1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội

37 1,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Dệt may luôn là ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam trên bướcđường hội nhập và phát triển Trong bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu, cácnước mở rộng giao lưu kinh tế thì ngành dệt may lại càng trở nên quan trọngđối với đất nước ta Nền kinh tế nước ta đang từng bước thay đổi để hòa nhậphơn vào ngôi nhà chung của thế giới Đảng và nhà nước đã đề ra chủ trương

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để xóa bỏ những trì trệ của bộ máy quản

lý cũ, đưa các doanh nghiệp hoạt động năng động hơn Công ty cổ phần dệtkim Hà Nội là một trong những công ty đã cổ phần hóa theo tinh thần đó, đâycũng là một công ty có nhiều năm tồn tại trong ngành dệt may và ít nhiều gặthái được những thành quả nhất định

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành dệt may đối với nền kinh tếnước ta, sau hơn 3 năm học tập và nghiên cứu dưới mái trường đại học Kinh

tế Quốc dân, em quyết định đến thực tập tại công ty cổ phần dệt kim Hà Nội

để có thêm những hiểu biết về ngành dệt may Việt Nam, đồng thời cũng để cóthêm những kiến thức thực tiễn trước khi bước vào làm việc thực sự sau khitốt nghiệp đại học

Sau hơn 1 tháng thực tập tại công ty cổ phần dệt kim Hà Nội, em đã thuđược những kết quả sau đây:

Trang 2

Phần một LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM HÀ NỘI

I Quá trình hình thành và phát triển công ty

Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội (tên giao dịch: HANOI KNITTINGJOINT STOCK COMPANY), là một doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp cổphần hóa theo chủ trương cơ cấu lại tổ chức cho các công ty nhà nước

Tiền thân của công ty cổ phần dệt kim Hà Nội là công ty dệt kim HàNội Đây là một đơn vị quốc doanh, được thành lập theo quyết định số 2374/QĐ-TCCQ ngày 28/10/1966 của Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội Banđầu công ty lấy tên là Xí nghiệp dệt kim Hà Nội, được sát nhập từ ba phânxưởng dệt trên địa bàn thành phố Hà Nội:

- Phân xưởng dệt bít tất của Nhà máy dệt kim Đông Xuân, thuộc BộCông nghiệp nhẹ (nay thuộc Sở công nghiệp Hà Nội);

- Phân xưởng dệt kim bàn của xí nghiệp dệt 8/5 (xí nghiệp dệt bạt cũ,nay là Công ty dệt 19/5), thuộc Sở công nghiệp Hà Nội;

- Phân xưởng dệt bít tất của xí nghiệp Cự Doanh (nay là công ty ThăngLong), thuộc Sở công nghiệp Hà Nội

Sau đó, ngày 22/6/1997, công ty sát nhập với xí nghiệp mũ Đội Cấn (ở

251 Đội Cấn, nay là 285 Đội Cấn - cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty)theo quyết định số 2263/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.Hiện nay, trụ sở công ty đặt tại xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố HàNội với tổng diện tích mặt bằng là 11000m²

Ngay từ những ngày đầu thành lập, công ty đã có hệ thống máy mócthiết bị gồm 140 máy dệt bít tất tự động, bán tự động và thủ công, 100 máydệt chun và một số máy công cụ và trang thiết bị phụ trợ Tổng số cán bộ

Trang 3

công nhân viên là 568 người được tiếp nhận từ các cơ sở cũ và tuyển dụngmới Sản lượng hàng năm đạt trên 1 triệu đôi bít tất và 10 triệu mét chun.Năm 1968, công ty nhập thêm 40 máy dệt tự động, tăng năng suất lên1,5 triệu đôi một năm Vừa củng cố xây dựng, vừa tích lũy phát triển sản xuất,công ty đã từng bước trưởng thành, luôn đạt và vượt mức kế hoạch mà Nhànước giao.

Năm 1972, bằng nguồn vốn tự có và vốn ngân sách, công ty đã nhập một

hệ thống thiết bị gồm 140 máy dệt bít tất hiện đại của Tiệp Khắc, 100 máykhứu của Trung Quốc và đưa năng suất lên 4 triệu đôi/năm, thêm vào đó,công ty còn tận dụng được nguồn phế liệu để sản xuất ra các sản phẩm phụnhư quần, áo, mũ và các loại bằng sợi dệt nylon Trình độ tổ chức của công tycũng dần được cải tiến, sản phẩm được sản xuất hàng loạt lớn theo phươngpháp dây chuyền chuyên môn khoa học

Như vậy có thể thấy, cho đến trước năm 1987, cùng với sự đầu tư thêmnhiều loại máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, nhiều năm liền, công ty luôngiữ vững nhịp độ phát triển, hoàn thành chỉ tiêu kinh tế xã hội Nhà nước giao

và mục tiêu sản xuất kinh doanh mà công ty đặt ra, tăng sản lượng sản xuấtlên 4 triệu đôi tất/năm để phục vụ cho quốc phòng và nhu cầu tiêu dùng trongnước

Bước sang giai đoạn 1987, khi chuyển sang cơ chế thị trường theo chínhsách đổi mới của Đảng và Nhà nước, thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh,cùng với những doanh nghiệp khác, công ty cũng gặp không ít khó khăn trongviệc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Hàng năm, công ty phải tự cân đối 30 tấnnguyên liệu nhập ngoại, hệ thống thiết bị lạc hậu, thiếu phụ tùng thay thế,thêm vào đó lại phải cạnh tranh với thị trường ngoại nhập, lao động thì dưthừa Trước tình hình trên, công ty đã xác định mục tiêu sản xuất, tổ chức sắpxếp lại lao động theo nghị quyết 175/HĐBT, đồng thời áp dụng các biện pháp

kỹ thuật để phục hồi và cải tiến thiết bị, chú ý hơn đến thị hiếu khách hàng,

Trang 4

nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy, công ty đã vượt qua khó khăn, tồn tại

và duy trì sản xuất với triển vọng ngày càng đi lên

Năm 1990, bằng nguồn vốn tự có, công ty đã đầu tư một dây chuyền sảnxuất bít tất xùi, đưa trình độ công nghệ và trình độ sản phẩm lên một bướcphát triển mới Công ty cũng thanh lý một số máy móc cũ và bắt đầu thựchiện tốt hơn việc sản xuất các mặt hàng theo đúng thị hiếu của khách hàng

Cụ thể, việc thực hiện các chỉ tiêu về sản xuất bít tất các loại như sau: sảnlượng thực hiện là 1440000000 đôi tất các loại, giá trị tổng sản lượng chiếm1,813 tỷ đồng, doanh thu tiêu thụ là 2,528 triệu đồng, nộp ngân sách Nhànước 270 triệu đồng

Năm 1991, để duy trì sản xuất, công ty lại tổ chức sắp xếp lao động theodây chuyền, làm sao để sản xuất và tiêu thụ nhanh, không tồn đọng sản phẩm.Điều này đã làm năng lực sản xuất của công ty tăng lên đáng kể Năm 1993,sản phẩm chủ yếu (bít tất) tăng lên 4 triệu đôi/năm, giá trị sản lượng tăng 4,1

tỷ đồng Năm 1994, sẩn phẩm chủ yếu tăng lên 4,2 triệu đôi/năm, đạt giá trịsản lượng là 4,3 tỷ đồng Năm 1995, sản lượng bít tất là 4,4 triệu đôi/ năm vàđạt sản lượng trên 4,5 tỷ đồng

Giai đoạn 1996 - 2005, công ty tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hàngnăm từ 15% đến 20%, sản phẩm được tiêu dùng rộng rãi trên thị trường trong

và ngoài nước Nhiều năm liền, sản phẩm của công ty được nhận giải bạc chấtlượng quốc gia và được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chấtlượng cao

Ngày 17/3/2005, theo quyết định số 1288/QĐ-UB của Ủy ban nhân dânthành phố Hà Nội, công ty dệt kim Hà Nội được chuyển thành công ty cổphần dệt kim Hà Nội

Ngày 25/3/2005, Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội đã cấp chứngnhận đăng ký kinh doanh số 0103007210 cho Công ty cổ phần dệt kim Hà

Trang 5

Ngày 31/3/2005, Công ty dệt kim Hà Nội đã khóa sổ và quyết toán đểchính thức hoạt động theo hình thức của một công ty cổ phần, đó là Công ty

cổ phần dệt kim Hà Nội với số vốn điều lệ 24.000.000.000 đồng, mệnh giá100.000đ/cổ phần, số lượng cổ phần là 240.000 cổ phần Đây là một bướcngoặt, đánh dấu một thời kỳ mới cho sự tồn tại và phát triển của công ty cổphần dệt kim Hà Nội

Trải qua 42 năm xây dựng và trưởng thành, với sự đóng góp tích cực củatập thể cán bộ công nhân viên công ty, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng chotập thể cán bộ công nhân viên công ty 3 huân chương Lao động hạng 3, 1huân chương Lao động hạng nhì và huân chương chiến công hạng ba Từ một

xí nghiệp dệt kim, đến nay, công ty cổ phần dệt kim Hà Nội đã từng bước đilên, khẳng định chỗ đứng của mình trong nền kinh tế thị trường là một doanhnghiệp sản xuất kinh doanh có lãi, nộp ngân sách mỗi năm một tăng và đờisống của người lao động ngày càng được cải thiện

II Chức năng, nhiệm vụ của công ty

Căn cứ vào giấy phép kinh doanh và điều lệ hoạt động của công ty thìcông ty cổ phần dệt kim Hà Nội có những chức năng chủ yếu sau đây:

- Sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc ngành dệt may

- Nhập khẩu các thiết bị, nguyên liệu, vật tư hóa chất phục vụ cho nhucầu sản xuất các sản phẩm trong ngành dệt may

- Liên doanh, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế trong và ngoàinước Xuất nhập khẩu và nhận ủy thác xuất nhập khẩu các sản phẩm ngànhdệt may, ngành điện - điện máy và tư liệu tiêu dùng

- Làm đại diện, đại lý bán buôn, bán lẻ các sản phẩm công nghiệp và sảnphẩm tiêu dùng

- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ du lịch

Trang 6

- Kinh doanh bất động sản, cho thuê trụ sở, văn phòng nhà ở và cửa hànggiới thiệu sản phẩm.

- Mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo quy định của phápluật

Để làm tốt các chức năng trên thì công ty cần hoàn thành tốt nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:

- Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức kinh doanh nhằm thựchiện những chức năng trên

- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và đề xuấtvới Sở Công nghiệp các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong sản xuấtkinh doanh

- Quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đồng thời tự tạo các nguồnvốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị,

tự bù đắp chi phí, tự cân đối trong xuất nhập khẩu làm sao phải đảm bảo sảnxuất kinh doanh có hiệu quả và làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước

- Nghiên cứu và học tập có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượngquản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đủ sức cạnh tranh và mở rộngthị trường tiêu thụ

- Quản lý và chỉ đạo, tạo điều kiện để các đơn vị trực thuộc công ty chủđộng sản xuất theo quy chế, pháp luật hiện hành của Nhà nước và Sở côngnghiệp

Trang 7

Phần hai ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH

I Đặc điểm về cơ cấu tổ chức

1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị

Để đảm bảo cho mọi hoạt động tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh củacông ty đi vào nề nếp ổn định, thống nhất, công ty đã tổ chức bộ máy quản trịtheo mô hình sau: (Sơ đồ bộ máy quản trị công ty)

Trang 8

Ghi chú: Điều hành trực tuyến; Kiểm soát hoạt động; Mối quan hệ tương hỗ

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị Ban kiểm soát

Ban giám đốc điều hành

Phân xưởng dệt 2 Phân xưởng dệt 3 Phân xưởng tẩy

nhuộm

Phân xưởng hoàn

thành

Trang 10

Trong mô hình trên, bộ máy quản trị của công ty được bố trí gần giốngvới mô hình quản trị kiểu trực tuyến – chức năng nhằm tận dụng hết những

ưu điểm của mô hình này Nhiệm vụ và chức năng cụ thể của từng bộ phậnnhư sau:

- Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và

là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông của công ty

có nhiệm vụ thông qua định hướng phát triển của công ty; quyết định loại cổphần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức

cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thànhviên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; quyết định đầu tư hoặc bánmột số tài sản của công ty; quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; thôngqua báo cáo tài chính hàng năm; xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồngquản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty;quyết định tổ chức, giải thể công ty

- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty, có quyền nhân danh

công ty để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công ty không thuộcthẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Những nhiệm vụ chính của Hội đồngquản trị là quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạchkinh doanh hàng năm của công ty; quyết định giá chào bán cổ phần công ty,quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư; quyết định giải pháp phát triểnthị trường, tiếp thị và công nghệ; giám sát, chỉ đạo ban giám đốc điều hành;quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế nội bộ công ty, trình báo cáo tài chínhhàng năm cho Đại hội đồng cổ đông…

- Ban kiểm soát: có quyền thay mặt đại hội đồng cổ đông giám sát, đánh

giá công tác điều hành, quản lý của Hôi đồng quản trị và ban giám đốc; kiểmtra, thẩm định tính trung thực, đúng đắn của các bản báo cáo tài chính cũngnhư các báo cáo khác; kiến nghị hội đồng quản trị, ban giám đốc đưa ra các

Trang 11

giải pháp phòng ngừa hậu quả xấu có thể xảy ra, giám sát hiệu quả sử dụngvốn của công ty…

- Ban giám đốc điều hành là bộ phận chịu trách nhiệm điều hành công

việc kinh doanh hàng ngày của công ty Các nhiệm vụ cụ thể của ban giámđốc điều hành là: quyết định các công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện cácquyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh

và phương án đầu tư của công ty; kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức côngty; quyết định mức lương và phụ cấp cho lao động và các bộ phận công ty;tuyển dụng lao động; kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinhdoanh

- Phòng sản xuất kinh doanh: theo dõi việc thực hiện hợp đồng, cung

ứng vật tư, quản lý hệ thống kho và vận chuyển, tiến hành hoạt động xuấtnhập khẩu Phòng cũng quản lý hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm vàbán sản phẩm của công ty, làm đại lý bán hàng cho các công ty dệt may khácnhư Hanoisimex, Dệt kim Đông Xuân Phòng còn có nhiệm vụ lập và theo dõi

kế hoạch sản xuất và đầu tư, phát triển sản xuất, nâng cao kỹ thuật sản xuất,xây dựng định mức vật tư, lập kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu và linh kiệnthiết bị để phục vụ cho sản xuất, thanh toán vật tư, quản lý máy móc thiết bịphục vụ sản xuất tại công ty

- Phòng hành chính: có nhiệm vụ lưu giữ hồ sơ, các loại công văn, giấy

tờ của công ty Phòng còn có nhiệm vụ tổ chức lễ tân, chuẩn bị cho các buổihọp của ban giám đốc và hội đồng quản trị, tổ chức công tác quân sự, an ninh

an toàn trong toàn công ty và trong các dây chuyền công nghệ , đảm bảo quátrình sản xuất được liên tục và giao hàng đúng kế hoạch…

- Phòng tổ chức: thực hiện công tác quản lý nguồn nhân lực, công tác

tiền lương, quản lý hồ sơ đào tạo, hồ sơ nhân viên để có kế hoạch đào tạo

Trang 12

hoặc đào tạo lại, nâng cao, đáp ứng tình hình sản xuất ngày càng phát triển,thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật và nhà nước…

- Phòng xuất nhập khẩu: thực hiện các công việc về marketing, nghiên

cứu thị trường, hoạch định sản phẩm, chính sách giá và các chính sách khácnhư quảng cáo, dịch vụ bán hàng, hội chợ, triển lãm… nhằm mở rộng và pháttriển thị trường tiêu thụ, tìm ra các đoạn thị trường mới, thị trường tiềm năng

- Phòng tài chính – kế toán: cập nhật thông tin theo ngày, tháng, quý,

năm với nội dung phù hợp với nghiên cứu tài chính, tập hợp chi phí để tínhgiá thành sản phẩm và tham gia vào việc xem xét hợp đồng Phòng còn cóchức năng thống kê và thực hiện thanh toán cho khách hàng

2 Hệ thống sản xuất kinh doanh

Sản phẩm chính của công ty cổ phần dệt kim Hà Nội là các loại bít tấtphục vụ cho nhu cầu cả trong và ngoài nước Đặc điểm tổ chức sản xuất kinhdoanh là sản xuất đơn chiếc từng loại tất theo đơn đặt hàng mà công ty kýđược hợp đồng

Với đặc điểm trên, công ty chia thành 4 phân xưởng:

- Phân xưởng dệt 2: là phân xưởng sử dụng các thiết bị dệt cơ khí

- Phân xưởng dệt 3: là phân xưởng sử dụng các thiết bị dệt computerHai phân xưởng này chuyên dệt bít tất từ các loại nguyên liệu mộc hoặc

từ nguyên liệu hoặc nhuộm thành phẩm

- Phân xưởng nhuộm: thực hiện nhuộm tất cả các sản phẩm xuất khẩu.Sau khi bít tất được dệt từ nguyên liệu mộc thường có màu trắng thì khâu tiếptheo chúng được qua phân xưởng nhuộm để cho ra những sản phẩm theođúng đơn đặt hàng Ngoài ra còn có thao tác nhuộm thành phẩm, tức là cácsản phẩm đã được hoàn thành ở khâu trước và phải qua công đoạn thêu thìnhuộm thành phẩm

Trang 13

- Phân xưởng hoàn thành: hoàn tất các công đoạn còn lại để cho ra sản

phẩm hoàn chỉnh như sấy, gấp, thêu, sửa chữa khứu thêu

Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty như sau:

Quy trình công nghệ sản xuất của công ty là quy trình chế biến liên tục,

mỗi dây chuyền sản xuất bao gồm 8 công đoạn riêng biệt Nguyên liệu đầu

vào (mua ngoài hoàn toàn) sẽ được nhập kho để phục vụ cho nhu cầu sản

xuất Khi có lệnh hoặc có giấy xuất kho cho các bộ phận sử dụng thì sẽ xuất

kho nguyên liệu Sau đó, nguyên liệu đầu vào đó sẽ đi qua lần lượt các khâu

chế biến để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh Tuy nhiên có thể thấy ở mỗi dây

chuyền vẫn có sự lặp lại của một số chức năng như dệt, khứu kiểm tra, sấy,

gấp, đóng gói và nhập kho Hai dây chuyền sản xuất chỉ khách nhau ở đầu

vào của mỗi dây chuyền Ở dây chuyền đầu tiên, đầu vào là vật liệu mộc như

sợi, bông còn dây chuyền thứ hai thì đầu vào là vật liệu đã qua xử lý nhuộm

trước khi dệt Do đó, việc xử lý thành phẩm sau khi kiểm tra cũng khác nhau,

cụ thể, ở dây chuyền thứ nhất, nhà sản xuất phải nhuộm thành phẩm, còn ở

dây chuyền thứ hai, nhà sản xuất sẽ tiến hành thêu vì đã sử dụng thành phẩm

nhuộm ở đầu vào

II Đặc điểm về đội ngũ lao động

Do đặc điểm công việc là mang tính mùa vụ và đòi hỏi ít về sức mạnh cơ

bắp mà chủ yếu là sự khéo léo, bền bỉ và kiên trì nên phần lớn lao động của

Dệt

Khứu kiểm tra

Thêu

Sấy

Đóng gói

Vật

liệu

mộc

Dệt

Khứu kiểm tra

Nhuộm

Sấy

Đóng gói

Kho

Nhuộm

thành

phẩm

Kho

Trang 14

công ty là lao động nữ Năm 2005, tổng số cán bộ công nhân viên của công ty

là 510 người thì số lao động nữ đã là 400 người Có thể thấy rõ hơn cơ cấu sửdụng lao động của công ty qua việc phân loại sau đây:

Nếu phân theo hợp đồng lao động thì:

- Số lao động tuyển dụng theo chế độ biên chế Nhà nước, nhưng chưachuyển sang ký hợp đồng lao động là 04 người

- Số lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn (loại A) là 251 người

- Số lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 1 đến 3 năm (loại B) là 245người

- Số lao động ký hợp đồng mùa vụ theo công việc dưới 1 năm (loại C) vàlao động học nghề, thử việc là 7 người

- Số lao động nghỉ không lương là 3 người

N u phân theo trình ếu phân theo trình độ lao động: độ lao động: lao độ lao động:ng:

Trình độ lao động Số lượng (người) Tỷ trọng (%)

Bảng 1: Phân loại lao động công ty năm 2005 theo trình độ

Như vậy, lao động trong công ty chủ yếu là công nhân và công nhân kỹthuật, mới được đào tạo cơ bản về các kỹ năng công việc Số lượng lao động

đã được đào tạo bài bản, qua trường lớp (đại học, cao đẳng) còn ít, chỉ chiếmkhoảng 20% tổng số lao động

Tuy nhiên, sau khi cổ phần hóa, công ty đã có sự sắp xếp lại đội ngũ laođộng với cơ cấu gọn nhẹ hơn và phù hợp hơn với tình hình sản xuất của công

Trang 15

ty cũng như nhu cầu tiêu thụ thực tế của thị trường Tình hình biến động cụthể như sau:

Số lượng lao động (người) Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Bảng 2: Số lượng lao động của công ty năm 2006, 2007, 2008

Nhìn vào bảng trên có thể thấy, số lượng lao động đã giảm khoảng hơn

100 người so với trước khi cổ phần hóa Mặc dù vậy, chất lượng lao động đãkhông ngừng được tăng lên Cùng với việc tuyển dụng những lao động cótrình độ cao hơn, công ty cũng không ngừng tiến hành các hoạt động đào tạo

và đào tạo lại lao động để nâng cao trình độ và năng lực sản xuất cho cán bộcông nhân toàn công ty

III Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật

Kể từ khi thành lập (năm 1966) đến nay, công ty luôn luôn chú trọng đầu

tư xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm thực hiện tốt nhấtnhiệm vụ nhà nước giao cũng như những kế hoạch, chỉ tiêu mà công ty đề ra.Nếu như ngày thành lập, công ty chỉ có những máy móc đơn giản gồm 140máy dệt bít tất tự động, bán tự động và thủ công, 100 máy dệt kim và một sốmáy dệt kim cùng những trang thiết bị phụ trợ thì cho đến nay, sau hơn 40năm xây dựng, hệ thống máy móc thiết bị của công ty đã phát triển lên rấtnhiều với hệ thống dây chuyền sản xuất liên hoàn và nhiều máy móc, thiết bịhiện đại, được nhập khẩu từ những nước có nền công nghiệp phát triển nhưNhật Bản, Hàn Quốc, Italia Phần lớn số thiết bị trên là hoàn toàn tự động,trong đó có một số thiết bị thêu, dệt sử dụng vi mạch điều khiển, thiết kế vàlập trình trên máy tính Thêm vào đó, hệ thống nhà xưởng, kho chứa và hệthống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty cũng được mở rộng vàphát triển rất nhiều Hiện đã có trên 30 cửa hàng, đại lý ở khắp các tỉnh thànhcủa cả nước bán và giới thiệu sản phẩm của công ty Mặc dù vậy, có một điều

Trang 16

dễ nhận thấy là trụ sở chính của công ty đặt tại xã Xuân Đỉnh, huyện TừLiêm, Hà Nội là một nơi không thuận lợi về giao thông, mặt bằng sản xuấtvỏn vẹn chỉ 11000m² Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty Vì vậy, trong thời gian tới, công tyđang có hướng di dời toàn công ty về nơi có địa thế thuận lợi hơn để nâng caohơn nữa kết quả sản xuất của toàn công ty.

IV Tình hình tài chính của công ty

Hiện nay, vốn điều lệ của công ty vẫn là 24 tỷ đồng, tuy nhiên nguồnvốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã tăng lên rất nhiều Bên cạnh vốnchủ sở hữu, công ty cũng sử dụng linh hoạt nguồn vốn vay để hoạt động sảnxuất, kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao hơn Có thể thấy rõ hơn điềunày qua bảng cơ cấu tài sản – nguồn vốn của công ty như sau:

(đồng)

Tỷ trọng (%)

31/12/2007 (đồng)

Tỷ trọng (%)

* Tại thời điểm ngày 31/12/2006: Tổng tài sản mà công ty đang quản lý

và sử dụng là 50.844.863.239 đồng Trong đó tài sản lưu động và đầu tư ngắnhạn chiếm 33,45%, còn lại là tài sản cố định và đầu tư dài hạn Tổng tài sảnnày được hình thành từ hai nguồn là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Cụthể, nợ phải trả là 24.864.100.119 đồng, chiếm 48,87% tổng nguồn vốn, trong

Trang 17

đó chủ yếu là nợ ngắn hạn chiếm 38,40% nguồn vốn, còn lại là nợ dài hạn.Nguồn vốn chủ sở hữu là 25.998.736.120 đồng, chiếm tỷ trọng 51,13% tổngnguồn vốn, trong đó chủ yếu là vốn đầu tư của chủ sở hữu 25.748.617.294đồng, chiếm 91,04%, còn nguồn kinh phí và quỹ khác chỉ chiếm 0,96%.

* Tại thời điểm 31/12/2007: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công

ty chiếm 67,72% tổng tài sản, trong khi đó nguồn vốn dài hạn của công tychiếm 68,23% tổng nguồn vốn Điều này chứng tỏ một phần tài sản lưu độngcủa công ty đã được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn Như vậy, công ty đã đảmbảo được nguyên tắc tài trợ và dùng nguồn vốn tài trợ ổn định

Tổng tài sản lưu động của công ty tính đến 31/12/2007 là hơn 17 tỷđồng Số vốn lưu động này được tài trợ từ hai nguồn là vốn lưu động thườngxuyên (1,58%) và vốn lưu động tạm thời (98,42%) Đánh giá về tính ổn địnhcủa nguồn vốn thì có 1,58% nguồn vốn lưu động thường xuyên được tài trợbằng nguồn dài hạn và 98,42% được tài trợ bởi nguồn vốn lưu động có tínhchất tạm thời nên đã giúp công ty chủ động được vốn lưu động và đáp ứngđầy đủ kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp trong sản xuất kinhdoanh

Như vậy, có thể thấy tình hình tài chính của công ty là khá tốt Công ty

đã thiết lập được mô hình tài trợ khá phổ biến với vốn lưu động thường xuyêncần thiết thì được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn còn vốn lưu động tạm thờiđược tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn Mô hình này giúp công ty xác lậpđược sự cân bằng về thời hạn sử dụng vốn và nguồn vốn, do đó có thể hạn chếcác chi phí sử dụng vốn phát sinh thêm và những rủi ro về mặt tài chính chocông ty Cơ cấu tài trợ này cho ta thấy công ty có khả năng tự chủ cao trongđiều hành kinh doanh Rủi ro đầu tư và rủi ro thanh toán nhìn chung là thấp

V Đặc điểm về sản phẩm

Như trên đã nói, công ty tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhưngngành nghề kinh doanh chính của công ty vẫn là dệt may Sản phẩm chủ lực

Trang 18

của công ty là các sản phẩm dệt kim mà chủ yếu là bít tất Sản phẩm bít tất cómẫu mã đa dạng, màu sắc phong phú, độ đàn hồi và bền màu cao nhưng vẫnđảm bảo an toàn về vệ sinh, mang lại cảm giác thoải mái, mềm mại, thoángmát khi sử dụng Bên cạnh bít tất, công ty còn sản xuất các sản phẩm phụ như

áo thun, mũ, khăn mặt, khăn quàng, quần mùa đông… Trước kia, những sảnphẩm này phần lớn mang tính mùa vụ cao, nhưng ngày nay, đặc điểm và sởthích của người tiêu dùng đã thay đổi rất nhiều nên tính mùa vụ của sản phẩmcũng giảm dần, đặc biệt là sản phẩm bít tất Ngày nay, mọi người không chỉ đitất vào mùa đông mà còn cả mùa hè nên sản phẩm chính của công ty vẫn cóthể tiêu thụ được trong tất cả các mùa Đối với sản phẩm chính này, hiện cũng

có rất nhiều mẫu mã dành cho mọi đối tượng khách hàng như người lớn, trẻ

em, phụ nữ, nam giới…

Những sản phẩm của công ty luôn được sản xuất theo những tiêu chuẩnchặt chẽ, đảm bảo an toàn và thoải mái cho người tiêu dùng Cụ thể, tiêuchuẩn được công ty xây dựng và công bố là tiêu chuẩn TC01 (bít tất namgiới), TC02 (bít tất thêu nam, nữ, trẻ em), TC03 (bít tất giấy nữ) Tính chất cơ

lý của sản phẩm được kiểm tra tại trung tâm I – tổng cục tiêu chuẩn đo lườngchất lượng Thêm vào đó, công ty thường xuyên thăm dò, nghiên cứu thịtrường, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng nhằm tạo ra những sản phẩm cótính thời trang và cạnh tranh cao về kỹ thuật , thẩm mỹ Chính những điều này

đã làm cho sản phẩm của công ty luôn đảm bảo đạt được chất lượng tốt nhất,đáp ứng cao nhất với những nhu cầu của khách hàng

VI Đặc điểm về khách hàng, thị trường và đối thủ cạnh tranh

1 Khách hàng

Khách hàng trực tiếp hiện nay của công ty chủ yếu là những thươngnhân và các nhà nhập khẩu ở các nước, còn các khách hàng mua lẻ từ công tythì vẫn rất hạn chế Điều này là do chức năng sản xuất là chức năng chính của

Ngày đăng: 14/12/2012, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân loại lao động công ty năm 2005 theo trình độ - Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội
Bảng 1 Phân loại lao động công ty năm 2005 theo trình độ (Trang 14)
Bảng 2: Số lượng lao động của công ty năm 2006, 2007, 2008 - Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội
Bảng 2 Số lượng lao động của công ty năm 2006, 2007, 2008 (Trang 15)
Bảng 6: Doanh thu, lợi nhuận của công ty năm 2006, 2007, 2008 - Báo cáo về sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần dệt kim Hà Nội
Bảng 6 Doanh thu, lợi nhuận của công ty năm 2006, 2007, 2008 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w