ chức, muốn khẳng định đặc trưng nổi bật của tổ chức này so với tổ chức khác về đạo lý kinh doanh và về biện pháp hành động, họ muốn phát triển và thành công lâu dài

Trang 5

II Vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp

1 Cơ sở hình thành triết lý kinh doanh

Thứ nhất, triết lý kinh doanh phải lấy con người làm trung tâm.

Con người ở đây chính lànhững thành viên của doanh nghiệp, cụ thể là quan hệ giữa lãnh đạo - nhân viên, nhân viên - nhân viên Những con người này

và quan hệ giữa họ sẽ quyết định sự phát triển thịnh vượng và bền vững của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh cần coi nhân tố con người là nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, khơi dậy, phát huy sức mạnh của toàn thể những thành viên của doanh nghiệp, biến mục đích, sứ mệnh chung của doanh nghiệp trở thành mục đích, sứ mệnh của chính họ Triết lý kinh doanh cần trở thành niềm tin, thẩm thấu vào suy nghĩ, tình cảm của mọi thành viên và trở thành hành động của họ Bởi văn hóa không phải là cái được áp đặt từ bên ngoài

mà cần trở thành động lực bên trong, tức phải được “nội tâm hóa” trong chính chủ thể, văn hóa do con người tạo ra và thể hiện Như vậy, triết lý kinh doanh phải xác định được mục tiêu, lợi ích chung của doanh nghiệp trong sự thống nhất với lợi ích riêng của các thành viên; xác định được các nguyên tắc điều hòa mối quan hệ giữa những thành viên của doanh nghiệp có như thế mới trở thành nền tảng tinh thần của doanh nghiệp, phát huy hiệu quả nguồn lực con người Đó là nguồn lực mà vốn, công nghệ không thể thay thế được

Con người còn được hiểu là những đối tượng mà doanh nghiệp hướng tới,

ở đây chính là khách hàng Mỗi doanh nghiệp có đối tượng khách hàng riêng Doanh nghiệp muốn phát triển, thành công thì triết lý kinh doanh hướng tới phục vụ, thỏa mãn lợi ích của khách hàng trong sự thống nhất với lợi ích của doanh nghiệp; đưa ra những chuẩn mực làm cơ sở cho sự ứng xử hợp lý giữa nhân viên doanh nghiệp với khách hàng của mình Triết lý đó không chỉ là lời nói, là khẩu hiệu mà nó trở thành phong cách ứng xử, phong cách phục vụ của nhân viên doanh nghiệp đối với khách hàng, biểu hiện ra trong từng hành vi chứa đựng đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp

Thứ hai, triết lý kinh doanh mang tính hiện đại và tính đại chúng.

Trang 6

Văn hóa là cách thức sinh sống, hoạt động của con người nên luôn cần phải đổi mới khi nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người thay đổi Từ đó, có thể thấy rằng doanh nghiệp cần xây dựng, phát triển văn hóa doanh nghiệp theo hướng không ngừng đổi mới và phục vụ xã hội Triết lý kinh doanh cấu thành nền tảng văn hóa của doanh nghiệp có tính ổn định nhưng không bất biến, luôn cần được bổ sung, đổi mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, môi trường xã hội Bởi bản chất của hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động khác của con người là mang tính sáng tạo Triết lý kinh doanh thể hiện tầm nhìn của doanh nghiệp, hiểu rõ “bản thân mình”,sứ mệnh, nhiệm vụcủa doanh nghiệp Tầm nhìn đúng thì hướng đi, kế sách và hoạt động sẽ đúng và ngược lại.Chủ thể kinh doanh cần phải biết rõ mục tiêu, sứ mệnh, chức năng của doanh nghiệp trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cần biết thay đổi triết lý kinh doanh phù hợp với thực tiễn.Tính hiện đại của triết lý kinh doanh chính là ở sự phù hợp của nó với hoạt động kinh doanh và với thực tiễn cuộc sống, hơn nữa nó còn có khả năng vạch đường, chỉ lối cho doanh nghiệp trong tương lai Ngày nay, ở nước ta quá trình hiện đại hóa không ngừng diễn ra trong các doanh nghiệp và đạt được những kết quả khả quan như nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượngsản phẩm, Tuy nhiên, để đổi mới toàn diện, sâu sắc,đưa doanh nghiệp Việt Nam hội nhập quốc tế cần bắt đầu từ đổi mới tư duy toàn diện, sâu sắc trên cơ sở triết lý kinh doanh hiện đại thể hiện tầm nhìn chiến lược

Tính hiện đại của triết lý kinh doanh không tách rời tính đại chúng, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng phải hướng tới phục vụ lợi ích cộng đồng mới có thể tồn tại được.Sự gắn kết giữa lợi nhuận và trách nhiệm xã hội không hề mâu thuẫn mà tương trợ cho nhau trong hoạt động kinh doanh     

Thứ ba, tạo dựng phong cách,bản sắc văn hóa của doanh nghiệp.

Những doanh nghiệp kinh doanh thành công đều phải xây dựng đượcphong cách, bản sắc riêng của mình Bản sắc đó thể hiện trên rất nhiều phương diện: biểu hiện bề ngoài là lôgô, khẩu hiệu, trang phục, vật dụng ; biểu hiện bên trong

Trang 7

là ở phương thức làm việc, cách thức, quy trình triển khai công việc, phương thức giao tiếp, phương pháp kinh doanh…Những biểu hiện đó suy đến cùng đều

bị chi phối bởi cách tư duy, tầm nhìn của doanh nghiệp ẩn chứa trong triết lý kinh doanh của doanh nghiệp đó Triết lý kinh doanh thể hiện và tạo ra bản sắc văn hóa của doanh nghiệp phải thể hiện được “cách tiếp cận” hay “góc nhìn văn hóa” của chủ thể kinh doanh Cách tiếp cận này do mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và do thực tiễn chi phối Chủ thể kinh doanh dựa trên sự phân tích hoàn cảnh thực tiễn, phân tích nhu cầu, mục đích, đối tượng của hoạt động kinh doanh từ đó tìm ra “cách tiếp cận” phù hợp để đưa ra triết lý kinh doanh và triển khai thành phương thức hoạt động của doanh nghiệp mình Cách tiếp cận khác nhau sẽ tạo ra triết lý kinh doanh khác nhau từ đó chi phối cách thức hoạt động, triển khai công việc, sản phẩm khác nhau của doanh nghiệp

Như vậy, sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp không thể thiếu triết lý kinh doanh đúng đắn Triết lý kinh doanh phải bảo đảm được tính nhân sinh, vì con người, xác định mục tiêu phục vụ cộng đồng, thể hiện được bản sắc của doanh nghiệp và không ngừng đổi mới mới có thể trở thành kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp

2 Vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp

Triết lý kinh doanh tốt có những vai trò cơ bản trong quá trình quản trị chiến lược của doanh nghiệp như:

a) Triết lý kinh doanh là nền tảng cốt lõi của văn hóa tổ chức

Mỗi tổ chức có những giá trị văn hóa riêng, bao gồm những yếu tố như: Những giá trị cốt lõi, những chuẩn mực chung, những niềm tin, những giai thoại, các nghi lễ, thói quen… ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi ứng xử của các thành viên trong quá trình hoạt động Mỗi yếu tố có những đặc trưng, thể hiện bản sắc văn hóa mà những thành viên nòng cốt ban đầu hay các nhà sáng lập mang vào Trong quá trình hoạt động, bản sắc văn hóa tổ chức được hoàn thiện dần để thích nghi với môi trường bên ngoài, thích nghi với cộng đồng và phù hợp với tập thể bên trong tổ chức Tùy theo môi trường hoạt động ở mỗi

Trang 8

khu vực thị trường, bản sắc văn hóa của mỗi tổ chức sẽ thể hiện các tư tưởng truyền thống của xã hội phương Đông (gốc nông nghiệp lúa nước) hay phương Tây (gốc chăn nuôi đại gia súc hay gốc du mục), hoặc đan xen tư tưởng của cả hai xã hội

Do những đặc thù trong quá trình phát triển, những tư tưởng tồn tại trong

xã hội phương Đông hay phương Tây đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố phi văn hóa Trong quá trình giao lưu tự nguyện hay bắt buộc giữa các dân tộc trên thế giới, những tư tưởng có giá trị văn hóa và những tư tưởng phi văn hóa của xã hội phương Đông và phương Tây lan rộng và hiện hữu ở khắp mọi nơi, ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của con người Vì vậy, khi hình thành triết lý kinh doanh, các nhà quản trị chiến lược và/hoặc người sáng lập doanh nghiệp cần lựa chọn những tư tưởng có giá trị của cả hai nền văn hóa trong xã hội để đề xuất các mục tiêu, phương thức hành động, phù hợp đạo lý và pháp lý ở mỗi quốc gia Những giá trị cốt lõi ban đầu này chính là nền tảng hình thành và phát triển văn hóa của tổ chức hay văn hóa công ty

Trong thực tế, nơi nào văn hóa tổ chức dược hình thành và phát triển một cách chủ động thì nơi đó tích tụ được các tinh hoa của văn hóa phương Đông lẫn phương Tây Những biểu hiện tiêu biểu như: Các nhà quản trị coi trọng tính sáng tạo của con người, quyết đoán, dám chấp nhận rủi ro, đề cao tinh thần hợp tác, cởi mở và trung thực trong các mối quan hệ, đề cao tính hiệu quả, quan tâm lợi ích lâu dài…; vì vậy, bầu không khí trong tổ chức luôn thoải mái, mọi người làm việc một cách nhiệt tình và muốn gắn bó lâu dài với tổ chức Ngược lại, những nơi không có triết lý kinh doanh, văn hóa tổ chức thường phát triển tự phát, đồng thời nơi đó tích tụ nhiều yếu tố phi văn hóa của cả xã hội phương Đông lẫn phương Tây, những biểu hiện tiêu biểu như: Nhà quản trị hay chủ doanh nghiệp không coi trọng vai trò của con người, không dám quyết đoán, sợ rủi ro cho cá nhân, tư tưởng hẹp hòi, chỉ quan tâm lợi ích cá nhân trước mắt, thiếu trung thực, không quan tâm đến hiệu quả, xâm lấn quyền lợi người khác và thường chiếm hữu những gì của người khác ; vì vậy, bầu không khí trong tổ

Trang 9

chức nặng nề, người này có tâm lý đề phòng người kia, mọi người không yên tâm làm việc, đố kỵ lẫn nhau, tung tin đồn nhảm để làm mất uy tín người không cùng phe nhóm… Những doanh nghiệp không có triết lý kinh doanh thường không coi trọng đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp nên khó phát triển các giá trị văn hóa tổ chức bền vững và doanh nghiệp khó thành công và đạt được hiệu quả lâu dài

b) Triết lý kinh doanh là cơ sở giúp tổ chức hoàn thành nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu, thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc kinh doanh và nâng cao các giá trị văn hóa tổ chức

Khi hình thành triết lý kinh doanh, các nhà quản trị tuyên bố rõ các mục tiêu chiến lược, qui tắc đạo đức kinh doanh và các biện pháp quản trị hữu hiệu các nguồn lực để doanh nghiệp tồn tại lâu dài Triết lý kinh doanh phù hợp với nguyện vọng của các thành viên trong tổ chức, nó sẽ được chấp nhận nhanh chóng và những tư tưởng cốt lõi sẽ ăn sâu vào tiềm thức mỗi người và tồn tại bền vững theo thời gian Ngay khi có sự thay đổi nhân sự quản trị cấp cao, tư tưởng cố lõi của triết lý kinh doanh cũng khó thay đổi và các giá trị văn hóa của tổ chức tiếp tục phát triển Điều này đã được Akio Morita – nhà sáng lập tập đoàn Sony giải thích: “Vì người lao động làm việc với công ty trong một thời gian dài, họ thấm nhuần tư tưởng trong triết lý kinh doanh và họ kiên trì giữ vững quan điểm trong quá trình làm việc Lý tưởng của công ty không thay đổi,

vì vậy, khi tôi rời khỏi công ty để nghỉ hưu, triết lý của công ty vẫn tiếp tục tồn tại…” Trong thực tế, điều này cũng diễn ra ở nhiều công ty khác nhau như Matsushita, Honda, Hitachi… của Nhật và những công ty hàng đầu của Tây Âu,

Mỹ Chẳng hạn, tập đoàn IBM của Mỹ có lịch sử tồn tại hơn 80 năm và trải qua nhiều đời chủ tịch, những triết lý cơ bản do nhà sáng lập là ông Thomas Watson – chủ tịch đầu tiên của tập đoàn nêu ra vẫn tiếp tục phát huy tác dụng tồn tại đến ngày nay

Trang 10

Như vậy, triết lý kinh doanh đúng đắn là nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu mong muốn, củng cố và nâng cao các giá trị văn hóa của tổ chức theo thời gian

c) Triết lý kinh doanh là một nguồn lực tinh thần, là động cơ thúc đẩy sự nhiệt tình, phát huy tính sáng tạo các thành viên, giúp tổ chức phát triển liên tục

Khi nghiên cứu vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp, các nhà quản trị của các công ty hàng đầu thế giới khẳng định rằng triết lý kinh doanh còn là một nguồn lực vô hình, tạo ra các niềm tin để thúc đẩy tinh thần các thành viên trong tổ chức tiến hành các công việc một cách nhiệt tình và sáng tạo Nhà nghiên cứu người Nhật U.Waykaki đã rút ra kết luận: “Nguồn tài sản trong kinh doanh của doanh nghiệp hiểu theo nghĩa rộng, ngoài con người, tiền vốn, vật tư, hàng hóa… còn bao gồm những nguồn tài sản mà mắt thường không nhìn thấy, nhưng có tác dụng cực kỳ to lớn Nguồn tài sản vô hình đó là phong thái văn hóa tổ chức, mà cốt lõi của phong thái chính là triết lý kinh doanh… Thực vậy, triết lý kinh doanh đã gắn kết toàn thể các thành viên của tổ chức thành một khối thống nhất, một lực tổng hợp cùng hành động vì mục tiêu lý tưởng của tổ chức Akio Morit – nhà sáng lập tập đoàn Sony giải thích ý tưởng này như sau: “Do coi trọng triết lý kinh doanh, các công ty của Nhật thường phát triển chậm hơn so với các công ty của Mỹ trong giai đoạn đầu Nhưng khi triết lý sống của công ty đã thâm nhập vào toàn thể nhân viên, lúc đó công ty có một sức mạnh lớn và mềm dẻo hơn trong kinh doanh…”

d) Triết lý kinh doanh là hệ thống giá trị chuẩn để hướng dẫn và đánh giá hành vi của mọi thành viên trong tổ chức.

Khi hình thành triết lý kinh doanh, các nhà quản trị còn xem nội dung này

là những chuẩn mực mà các thành viên của tổ chức cần thuộc lòng, là tiêu chuẩn hướng dẫn mọi hành vi Chính vì vậy, khi chính thức đưa ra triết lý kinh doanh, Matsushita đã yêu cầu các thành viên hát bài “Chính ca” và đọc “Bộ luật Đạo lý” mỗi buổi sáng Điều này thực sự tác động đến trí tuệ và trái tim của nhân

Ngày đăng: 13/01/2023, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w