1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2022.pdf

59 69 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2022
Tác giả Bùi Thị Lụa
Người hướng dẫn ThS. Vũ Thị Én
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Cơ sở lý luận (0)
    • 1.1.2. Vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng (15)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (24)
      • 1.2.1. Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trên thế giới (24)
      • 1.2.2. Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Việt Nam (24)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI (0)
    • 2.2. Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên (29)
      • 2.2.1. Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát (29)
      • 2.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về các nội dung trong giáo dục sức khỏe (30)
      • 2.2.3. Đặc điểm của người bệnh tại khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên 23 Chương 3 BÀN LUẬN 3.1. Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát (31)
    • 3.2 Thông tin chung từ người bệnh về GDSK (38)
    • 3.3. Thuận lợi, khó khăn tồn tại và nguyên nhân (39)

Nội dung

Microsoft Word Bùi Thỉ Lụa BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI THỊ LỤA THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ[.]

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ LỤA

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA NỘI TỔNG HỢP - BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ LỤA

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA NỘI TỔNG HỢP – BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS VŨ THỊ ÉN

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các Thầy/Cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc bệnh viện, Khoa Nội tổng hợp và các nhân viên y tế tại Bệnh viện C Thái Nguyên đã tạo điều kiện, quan tâm và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu; tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ tôi về mọi mặt để có thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS.Vũ Thị Én - người đã tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học quý báu, định hướng và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề

Do sự hạn chế về thời gian và khả năng nghiên cứu, chuyên đề không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy/Cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng 9 năm 2022

Học viên

Bùi Thị Lụa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan chuyên đề “Thực trạng giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2022” là một trong những sản phẩm mà em đã nỗ lực nghiên cứu đánh giá trong quá trình học tập tại trường và thực tập tại Bệnh viện, trong quá trình viết bài có tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, dưới sự hướng dẫn của ThS.Vũ Thị Én – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Em xin cam đoan nếu có vấn đề gì em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Học viên

Bùi Thị Lụa

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ……….…i

Lời cam đoan ………ii

Danh mục chữ viết tắt ……… iii

Danh mục các bảng, biểu đồ, hình ảnh ……… …….iv

Đặt vấn đề ……….1

Mục tiêu ……… 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận ……….4

1 1.1 Giáo dục sức khỏe ……… 4

1.1.2 Vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng ………7

1.2 Cơ sở thực tiễn ……… 16

1.2.1 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trên thế giới ……… 16

1.2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Việt Nam ……….16

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP – BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2022 2.1 Sơ lược về Bệnh viện C Thái Nguyên ……… 19

2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên ……… 21

2.2.1 Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát ……… 21

2.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về các nội dung trong giáo dục sức khỏe …………22

2.2.3 Đặc điểm của người bệnh tại khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên 23 Chương 3 BÀN LUẬN 3.1 Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát ………31

3.2 Thông tin chung từ người bệnh về GDSK ……….… 32

3.3 Thuận lợi, khó khăn tồn tại và nguyên nhân ……….……… 33

KẾT LUẬN 1 Thực trạng GDSK của điều dưỡng Bệnh viện C Thái Nguyên ……….…37

Trang 6

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe ……37 Chương 3

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH ………38

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng/

Bảng 2.1 Một số thông tin chung của điều dưỡng tham gia nghiên cứu 21 Bảng 2.2 Kiến thức của điều dưỡng về GDSK cho người bệnh 22 Bảng 2.3 Xếp loại chung kiến thức GDSK của điều dưỡng 23 Bảng 2.4 Ý kiến đánh giá của Người bệnh về các nội dung GDSK của Điều

Biểu đồ 2.1 Phân bố tuổi của người bệnh 24 Biểu đồ 2.2 Giới tính của người bệnh 24 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ ý kiến đánh giá của NB về các nội dung GDSK 26 Biểu đồ 2.4 Các mong muốn được hướng dẫn, GDSK thêm trong quá trình

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình ảnh 2.1 Bệnh viện C Thái Nguyên 20 Hình ảnh 2.2 Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện C Thái Nguyên 20 Hình ảnh 2.3 Một số hình ảnh tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh 30

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc sức khỏe cho người bệnh (NB) là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý của nhân viên y tế (NVYT) nói chung và của điều dưỡng (ĐD) nói riêng và bệnh viện là nơi để ĐD thực hiện nghĩa vụ này Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe GDSK có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người, để GDSK tốt rất cần đến kiến thức và kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng [1],[2]

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) nêu rõ: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới cũng như tất cả các thành viên khác là: Sức khỏe cho mọi người (Health for People), mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tất cả mọi thành viên trong cộng đồng cùng tham gia tích cực vào việc thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh và cải thiện môi trường sức khỏe tốt cho cộng đồng [27] Với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới: Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Từ định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm: xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuật học thích hợp

để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Năm 2011, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” Trong đó, việc tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe là nhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh Thông tư nêu rõ bệnh viện cần có qui định rõ ràng và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp; Người bệnh nằm viện phải được Điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện

và sau khi ra viện [1] Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế cũng có các tiểu mục đánh giá việc hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho người bệnh [2]

Trang 10

Mặt khác điều dưỡng chiếm số đông trong nhân lực của bệnh viện và có nhiều thời gian chăm sóc, tiếp xúc người bệnh trong quá trình nằm viện Nếu làm tốt sẽ đạt mục tiêu tăng cường chất lượng điều trị, tăng khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, giảm số lần nhập viện, tiết kiệm chi phí cho điều trị Thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, có kỹ năng yên tâm sống chung với bệnh Nếu làm không tốt, người bệnh không nhận thức đầy đủ về bệnh, không tuân thủ điều trị, không thay đổi hành vi, sẽ ảnh hưởng bất lợi đến kết quả điều trị không, dự phòng và kiểm soát tình trạng bệnh, dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống, tăng tỷ lệ tái nhập viện, chi phí điều trị tăng, bệnh có thể nặng lên và có thể dẫn đến tử vong [4],[5] Hiện nay, công tác giáo dục sức khỏe chưa thực sự quan tâm Do đó đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe cho người bệnh, đề xuất giải pháp nâng cao công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh là thực sự cần thiết

Công tác giáo dục sức khỏe của Bệnh viện C Thái Nguyên đã được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám đốc bệnh viện Tuy nhiên, qua kết quả đánh giá công tác điều dưỡng năm 2021 của các khoa Khoa và bệnh viện cũng còn một số điểm điều dưỡng thực hiện chưa thực sự đầy đủ, đặc biệt là công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh [6] Tại Bệnh viện C Thái Nguyên hiện có khá ít chuyên đề, đề tài viết về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh Được sự đồng ý của Bệnh viện và Hội đồng duyệt ý tưởng chuyên đề, chúng tôi thực hiện chuyên đề “Thực trạng giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2022” nhằm khảo sát về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh, tìm ra những hạn chế để từ đó đề xuất giải pháp giúp điều dưỡng thực hiện tốt nhiệm

vụ giáo dục sức khỏe cho người bệnh, giúp người bệnh thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe

Trang 11

MỤC TIÊU

1 Đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp - Bệnh viện

C Thái Nguyên năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng khoa Nội Tổng hợp – Bệnh viện C Thái Nguyên

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Giáo dục sức khỏe

1.1.1.1 Khái niệm về Giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khoẻ (GDSK) là một quá trình tác động có mục đích và có kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm tạo ra hành vi có lợi hoặc làm thay đổi hành vi sức khỏe (từ có hại thành có lợi) cho cá nhân và cộng đồng [4]

Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tượng tự nguyện, tự giác thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình

Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức khỏe tốt, bảo vệ và phục hồi sức khỏe [4],[5]

1.1.1.2 Tầm quan trọng của GDSK [1],[3]

GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe Nó có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và

tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển

GDSK không thay thế được các công tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế, cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này

Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y tế

sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại

So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở

Vì thế:

GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ Trung ương đến cơ sở Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế [5],[23]

1.1.1.3 Các phương pháp GDSK

Phương pháp GDSK trực tiếp[4],[5]

Trang 13

Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với đối tượng GDSK Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi

Cách thức

* Tư vấn trong GDSK:

Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân

và gia đình.Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng

* Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:

Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành vi Tuy nhiên phương pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ khác

Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:

- Xác định rõ chủ đề nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề nhất định

- Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để họ chuẩn bị tới dự (chọn thời gian và địa điểm thích hợp)

- Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày

- Xác định thứ tự trình bày

- Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ thích hợp với chủ đề và thực tế tại địa phương

Khi nói chuyện cần:

- Phải tôn trọng đối tượng

- Xây dựng mối quan hệ với đối tượng trước khi nói chuyện

- Nên sử dụng ngôn ngữ địa phương rõ ràng, mạch lạc

- Cần kết hợp với tranh ảnh, mô hình và ví dụ minh họa

- Cần bao quát, quan sát đối tượng để điều chỉnh, giải đáp thắc mắc đầy đủ khi đối tượng yêu cầu

Trang 14

- Kết thúc buổi nói chuyện cần tóm tắt những vấn đề mấu chốt nhất cho đối tượng dễ nhớ

* Tổ chức thảo luận nhóm:

Rất có hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong GDSK Thảo luận nhóm trong GDSK là ứng dụng nguyên lý "sự tham gia của cộng đồng" trong CSSKBĐ Một nhóm thảo luận tốt nhất là từ 6 - 10 người để tạo cơ hội cho tất cả các thành viên có thể trình bày và thảo luận làm sáng tỏ những vấn đề chưa hiểu biết và nêu ra các biện pháp giải quyết các vướng mắc của họ hay của cộng đồng trong đó có

họ sinh sống

Các điểm cần thực hiện khi tổ chức thảo luận nhóm:

- Xác định chủ đề, nội dung trọng tâm

- Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm

- Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm

- Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên những thông tin phù hợp với tình hình thực tế

Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng

bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục

* Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành các dịch vụ y tế

Phương pháp GDSK gián tiếp[3],[4]

GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đại chúng

Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân một cách có hệ thống Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta

Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng

Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián tiếp là:

- Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video

Trang 15

- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi

Phương tiện bằng lời nói: Lời nói là công cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng Sử dụng lời nói có thể truyền tải các nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng Lời nói rất tiện lợi và mang lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với mọi người, với 1 gia đình, 1 nhóm nhỏ, 1 cộng đồng Lời nói có thể dùng trực tiếp hay gián tiếp, lời nói còn được dùng để hỗ trợ, phối hợp với các phương tiện GDSK khác như tranh ảnh, pano, áp phích, mô hình Người nói nếu không nắm chắc được nội dung truyền đạt có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin không chính xác và gây hiểu lầm cho đối tượng

Phương tiện bằng chữ viết

Phương tiện tác động qua thị giác (phương tiện GDSK trực quan) tranh, ảnh, pano

Phương tiện nghe, nhìn: ti vi,

1.1.1.5 Lựa chọn nội dung GDSK

Nội dung GDSK là những thông tin chính cần trao đổi với đối tượng GDSK trong một thời gian nhất định

Ví dụ: Nội dung GDSK về phòng chống một bệnh nào đó thường theo trình tự sau:

+ Ảnh hưởng xấu do bệnh gây ra

+ Tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh đó

+ Nguyên nhân của bệnh, đường lây truyền

+ Cách phát hiện và xử trí thông thường tại nhà và các phương pháp phòng bệnh thông thường khác [1],[3],[4]

1.1.2 Vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng

Chức năng nhiệm vụ chính của công tác điều dưỡng là chăm sóc người bệnh

Để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh và tăng cường sự hài lòng người bệnh

Trang 16

thì điều dưỡng phải thực hiện tốt 12 nhiệm vụ của điều dưỡng được qui đinh tại Thông

tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [1] Trong đó, nhiệm vụ thứ nhất là tư vấn GDSK, có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ

lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong [3]

Điều dưỡng chiếm gần 50% trong tổng số nhân lực của bệnh viện và có nhiều thời gian tiếp xúc với người bệnh từ khi mới vào viện đến khi ra viện Do đó vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng là rất quan trọng, nếu điều dưỡng làm tốt giúp người bệnh thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị và tăng cường sự hài lòng người bệnh [3]

1.1.2.1 Giáo dục sức khỏe cho người bệnh [2],[3],[25]

- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy

cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả điều trị tối ưu

- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn, luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định

- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày có minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm

- Các nội dung giáo dục sức khỏe: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc, hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu nặng, cách vệ sinh

- Kỹ thuật sử dụng thuốc

 Có vai trò rất quan trọng giúp tuân thủ điều trị

 Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc

 Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành

- Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:

 Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu

 Có thái độ và cách xử trí thích hợp

 Giảm bớt di chứng, tỷ lệ tử vong

Trang 17

 Giảm bớt số lần nhập viện, thời gian nằm viện và chi phí y tế

 Giúp người bệnh lựa chọn môi trường

 Sống chung với di chứng bệnh với chất lượng cuộc sống tốt

 Hướng dẫn chi tiết và chu đáo những vấn đề trong đời sống hàng ngày, bao gồm cả đời sống tinh thần

- Biết cách phòng bệnh

 Thực hiện tiêm phòng

 Lựa chọn thực phẩm

1.1.2.2 Vai trò người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh

Trước năm 1990, ở Việt Nam người điều dưỡng có tên gọi Y tá với chức năng phụ thuộc và vai trò phụ giúp, thực hiện y lệnh của thầy thuốc là chính Họđược đào tạo ngắn hạn dưới một năm, làm theo phương pháp cầm tay chỉ việc Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện nâng cao chương trình đào tạo điều dưỡng với độingũ điều dưỡng cao đẳng (3 năm), cử nhân điều dưỡng (4 năm) và thạc sĩ điều dưỡng (2 năm) Năm

2000, ngành Điều dưỡng Việt Nam đã hình thành được hệ thống quản lý điều dưỡng ở các cấp Có 65% Sở Y tế các tỉnh đã bổ nhiệm điềudưỡng trưởng, 84,7% các bệnh viện

có Phòng điều dưỡng, công tác đào tạo điều dưỡng đã nâng lên ở trình độ cao đẳng và đại học Thực hành điều dưỡng đang có chuyển biến thông qua thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, vị trí xã hội của người điều dưỡng đã được nhìn nhận [5],[15] Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta, cứ 1 bác sĩ thì có 1,8 điều dưỡng, trong khi tỷ lệ tối thiểu mà Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo là 1 bác sĩ/4 điều dưỡng Tỷ lệ này ở Việt Nam thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á Thiếu người, trình độ chưa cao, áp lực công việc lớn cũng là yếu tố làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện hiện nay [15]

Nhận định về vai trò của công tác điều dưỡng, Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định: “Điều dưỡng là một mắt xích quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe” [27] Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ do người điều dưỡng cung cấp tác động lớn tới sự hài lòng của người bệnh” và đưa ra khuyến cáo “Ở bất cứ quốc gia nào, muốn nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe thì phải chú ý phát triển công tác điều dưỡng” Sinh thời, Bác Hồ đã dạy “Y tá chẳng những là một nghề mà còn là một nghĩa vụ,… việc giữ gìn

và bồi dưỡng sức khoẻ cho dân tộc người y tá phải gánh một phần phần quan trọng, y

Trang 18

tá là những chiến sỹ đánh giặc ốm để bảo vệ sự tráng kiện của giống nòi, những chiến

sỹ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó, phải giàu lòng bác ái và đức hy sinh” Vai trò của người điều dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân có ý nghĩa vô cùng lớn Trong công tác chăm sóc sức khỏe người bệnh, điều dưỡng thường đảm đương những công việc khá vất vả nhưng thầm lặng Trong những năm qua, nhận thức về địa

vị và giá trị của điều dưỡng trong y học và trong khám chữa bệnh có nhiều tiến bộ và trình độ chuyên môn của người điều dưỡng ngày càng được nâng cao từ trung cấp, cao đẳng đến trình độ đại học và sau đại học

Thành tựu của Ngành Điều dưỡng Việt Nam hiện nay chính là sự kết tinh truyền thống và kinh nghiệm của những người đi trước truyền lại cho những thế hệ điều dưỡng hôm nay và mai sau phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành Điều dưỡng Việt Nam không ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành ngày càng mạnh mẽ

Người điều dưỡng với những vai trò quan trọng [15]:

1 Người chăm sóc

Chăm sóc là mối quan hệ giữa người với người Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh và chấp nhận người bệnh là một con người Theo Benner và Wrubel thì “chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả” Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì các thiết bị này sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với những nhu cầu đa dạng của mỗi cá thể Chăm sóc là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng và là một thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng Theo học thuyết về chăm sóc của Leiningerm thì chăm sóc là yếu tố thiết yếu của điều dưỡng, là một nét đặc biệt và là đặc tính duy nhất của điều dưỡng Bà cho rằng:

“Không có sự chữa bệnh nào mà không có sự chăm sóc nhưng sự chăm sóc có thể diễn

ra mà không có điều trị” Bà còn cho rằng, chăm sóc là một hiện tượng phổ biến và rất khác nhau trong các nền văn hóa Những khác biệt về giá trị và hành vi chăm sóc dẫn đến những khác biệt về sự mong đợi trong số những người tìm kiếm sự chăm sóc Ví dụ: Những nền văn hóa quan niệm bệnh phát sinh từ bên trong cơ thể sẽ có xu hướng dùng thuốc để điều trị hơn là các nền văn hóa quan niệm bệnh là do tác nhân gây ra ở bên ngoài con người

Trang 19

Jen Watson cho rằng “thực hành chăm sóc là hạt nhân của nghề điều dưỡng” và đưa ra hai giả định về những giá trị của sự chăm sóc con người là: (1) chăm sóc và tình cảm tạo ra những năng lượng cơ bản về thể chất và tinh thần; (2) chăm sóc và tình cảm thiết yếu cho sự tồn tại và nuôi dưỡng con người” Jen Watson đã đưa ra các giả thuyết

về sự chăm sóc như sau:

– Chăm sóc con người không chỉ có sự cảm thông mà còn là sự quan tâm và lòng vị tha

– Chăm sóc là quá trình tác động qua lại giữa người với người và chỉ thông qua mối quan hệ qua lại giữa người với người thì việc chăm sóc mới có hiệu quả

– Chăm sóc hiệu quả thúc đẩy sức khỏe và sự tăng trưởng của mỗi cá nhân và cả gia đình

– Chăm sóc thúc đẩy sự nâng cao sức khỏe hơn là chữa bệnh

– Môi trường chăm sóc tạo ra sự phát triển những tiềm năng và cho phép con người lựa chọn những hành động tốt nhất cho họ tại mỗi thời điểm trong cuộc sống

– Chăm sóc liên quan tới sự phối hợp hành động và lựa chọn giữa người điều dưỡng

2 Người truyền tin

Thông tin có hiệu quả là yếu tố thiết yếu của mọi nghề phục vụ, trong đó có nghề điều dưỡng Giao tiếp thiết lập mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên y tế khác, nó

có vai trò trong mọi hoạt động của người điều dưỡng

Giao tiếp hỗ trợ cho mọi can thiệp điều dưỡng Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho người bệnh Mỗi khi thực hiện một can thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng ghi chép vào hồ sơ những nhận xét và những thủ thuật đã thực hiện cũng như mọi đáp ứng của người bệnh Người điều dưỡng thường xuyên giao tiếp cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca, mỗi khi chuyển người bệnh tới một khoa khác hoặc khi người bệnh xuất viện hoặc chuyển tới một cơ sở y tế khác Khi

Trang 20

truyền đạt thông tin bằng lời nói hoặc chữ viết đòi hỏi phải chính xác, rõ ràng và phù hợp

3 Người hướng dẫn

Nhu cầu giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng đối với người bệnh ngày càng tăng Ngày nay, người ta chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy Vì vậy, người bệnh cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn số ngày nằm viện Sự gia tăng của các bệnh mạn tính và tật nguyền đòi hỏi người bệnh và gia đình phải trang bị thêm kiến thức và kỹ năng để tự chăm sóc tại nhà Hơn ai hết người điều dưỡng là đối tượng phù hợp nhất thực hiện giáo dục sức khỏe cho người bệnh Để giáo dục sức khỏe cho người bệnh một cách hiệu quả nhất, tức là người điều dưỡng truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho người bệnh

để họ thay đổi thái độ và hành vi thì người điều dưỡng cần áp dụng quy trình giảng dạy gồm 4 thành phần cơ bản: nhận định, lập kế hoạch, thực hiện và lượng giá, tức là điều dưỡng nhận định những nhu cầu học tập của người bệnh, xác định mục tiêu và phương pháp giảng dạy, sau đó áp dụng các hình thức giảng dạy phù hợp và cuối cùng

là đo lường kết quả học tập của người bệnh

4 Người tư vấn

Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh nhận biết và đương đầu với những stress về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội, để cải thiện các mối quan hệ giữa người với người và thúc đẩy sự phát triển của mỗi người Tư vấn liên quan tới sự hỗ trợ về tình cảm, tri thức và tâm lý Người điều dưỡng tập trung vào giúp cho người bệnh phát triển những thái độ, tình cảm và các hành vi mới hơn là thúc đẩy sự phát triển về trí tuệ Người điều dưỡng khuyến khích người bệnh tìm kiếm những hành vi thay thế, nhận ra sự lựa chọn và xây dựng ý thức tự kiểm soát

Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người Ví dụ: ở mức cá thể có người cần giảm bớt hút thuốc lá, giảm cân nặng, có người phải chấp nhận sự thay đổi như mất một phần cơ thể hoặc đương đầu với cái chết đang đến gần Ở mức nhóm, người điều dưỡng có thể đóng vai trò là người lãnh đạo, thành viên hoặc người trợ giúp trong việc tạo ra một môi trường để nhóm làm việc có hiệu quả

Tư vấn đòi hỏi kỹ năng giao tiếp, thêm vào đó người điều dưỡng phải có kỹ năng phân tích tình hình, tổng hợp thông tin và đánh giá quá trình tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn Người điều dưỡng phải là một hình mẫu để hướng dẫn

Trang 21

những hành vi mong muốn, phải thể hiện sự quan tâm tới lợi ích của người khác, phải

có suy nghĩ sáng tạo và một thái độ linh hoạt khi tiếp xúc với các đối tượng khác nhau

5 Người biện hộ cho người bệnh

Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người khác Vì vậy, biện hộ nghĩa là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bệnh, thúc đẩy những hành động mang lại kết quả tốt nhất cho sự phục hồi sức khỏe của người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng một cách thích hợp nhất Người bệnh cao tuổi, người bệnh không tự chăm sóc được, bệnh nhi rất cần người điều dưỡng

và nhân viên y tế, bởi lúc đó họ không tự bảo vệ hoặc dự phòng những tai biến có thể xảy ra

6 Người quản lý

Người điều dưỡng phải biết tự quản lý thời gian, tự quản lý công việc của mình

Ví dụ: Người điều dưỡng chuyên nghiệp phải biết làm thế nào để sắp xếp thời gian tới làm việc, dự giao ban, dự họp đúng thời gian Người điều dưỡng có rất nhiều công việc trong một ngày làm việc nhưng phải biết việc làm trước, làm sau sao cho người bệnh được chăm sóc đầy đủ, thực hiện đủ y lệnh của bác sĩ

7 Những vai trò khác

Ngoài những vai trò cơ bản đã nêu trên, người điều dưỡng còn là chất xúc tác cho mọi quá trình thay đổi với chính bản thân hoặc cho hệ thống hoạt động của mình

Hỗ trợ cho sự thay đổi đòi hỏi phải xác định vấn đề, đánh giá những yếu tố thúc đẩy và

có khả năng tạo ra những thay đổi kỳ vọng Thúc đẩy sự thay đổi là một phần trong công tác chăm sóc điều dưỡng Ngoài ra, người điều dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người làm công tác nghiên cứu điều dưỡng, người xây dựng chính sách 1.1.2.3 Chức năng của người điều dưỡng [3]

1 Chức năng chủ động

Chức năng chủ động bao gồm những nhiệm vụ chăm sóc cơ bản thuộc phạm vi kiến thức mà người điều dưỡng đã được đào tạo và có khả năng thực hiện một cách chủ động Người điều dưỡng thực hiện chức năng này với tư cách là cộng tác (coordinator) của bác sĩ, khác với quan niệm cho rằng điều dưỡng là trợ tá của bác sĩ (Doctor’s helper)

Chức năng đặc trưng này được thể hiện một cách rõ rệt thông qua việc chủ động đáp ứng những nhu cầu của người bệnh bao gồm:

Trang 22

– Hít thở bình thường

– Ăn uống tiêu hoá tốt

– Bài tiết thuận lợi

– Tư thế vận động thuận tiện như mong muốn

– Ngủ và nghỉ ngơi thoải mái

– Trang phục thích hợp, được thay đổi

– Nhiệt độ thích hợp, duy trì thân nhiệt

– Vệ sinh cá nhân, cơ thể sạch sẽ

– Không bị đe dọa bởi hiểm họa, rủi ro

– Giao tiếp thuận lợi

– Tự do cầu nguyện theo tín ngưỡng

– Thực hiện những hoạt động hữu ích

– Tham gia các hoạt động giải trí, vui chơi

– Học và khám phá

2 Chức năng phối hợp

Trong khi thực hành chăm sóc, người điều dưỡng còn phải phối hợp với các đồng nghiệp: các bác sĩ, điều dưỡng viên khác, các nữ hộ sinh, các kỹ thuật viên… để công tác phục vụ người bệnh đạt hiệu quả cao và cũng qua đó chia sẻ kinh nghiệm, cộng đồng trách nhiệm, làm tăng thêm sức mạnh, chất lượng của đội ngũ điều dưỡng chăm sóc

Chức năng phối hợp còn được thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động khác: chăm sóc khách hàng tại nhà, tại cộng đồng; hoạt động tuyên truyền phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ; hoạt động nghiên cứu khoa học về điều dưỡng; tham gia vào việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ điều dưỡng khi có nhu cầu… Trong trường hợp này, phạm vi, đối tượng phối hợp của điều dưỡng càng mở rộng hơn Người điều dưỡng luôn phải đề cao tính chủ động ngay cả trong chức năng phụ thuộc và chức năng phối hợp của mình

3 Chức năng phụ thuộc

Chức năng này đòi hỏi người điều dưỡng có ý thức kỷ luật cao và nhận thức đúng đắn vì nó liên quan đến sức khoẻ hiện tại, trong tương lai và thậm chí là sinh mệnh người bệnh Hai từ phụ thuộc được hiểu đơn giản là việc thực hiện y lệnh điều trị như là thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, nghĩa là đảm bảo việc dùng thuốc và các can

Trang 23

thiệp khác trên người bệnh được tiến hành một cách nghiêm túc, chính xác, kịp thời và

an toàn như tiêm, truyền, phát thuốc, … Điều dưỡng có trình độ càng cao thì chức năng phụ thuộc càng giảm và chức năng chủ động càng được phát huy

Chăm sóc sức khỏe nhân dân là sứ mệnh cao cả của người làm công tác y tế, bệnh viện là môi trường để nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ cao cả này Điều dưỡng

là lực lượng nhân viên y tế đông nhất trong bệnh viện và cũng là những người thường xuyên tiếp xúc với người bệnh Bởi đơn giản, không chỉ là người thực hiện y lệnh của bác sĩ, người điều dưỡng còn hàng ngày, hàng giờ tiếp xúc với người bệnh; là người trực tiếp chăm sóc, điều trị, tư vấn sức khỏe cho người bệnh Yêu cầu cần phải có của người điều dưỡng không dừng lại ở trình độ chuyên môn tốt mà quan trọng hơn là phải

có văn hóa ứng xử Thái độ, cách ứng xử của người điều dưỡng là “liều thuốc tinh thần” quan trọng với mỗi người bệnh… Người điều dưỡng có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng cho người bệnh

và trong việc nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật cho người bệnh khi rời khỏi bệnh viện Như vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho người bệnh cũng chính là nâng cao năng lực cho điều dưỡng Điều dưỡng là lực lượng chính mang dịch

vụ chăm sóc sức khỏe tới cộng đồng Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe do người điều dưỡng, hộ sinh cung cấp là trụ cột của hệ thống y tế [27]

Để làm tốt công tác, người điều dưỡng cần có những kỹ năng: Có kiến thức chuyên môn tốt, cập nhật kiến thức mới; Kỹ năng giao tiếp tốt; Kỹ năng tư vấn – giáo dục sức khỏe tốt; Có lòng nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp

Nâng cao kỹ năng GDSK cho người điều dưỡng cũng chính là nâng cao chất lượng nguồn lực điều dưỡng, hoàn thiện công tác chăm sóc người bệnh toàn diện Đây cũng là một nhu cầu cấp thiết của ngành Y tế để đáp ứng được mục tiêu chiến lược trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân

Với các ý nghĩa trên, GDSK giữ vai trò quan trọng và là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của điều dưỡng, của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở Kỹ năng GDSK cũng là một trong những tố chất cơ bản giúp người điều dưỡng thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình [3]

1.1.2.4 Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh

- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe

Trang 24

- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người

- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ

lệ tàn phế và tỷ lệtử vong nhất là ở các nước đang phát triển

- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế

So với các giải pháp dịch vụ tế khác Giáo dục sức khỏe là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến Y tế cơ sở

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trên thế giới

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một trong những nội dung quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Theo Aghakhani và cộng

sự năm 2012, nghiên cứu về thái độ của các điều dưỡng đối với các rào cản giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong các bệnh viện của Đại học y khoa Urmia Nghiên cứu

mô tả cắt ngang trên 240 điều dưỡng cho thấy hầu hết các điều dưỡng (73,6%) không ý thức về tầm quan trọng của giáo dục người bệnh và cho rằng giáo dục sức khỏe cho

NB không phải là nhiệm vụ của họ, cơ sở vật chất trong bệnh viện không đủ và thiếu thời gian là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra sự hạn chế trong công tác GDSK của điều dưỡng [14]

Theo nghiên cứu của tác giả Dogba, M J cho thấy trong 641 bài báo viết về hiệu quả của truyền thông, giáo dục sức khỏe đối với sức khỏe con người [26]

Nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục truyền thông năm 2019, trên 4696 nhân viên y tế có sự thay đổi rõ rệt về kiến thức và kỹ năng về bệnh trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe Về kiến thức :[SMD] = 0,11, KTC 95% −0,17 đến 0,39, I2 = 74%,

n = 927; Về kỹ năng: SMD = 0,90, KTC 95% 0,49 đến 1,32, I2 = 88%, n = 897 [27] 1.2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Việt Nam

Tư vấn, GDSK cho người bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của điều dưỡng cho nhân dân nói chung và người bệnh nói riêng trong giai đoạn mới hiện nay Nghiên cứu: “Tác động của giáo dục sức khỏe đến chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2022” kết quả cho thấy giáo dục sức khỏe đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ, cụ thể như sau: Với phổ điểm từ 0- 100 điểm, điểm các lĩnh vực đánh giá đều tăng so với trước can thiệp; cụ thể điểm trung

Trang 25

bình chất lượng cuộc sống SF36 là 42,19 ± 19,75; sau can thiệp 1 tháng, tăng lên 45,70

± 16,01, sau can thiệp 3 tháng, tăng lên 53,85 ± 16,84 Điểm các vấn đề bệnh thận trước can thiệp là 54,91 ± 21,69 tăng lên 57,94 ± 9,62 sau 1 tháng can thiệp và tăng lên 59,67 ± 10,03 sau 3 tháng can thiệp Điểm chất lượng cuộc sống chung của người bệnh trước can thiệp là 48,85 ± 14,01, tăng lên 51,82 ± 11,62 sau can thiệp 1 tháng và tăng lên 56,76 ± 12,52 sau can thiệp 3 tháng Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [12]

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trưng Vương, TP.HCM (2015): “Đánh giá công tác giáo dục sức khỏe qua kiến thức về sức khỏe của người bệnh nội trú tại Bệnh viện Trưng Vương” Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 186 người và cho kết quả 97,8% người bệnh đươc truyền thông giáo dục sức khỏe và biết bệnh tuy nghiên còn 2,2% chưa đạt Qua đó đánh giá được hiệu quả công tác hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe và có báo cáo đánh giá giúp bệnh viện thực hiện các biện pháp cải tiến chất lượng trong trong tác giáo dục sức khỏe dựa trên kết quả đánh giá Đồng thời giúp người bệnh có kiến thức, kỹ năng để có thể tự phòng bệnh, theo dõi tiến trình bệnh tật và tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn, người bệnh

có được các kiến thức, thực hành thiết yếu để tự theo dõi, chăm sóc, điều trị và phòng các biến chứng cho bản thân [20]

Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị cho kết quả: Sau can thiệp kiến thức và thực hành của người bệnh cải thiện đáng kể: Trước can thiệp, điểm kiến thức của ĐTNC chỉ đạt ở mức trung bình là 10,03 ± 2,94 điểm trên tổng điểm là 17 điểm, nhưng đã có sự thay đổi tích cực sau can thiệp 4 tuần đạt 14,01 ± 2,64 điểm và duy trì sau can thiệp 8 tuần là 13,64 ± 2,91 điểm Tỷ lệ kiến thức đúng sau can thiệp 4 tuần tăng lên là 93,5% và duy trì sau 8 tuần là 87,9%; sau can thiệp 4 tuần tỷ lệ người bệnh thực hành về hoạt động thể lực đạt 71%, sau 4 tuần tăng lên 72%; sau 4 tuần tỷ lệ người bệnh thực hành về chế độ nghỉ ngơi đạt 58,9% và sau 8 tuần tăng lên 62,6% [14]

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà năm 2011 về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng thông qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương cho thấy điều dưỡng viên làm tương đối tốt các chức năng cơ bản như: hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ đạt 84,2%;

Trang 26

theo dõi, đánh giá NB đạt 80,5%; tiếp đón NB đạt 78,9%; Tuy nhiên, công tác tư vấn, GDSK cho NB chỉ đạt 49,6% [18]

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Loan năm 2019 tại Sơn La cho thấy vẫn còn 22,4% người bệnh không được điều dưỡng tư vấn về phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn, 23,2% người bệnh không được tư vấn về hoạt động thể lực…[17]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2020) về “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh năm 2020” Kết quả cho thấy người bệnh được điều dưỡng tư vấn trong thời gian nằm viện là 45,0%; Trước khi ra viện là 22,5%, Khi làm thủ tục nhập viện là 12,5%, tại cả 3 thời điểm chiếm 20,0% [21]

Một số nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Vân Lan (2020), Đỗ Thị Hòa (2017),

Hà Thị Duyên (2021) về thực trạng giáo dục sức khỏe sau can thiệp giáo dục đều cho thấy, đối tượng nghiên cứu có sự thay đổi kiến thức rõ rệt, sau can thiệp giáo dục sức khỏe kiến thức tốt hơn nhiều so với trước can thiệp [8],[13],[16],[22]

Nghiên cứu “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của điều dưỡng tại bệnh viện 19-8 bộ công an năm 2019”, kết quả cho thấy có 66,7% điều dưỡng trả lời đúng về khái niệm GDSK, có 80% điều dưỡng

có kỹ năng GDSK, 38,3% điều dưỡng không đánh giá lại sau khi được GDSK [10]

Nghiên cứu “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng qua ý kiến người bệnh tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh vĩnh phúc năm 2020” của tác giả Nguyễn thị Đương cho kết quả: có 46,7% NB thấy điều dưỡng trình bày GDSK dễ hiểu, có 83,3% người bệnh hài lòng về hoạt động GDSK của điều dưỡng [9]

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hằng Nga cho kết quả Kiến thức chung của điều dưỡng về GDSK còn chưa cao với các tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt chiếm 66,8% và vẫn còn 13,2% điều dưỡng có kiến thức kém về vấn đề này Thực hành giáo dục sức khỏe của điều dưỡng còn hạn chế, chỉ có 28,9% điều dưỡng có thực hiện đầy

đủ giáo dục sức khỏe cho người bệnh [19]

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP – BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2022

2.1 Sơ lược về Bệnh viện C Thái Nguyên

Bệnh viện C Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I (theo Quyết định số UBND ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên), trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên nằm ở khu vực phía Nam của tỉnh Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho bệnh nhân khu vực phía Nam của tỉnh Thái Nguyên và nhân dân các tỉnh lân cận Với quy mô giường bệnh theo kế hoạch là 700 giường, số giường thực kê là 900 giường Bệnh viện gồm 31 khoa phòng, trong đó có 17 khoa lâm sàng và 5 khoa cận lâm sàng và 8 phòng ban chức năng Với tổng số 590 cán bộ viên chức, trong đó 101 bác sĩ, 349 điều dưỡng, 136 cán bộ khác Trình độ điều dưỡng sau đại học là 9 điều dưỡng, cử nhân đại học là 88 điều dưỡng, điều dưỡng cao đẳng là

415/QĐ-251 điều dưỡng, điều dưỡng trung cấp là 01 Bệnh viện có 18 khoa lâm sàng được phân bổ như sau: khối nội 09 khoa gồm hồi sức cấp cứu, nội tim mạch - lão khoa, nội tổng hợp, nội tiết, nội thận - lọc máu, Nhi, Truyền nhiễm - Da liễu, Y học cổ truyền, Vật lý trị liệu Khối ngoại gồm 8 khoa: Phụ Sản, Ngoại chấn thương, Ngoại tổng hợp, Ung bướu, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Gây mê hồi sức [6]

Khoa Nội tổng hợp hiện có 21 cán bộ, nhân viên với 7 bác sĩ và 13 điều dưỡng,

01 hộ lý Khoa Nội tổng hợp có chức năng, nhiệm vụ khám, điều trị các bệnh nội khoa các bệnh lý về hô hấp, tiêu hóa, thận - tiết niệu, huyết học, cơ - xương - khớp cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các vùng lân cận; nội soi tiêu hóa (soi dạ dày chẩn đoán, nội soi can thiệp, soi trực tràng); đo chức năng hô hấp, điện tâm đồ; tham gia giảng dạy cho sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Trường Cao đẳng Y Thái Nguyên; tham gia nghiên cứu khoa học [6]

Trang 28

Hình ảnh 2.1 Bệnh viện C Thái Nguyên

Hình ảnh 2.2 Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện C Thái Nguyên

Trang 29

2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện

2.2.1 Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một trong những nội dung quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất

Phiếu khảo sát được được sử dụng để khảo sát tất cả các điều dưỡng đang làm việc tại khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện C Thái Nguyên (Phụ lục 1)

Khoa Nội tổng hợp có 13 điều dưỡng viên và tất cả đều đồng ý tham gia trả lời phiếu khảo sát

Bảng 2.1 Một số thông tin chung của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n=13)

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ %

công tác GDSK 1

Chưa tập huấn 05 38,5

Đã tập huấn 1 lần 07 53,8

Ngày đăng: 13/01/2023, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w