1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010

63 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010
Tác giả Trần Thị Lý
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Lao Động
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2010
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 463,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu đối vớimọi quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển cũng như các nước đang phát triển vàkém phát triển, ở Việt Nam, đói nghèo là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặcbiệt quan tâm Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế -

xã hội nước ta nói chung và khu vực nông thôn nói riêng đã có những biến đổisâu sắc Nhịp độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế cao và tương đối ổn định từ7% - 10% tỷ lệ lạm phát giảm, sản lượng lương thực liên tục tăng trong nhiềunăm qua, cuộc sống nhân dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã cónhững thay đổi, tiến bộ

Từ thực tế sản xuất cùng với việc thực hiện các chủ trương, chính sách củaĐảng , nhà nước, các hộ nông dân biết sở dụng có hiệu quả về lao động, đất đai,tiền vốn cho nên ngày càng có nhiều những hội kinh doanh giỏi Mặt khác, số

hộ nông dân không biết bắt nhịp thời cơ, tiếp cận những tri thức sản xuất haykhông đủ điều kiện đã trở thành hộ nghèo đói Ranh giới giàu nghèo ngày càngtrở nên rõ nét hơn , khi nền kinh tế thị trường ngày càng mở cửa , điều đó đã dẫntới sự phân hoá sâu sắc về đời sống và thu nhập của nhóm người giàu và ngườinghèo trong xã hội, giữa thành thị và nông thôn Thực trạng này nếu khôngđược giải quyết sẽ nẩy sinh ra những mâu thuẫn trong xã hội , là nguy cơ làmmất ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

Mặc dù được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm , ưu đãi trong công cuộcxoá đói giảm nghèo Nhưng Bình Liêu vẫn còn có hộ nghèo, cụ thể tổng số hộnghèo đầu năm 2006 là 254 hộ = 49,46% hộ ở Huyện

Đây là một mối quan tâm lớn của cấp uỷ, các ban, ngành đoàn thể từ huyệnđến cơ sở Vì vậy việc xoá đói giảm nghèo trong nông thôn ở đây được đặt ranhư một yêu cầu cấp bách cần giải quyết với nhiều phương pháp tiếp cận cả trênbình diện vĩ mô và vi mô

Trang 2

Xuất phỏt từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trờn nờn trong quỏ trỡnhthực tập tại phũng Nội vụ LĐTB & XH huyện Bỡnh liờu tỉnh Quảng Ninh em đóchọn đề tài nghiờn cứu của mỡnh :

“Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010” làm chuyờn đề thực tập tốt nghiệp

Nhằm đỏnh giỏ đỳng đắn thực trạng đúi nghốo , tỡm ra nguyờn nhõn và đề ranhững biện phỏp thiềt thực để từng bước gúp phần xoỏ đúi, giảm nghốo ở địaphương mỡnh một cỏch hiệu quả

2 Mục tiờu nghiờn cứu của đề tài

Hệ thống hoỏ cơ sở lý luận và phương phỏp luận nhằm xem xột , đỏnh giỏcỏc vấn đề nghốo đúi ở nụng thụn hiện nay

Phản ỏnh thực trạng đúi nghốo và tỡm ra nguyờn nhõn dẫn đến đúi nghốo Bước đầu tỡm ra định hướng và giải phỏp chủ yếu nhằm gúp phần xoỏ đúi ,giảm nghốo cho cỏc hộ nghốo đúi ở nụng thụn huyện Bỡnh liờu - tỉnh QuảngNinh trong những năm tới (2007- 2010)

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

3.1 Đối tượng nghiờn cứu

Đề tài tập trung nghiờn cứu tỡnh hỡnh sản xuất, thu nhập và đời sống củacỏc hộ nghốo đúi qua điều tra ở huyện Bỡnh liờu

Về thời gian: nghiờn cứu thực trạng trong những năm gần đõy, chủ yếu từ

2001 đến 2006 đề ra định hướng và giải quyết cho đến năm 2010

4 Phương phỏp nghiờn cứu

Trang 3

Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu kết hợp với các phươngpháp phân tích tổng hợp số liệu, thống kê, so sánh xử lý, bảng biểu.

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về xóa đói giảm nghèo.

Chương II: Phân tích và đánh giá thực trạng nghèo đói ở huyện Bình Liêu giai đoạn 2000-2006.

Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị thực hiện tốt việc XĐGN ở huyện Bình Liêu giai đoạn 2007-2010

Trang 4

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

I Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực xác định đói nghèo của thế giới

I.1.Khái niệm

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứuvấn đề nghèo đói ở thành thị và nông thôn Vậy như thế nào là nghèo đói? Xácđịnh và đánh giá như thế nào? Những câu hỏi đang đặt ra cho giới nghiên cứucũng như những nhà hoạch định ở mọi quốc gia Vào cuối thập kỷ 80 và đầunhững năm 90 nền kinh tế của các vùng châu Á- Thái Bình Dương đã có nhữngchuyển biến rõ rệt, các nước cùng khu vực đã hỗ trợ liên doanh, liên kết vớinhau xây dựng, phát triển nền kinh tế, nhiều quốc gia đã cơ bản giải quyết đượcvấn đề kinh tế, nhiều quốc gia khác đã có sự hồi phục lại nền kinh tế một cáchđầy ấn tượng.Tuy đã đạt được những thành quả to lớn đó, nhưng không có nghĩa

là có sự phồn vinh kinh tế trong tất cả các vùng và tất cả xã hội trong một quốcgia Với nền kinh tế mở các nước có điều kiện giao lưu buôn bán, trao đổi cả vềhàng hoá công nghệ, nhờ vậy mà người giàu có điều kiện mở mang kinh doanhsản xuất, tăng thu nhập, còn những người có điều kiện và cơ hội ít thì gặp khókhăn trong việc sản xuất kinh doanh ngày càng nghèo đi Thậm chí có nhữngnước tỷ lệ người nghèo đói lại cao hơn, đó là điều làm cho thế giới phải quantâm và giải quyết Một số nước ở Tây Âu, với nền kinh tế phát triển, tưởngchừng như không còn nghèo đói thì thực ra tỷ lệ người nghèo đói vẫn còn cao.Như vậy, dù ở nước nào, thời điểm nào thì nghèo đói vẫn còn tồn tại, một phần

là do hậu quả của các chính sách phát triển không tương xứng và các chiến lượckhông thích hợp, một phần do mức tăng trưởng dân số hay những yếu tố ngoạicảnh khác

Trang 5

Đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực nghèo đói được phân chia ở mức độkhác nhau, tuy nhiên xét trên phương diện chung thì nghèo đói được định nghĩamột cách rất trừu tượng là: Không có khả năng để có được một mức sống tốithiểu do vậy nó không giống như vấn đề không công bằng Bởi vì, nghèo đói cóliên quan đến mức sống tuyệt đối của một phần xã hội, còn sự không công bằngchỉ mức sống tương đổi trên toàn xã hội.

Mặt khác, đói nghèo có tính động, thay đổi theo không gian, thời gian vàxuất phát điểm theo căn nguyên của nó là những nhân tố sự phát triển của sảnxuất, mức tăng trưởng kinh tế, sự tăng lên của nhu cầu con người, những biếnđổi của xã hội Thực tế cho thấy các chỉ số xác định người đói nghèo và giàu cóluôn biến đổi ỏ một số thời điểm nào đó cùng một nước thì chỉ số đói nghèo cóthể là một con số nhất định, nhưng sang một thời điểm nào khác, nước khác,cộng đồng dân cư khác thì chỉ số này có thể không còn có ý nghĩa

Tuy nghèo đói và phân hoá giàu nghèo đạt nội dung kinh tế có nguồn gốccăn nguyên của nó, song với tư cách là một hiện tượng tồn tại phổ biến ở tất cảcác quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển đói nghèo và phân hoá giàunghèo không bao giờ là hiện tượng kinh tế xã hội.Nhưng nó có những nội dungvật chất, gốc rễ kinh tế ở bên trong và có quan hệ rất biện chứng với xã hộichính trị và văn hoá.Như vậy, nghèo đói và phân hoá giàu nghèo là khái niệmkép vừa có mặt kinh tế, vừa có mặt xã hội trong nội dung của nó, trong sự phátsinh diễn biến ấy, nhân tố chính trị và văn hóa cũng có phần tác động, gây ảnhhưởng tới hiện trạng, xu hướng và cách thức giải quyết Điều này thật rõ trong

sự vận động của nền kinh tế thị trường, của bước chuyển đổi mô hình, cơ chếchính sách quản lý, kể cả những biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời

kỳ quá độ ở nước ta

Đặc điểm này có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn vì đây là cơ sở của việctìm kiếm đồng bộ các giải pháp, biện pháp xoá đói giảm nghèo ở nước ta, nhất

là những vùng dân cư nông nghiệp trong nông thôn

Trang 6

Để đánh giá tình trạng nghèo đói của một quốc gia, nhận dạng được hộnghèo, hộ đói cũng như địa bàn cư trú của hộ, từ đó có những chính sách, giảipháp hỗ trợ phù hợp đòi hỏi phải có những đúng đắn về vấn đề nghèo đói màtrước hết là khái niệm, thước đo, chỉ tiêu chuẩn mực các hiện tượng kinh tế xãhội này.

Hội nghị Quốc tế bàn về xoá đói giảm nghèo trong khu vực CHÂU THÁI BÌNH DƯƠNG do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc năm 1993 đã đưa ra kháiniệm về nghèo đói như sau:

Á-“Nghèo đói là tình trạng ,một bộ phận dân cư không được hưởng và thoảmãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theotrình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”

Có thể coi đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, một định nghĩa cótính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu phổ biến

về nghéo đói Để phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về nghèo đói các nước đãphân chia làm 2 loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoảmãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống, nghĩa là không có khả năngđạt được ít nhất của cuộc sống

Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dướimức trung bình của cộng đồng không có khả năng đạt đến một tiêu chuẩn sốnghiện tại Do vậy, khái niệm nghèo đói tương đối tuỳ thuộc theo thời gian và mứcsống chung của cả xã hội

Trên thế giới vấn đề xá định nghèo đói và giải quyết nghèo đói cũng cónhững cách hiểu khác nhau Theo quan điểm chung những người có thu nhậpdưói 1/3 mức trung bình của xã hội thì coi là nghèo khổ

Ở INĐÔNÊSIA được quy định cụ thể hơn, ai có mức thu nhập quy ra gạobình quân đầu người dưói 285kg/năm thì được coi là nghèo khổ

I.2 Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói của thế giới.

Trang 7

Để đánh giá đói nghèo của thế giới chủ yếu sử dụng chỉ tiêu thu nhậpquốc dân đầu người ( GDP)/người Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng chỉdùng một chỉ tiêu sẽ không đủ đảm bảo đánh giá toàn diện được đói nghèo Vìvậy, tổ chức hội đồng hải ngoại (OCD) đã đưa ra chỉ số chất lượng vật chất củacuộc sống (PQLI- physic quality life indx),căn cứ để đánh giá chỉ số PQLI gồm

- Tỷ lệ những người chết dưới 40 tuổi

- Tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (nước sạch,chăm sóc y tế, dinh dưỡng…)

- GDP bình quân đầu người tính theo phương pháp PPP ( ngang giá sứcmua )

- HPI như là một công cụ để tham khảo đánh giá tình trạng nghèo đói củamột quốc gia

I.3.Chuẩn mực xác định đói nghèo của thế giới.

Nghèo đói về lương thực thực phẩm : là những người có thu nhập khôngđảm bảo cho lượng dinh dưỡng tối thiểu ( bù đắp 2100calo ri/người/ngày đêm).Đường nghèo đói chung : được xác định trên cơ sở người nghèo lương thực thựcphẩm va coi đó là tương ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu , còn 30% còn lại

là các nhu cầu cơ bản tối thiểu khác Nghèo đói chung là những người khôngđảm bảo thu nhập để đáp ứng 2 nhu cầu trên

II Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực xác định nghèo đói của Việt Nam II.1.Khái niệm về nghèo đói của Việt Nam.

Trang 8

Việt Nam là một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp, đầunhững năm 90 mức thu nhập chỉ đạt trên dưới 200 USD/người/năm Đến đầunăm 1997 mới đạt 320 USD/người/năm ( 2006 trên 600 USD), tuy nhiên so vớithế giới và khu vực thì vẫn còn quá thấp Chính vì vậy, qua nhiều cuộc điều tra,khảo sát, nghiên cứu các nhà nghiên cứu quản lý ở các Bộ, ngành đã đi đếnthống nhất cần có khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói như sau:

Hộ nghèo: Là tình trạng một bộ phận hộ gia đình có mức sống dưới mứctrung bình của cộng đồng (thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành,không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất)

Hộ đói: Là tình trạng một bộ phận hộ gia đình không có khả năng thoảmãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống (cơm không đủ ăn, áo không

đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở bằng tranh trevách đất)

Nhu cầu thiết yếu gồm 3 yếu tố: ăn, mặc, ở

Nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm 5 yếu tố: văn hoá, giáo dục,y tế, đi lại,giao tiếp

Nhu cầu tối thiểu, mức cụ thể của nhu cầu tối thiểu phụ thuộc vào điềukiện phát triển kinh tế của từng vùng, từng quốc gia theo từng thời kỳ

II.2.Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo của Việt Nam

Thước đo chuẩn nghèo: là ranh giới phân biệt những người nghèo vànhững người không nghèo, nó được xác định vào các nhu cầu của cuộc sống vàohoàn cảnh cụ thể của từng hộ dân, vào tình trạng phát triển kinh tế xã hội củamột địa phương, một vùng, một quốc gia Đây không phải là con số ổn định mà

nó sẽ thay đổi theo từng địa phương, từng quốc gia và thay đổi theo thời gian

Chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân đầu người/tháng (hoặc năm), đođược bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực hay gạo

để đánh giá

Ngoài ra còn có các chỉ tiêu phụ: dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và cácđiều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại,…

Trang 9

Với điều kiện giá cả ổn định thì có thể căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập bìnhquân đầu người bằng giá trị cơ bản để phản ánh mức sống, song trong nhữngthời kỳ mà giá cả có sự biến động thì cần phải quy đổi ra giá trị hiện vật, phổbiến là quy đổi ra gạo để xác định (gạo thường), việc sử dụng hình thức quy đổihiện vật nhằm loại bỏ được ảnh hưởng của các yếu tố giá cả Từ đó có thể sosánh được mức thu nhập của người dân theo không gian và thời gian

II.3.Chuẩn mực xác định đói nghèo của Việt Nam

Chuẩn mực đói nghèo năm 1997-1998 được xác định :

Hộ đói : là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13ky gạo/người/tháng ,tương ứng với 45.000đ , (áp dụng cho mọi vùng)

Hộ nghèo: Phân theo 3 vùng có thu nhập như sau :

+ Vùng nông thôn miền núi , hải đảo: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngườidưới 15kg gạo , tương ứng với 55.000đ

+ Vùng nông thôn đồng bằng , trung du: là hộ có thu nhập bình quân đầungười dưới 20kg gạo, tương ứng với 70.000đ

+ Vùng thành thị : là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 25 kg gạo,tương ứng với 90.000đ

Bộ lao động TBXH đã đưa ra chuẩn mực chung cho toàn quốc Các tỉnh ,thành phố có thể căn cứ tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nghèo đói ở địaphương có thể nâng chuẩn mực nghèo đói cao hơn chuẩn chung , nhưng phảiđảm bảo 3 điều kiện :

+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân cả nước + Tỷ lệ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước

+ Có đủ nguồn lực cân đối thực hiện các giải pháp hỗ trợ XĐGN

Chuẩn nghèo theo quyết định số:1143/2000/QĐ-LĐTBXH mgày01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ lao động TBXH về việc điều chỉnh hộ nghèo giaiđoạn 2001 – 2005 theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từngvùng , cụ thể như sau :

Vùng nông thôn miền núi , hải đảo: 80.000đ/tháng/người - 960.000đ/ năm

Trang 10

- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/tháng/người – 1.200.000đ/năm

- Vùng thành thị : 150.000đ/tháng /người – 1.800.000đ/ năm

Những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới mức qui định nêu trên đượcxác định là hộ nghèo

Chuẩn mực nghèo đói năm 2005 như sau :

- Vùng nông thôn đồng bằng : 200.000đ / tháng / người

Quan trọng hơn nữa, khi quy đổi từ thu nhập sang gạo và tương ứng là sốKcal/ngày đã không căn cứ trên cách thức tiêu dùng thực tế của người dân.Người dân hoàn toàn có thể tiêu dụng thu nhập của mình cho những thực phẩmkhác có giá tiền tính trên một đơn vị Kcal cao hơn rất nhiều so với gạo Trênthực tế thì lượng Kcal nạp vào của mỗi người phải có đến 20-25% là tối thiểukhông phải là gạo Tiếp đến, việc xác định hộ nghèo đói dựa trên thu nhập trungbình đầu người đã đưa đến một con số nhỏ đáng ngờ về số lượng người nghèođói ở Việt Nam (chỉ có 1,1% người Việt Nam thuộc diện nghèo đói)

Trang 11

Chính vì vậy, người ta đã đưa thêm giới hạn nghèo đói 2.100Kcal/người/ngày làm giới hạn nghèo đói Nếu theo giới hạn này thì Việt Namnăm 1994 có tới 51% dân số được xếp ở loại nghèo đói.

II.4 Tình hình nghèo đói ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam chỉ thực sự có bước chuyển biến khi Đảng và Nhànước thực hiện các chính sách mở cửa, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theohướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Trong nhữngnăm này, tình hình kinh tế trong nước đã có những thay đổi lớn Cụ thể là tốc độtăng trưởng GDP cao và tăng đều qua các năm, bình quân thời kỳ 1986-1990tăng 3% năm; thời kỳ 1991-1995 tăng 8,2% năm; năm 1991 tăng 9,34% … Nhờ

đó mà đời sống nhân dân được cải thiện, lạm phát được kìm chế và giảm dầntrong những năm gần đây: năm 1995 là 12,4%; năm 1996 là 4,5%; năm 1997còn 3,6% (trong đó có những năm con số này lên đến 774,7% siêu lạm phát(1986) Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ như trên, nhưng vàothập niên 90 Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, chỉ tiêukinh tế bình quân đầu người còn rất thấp, tỷ lệ nghèo đói vẫn còn cao Có hơn90% số người nghèo đói ở nông thôn sản xuất thuần nông, qui mô nhỏ và lạc

hậu

II.5 Nguyên nhân và đặc điểm của các hộ nghèo đói

* Nguyên nhân của các hộ nghèo đói

Thứ nhất, do nguồn lực bị hạn chế Thiếu nguồn lực nên người nghèo bị

rơi vào vòng luẩn quẩn nghèo đói không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực làmcản trở họ thoát nghèo, các hộ nghèo có ít đất, thiếu khả năng tiếp cận nguồn tíndụng do không có tài sản thế chấp, sử dụng sai mục đích Nguồn thu nhập bấpbênh, tích luỹ kém nên khó chống đỡ với mọi biến cố xảy ra

Thứ hai, do trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định:

người nghèo trình độ hoc vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt nên mứcthu nhập thấp, không có khả năng để nâng cao trình độ Từ đó ảnh hưởng đếncác vấn đề giáo dục,sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái,…

Trang 12

Do trình độ thấp nên người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với cácdịch vụ sản xuất đã làm tăng chi phí,giảm thu nhập trên một đơn vị sản phẩm…

Thứ ba, do bệnh tật sức khoẻ yếu kém và bất bình đẳng giới: bệnh tật

ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo, hộ mất đi thu nhập và tăngthêm chi phí cho y tế do đó họ phải vay mượn dẫn đến khó có thể thoát nghèo.Bất bình đẳng làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cậnvới khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, họ phải gánh nặng việc gia đình, thunhập thấp hơn nam giới, tỷ lệ trẻ em tử vong do bà mẹ không hiểu biết về sinhsản sức khoẻ

Thứ tư, do các nguyên nhân về nhân khẩu, quy mô hộ gia đình: đông con

vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của đói nghèo

Thứ năm, do những tác động của đổi mới chính sách: tốc độ tăng trưởng

kinh tế cao và ốn định trong thời gian qua là một trong những nhân tố ảnh hưởnglớn tới mức giảm nghèo Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nôngnghiệp và nông thôn còn thấp Cải cách doanh nghiệp nhà nước cùng với những

hộ khó khăn về tài chính của một số doanh nghiệp đã dẫn tới việc mất đi gần1.000.000 việc làm, nhiều công nhân mất việc gặp rất nhiều khó khăn Tìnhtrạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sảnphẩm thấp và năng lưc sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp nhỏ

và vừa bị phá sản

Tóm lại: Đói nghèo do nhiều ngyên nhân gây nên, có cả chủ quan và

khách quan Để nhận biết một cách đầy đủ chúng ta có thế chia thành 3 nhómnguyên nhân:

Nhóm 1: Gồm những nguyên nhân chủ quan thuộc về bản thân nguời laođộng

- Kém hiểu biết về cách thức làm ăn hộ sản xuất lạc hậu

- Thiếu hoặc không có vốn để sản xuất

- Đông con, ít lao động

- Rủi ro, ốm đau, bệnh tật

Trang 13

- Thiếu tư liệu sản xuất cần thiết.

- Thiếu việc làm

- Ăn tiêu không có kế hoạch, lười biếng, mắc tệ nạn xã hội

Nhóm 2: Thuộc về điều kiện tự nhiên

- Đất đai dùng cho thâm canh cây lúa, diện tích BQ đầu ngưòi thấp

- Đất đai cằn cỗi, chưa chủ động hoàn toàn về nước

- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt gây khó khăn cho sản xuất, cụ thể như hạnhán, bão lụt thường xuyên xảy ra kèm theo gió Lào, mưa phùn kéo dài,…

- Xa trung tâm kinh tế của tỉnh, giao thông đi lại khó khăn cách trở

để tự làm như cầu đường giao thông

-Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội chưa có biện pháp hữu hiệu đểchuyển những thông tin cần thiết đến tận người dân, cụ thể như: các biện pháp

lỹ thuật sản xuất, chăn nuôi, cách thức làm ăn, mở rộng ngành nghề mới, cácchủ trương chính sách nhất là chính sách kinh tế…

* Đặc điểm của các hộ nghèo đói

- Người nghèo chủ yếu là người nông dân với trình độ học vấn thấp và khảnăng tiếp cận đến các thông tin và kỹ năng chuyên môn bị hạn chế

Tình trạng hộ nghèo có ít đất hoặc không có đất đang ngày một phổ biếnhơn Các hộ không thể sống bằng canh tác trên đất có rất ít cơ hội để có thu nhập

ốn định từ các hoạt động phi nông nghiệp Cần phải tiến hành ngay cải cáchnhằm tạo ra việc làm phi nông nghiệp hơn

Các hộ có nhiều con hoặc có ít lao động có tỷ lệ nghèo cao hơn và đặc biệt

dễ bị tổn thương khi phải gánh chịu thêm những chi phí về y tế và giáo dục Các

Trang 14

hộ gia đình mới lập ban đầu phải trải qua giai đoạn nghèo đói do ít có khả năngđược sử dụng đất Các hộ nghèo thường bị rơi vào vòng nợ luẩn quẩn.

- Các hộ nghèo đều dễ bị tổn thương bởi những khó khăn mang tính thời vụ

và những biến động bất thường xảy ra đối với gia đình hay cộng đồng Các hộnghèo có thể bị tách biệt về mặt địa lý hoặc về mặt xã hội

- Tỷ lệ nghèo đói trong các nhóm dân tộc ít người đã giảm đi, nhưng khônggiảm nhanh bằng người Kinh Các dân tộc ít người gặp phải nhiều bất lợi đặcbiệt Các bất lợi này cần phải được giải quyết thông qua một Chương trình Pháttriển cho các dân tộc ít người

- Những người dân nhập cư thành thị, nghèo và không có hộ khẩu gặpnhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ công cộng và có thể phảisống ở bên lề của xã hội

- Có quá nhiều trẻ em trong số dân nghèo Trẻ em nghèo ít có khả năngđược đến trường và bị rơi vào vòng nghèo đói do thế hệ trước để lại và các emthường có cảm giác không được an toàn

III Tình hình nghèo đói của tỉnh Quảng Ninh

Theo kết quả tổng điều tra xác định hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh tháng 6/

2005 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 do Chính phủ qui định (mức chuẩnthu nhập để đánh giá hộ nghèo tăng khoảng 2 lần so với tiêu chí cũ) Toàn tỉnh

có 26.587 hộ nghèo, chiếm 10,62% tổng số hộ ; trong đó tỷ lệ nghèo khu vựcvùng cao chiếm 32,99% (huyện Ba Chẽ 52,13%; huyện Bình Liêu 49,46% hộnghèo); 56 xã, thị trấn có tỷ lệ nghèo từ 52% trở lên Có 17,30 hộ nghèo diệnnông nghiệp nhưng không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; 43,95% hộ nghèo còndùng nước tự nhiên để ăn uống ; 18,28% hộ nghèo chưa sử dụng điện sinh hoạt Các huyện vùng cao, miền núi địa bàn rộng , địa hình phức tạp, hệ thống cơ sở

hạ tầng đến các thôn, bản còn thiếu và yếu Khoảng cách chênh lệch về thu nhậpgiữa thành thị và vùng nhiều dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục gia tăng Số hộ đãthoát nghèo nhưng chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo có khả năng tăng

Trang 15

khi có thiên tai, dịch bệnh, mất mùa xảy ra Trình độ dân trí của người nghèocòn thấp, cơ hội tìm việc làm ngày càng khó khăn hơn.

Trang 16

CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH

GIAI ĐOẠN 2000-2006

I Quá trình hình thành và phát triển của huyện Bình liêu

Bình liêu ngày nay, dưới thời phong kiến Việt nam , khi thực dân phápchưa xâm lược gồm hai tổng Bình liêu và Kiến Duyên của Châu Tiên Yên thuộcphủ Hải Ninh , phủ Hải Ninh gồm có ba châu :Móng Cái, Tiên Yên, Hà CốiTỉnh Quảng Yên Ngày 12 tháng 3 năm 1983, thực dân pháp đánh chiếm QuảngYên sau đó chiếm huyện Bình liêu , từng bước củng cố ách thống trị của chúng.Ngày 10 tháng 12 năm 1906 , phủ toàn quyền pháp ra NĐ tách ba châu : MóngCái , Hà Cối , Tiên Yên khỏi tỉnh Quảng Yên , thành lập tỉnh mới Hải Ninh Ngày 14 tháng 12 năm 1912, phủ toàn quyền pháp ra NĐ xoá bỏ tỉnh Hải Ninhlập đạo quân binh thứ nhất Ngày 16 tháng 12 năm 1919, phủ toàn quyền Pháp

ra Nghị định tách hai tổng Bình liêu và Kiên Duyên, tổng Bình liêu gồm có: 4 xã

và 1 thị trấn, tổng Kiến Duyên gồm có : Ba xã và một phần cắt cho Trung Quốcnăm 1893 thuộc tỉnh Quảng Tây (TQ)

Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công , nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ( nay là nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời chính quyền cáchmạng Bình liêu được thành lập, châu Bình liêu được đổi tên thành huyện Bìnhliêu ngày nay

1 Đặc điểm tự nhiên và vị trí lãnh thổ

1.1 Vị trí và đặc điểm lãnh thổ

Bình liêu là một huyện miền núi , vùng cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnhQuảng Ninh , với diện tích tự nhiên khoảng 471,38% km2 chiếm 0.8% diện tíchtỉnh Quảng Ninh Địa giới hành chính huyện chia thành 7 xã và một thị trấn,gồm 97 thôn, trong đó các xã đều thuộc loại vùng cao Dân số của huyện tính

Trang 17

theo số liệu thống kê năm 2006 là 28.121 người trong đó có 13.385 nam (chiếm47,59% và nữ 14,738 (chiếm 52,40% ) Mật độ dân số trung bình là 56,8%người/km2 bằng 31,7% Mật độ dân số trung bình của tỉnh là 181người/km2 Bình liêu là một huyện miền núi biên giới, có cửa khẩu Hoành Mô và cửakhẩu phụ Đồng Văn là cầu nối giao lưu giữa các địa phương với tỉnh Quảng Tây(Trung Quốc).

Bình liêu là một huyện miền núi biên giới, địa thế tiếp giáp liền kề vớihuyện Phòng Thành tạo sự giao lưu mậu dịch , trao đổi hành hoá , thúc đẩy sựphát triển kinh tế - thương mại , dịch vụ trên địa bàn huyện Nhưng đồng thờitạo ra những thách thức trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng, quản lý các hoạtđộng xuất khẩu và kiểm soát xuất nhập khẩu trên địa bàn huyện mạng lưới giaothông của huyện duy nhất là giao thông đường bộ có 33km đường nhựa cấpmiền núi với nhiều ngầm qua suối thuộc tuyến quốc lộ 18c, dài 52 km độc đáochạy dọc giữa huyện theo hướng Tây Nam – Đông Bắc từ Tiên Yên đến cửakhẩu Hoành Mô, nối liền huyện Bình Liêu với trục đường 18c cảng mũi Chùa(Tiên Yên)và các trung tâm kinh tế- xã hội của tỉnh Ngoài ra có hệ thống cấpphối và đường liên thôn, liên bản

1.2 Đặc điểm tự nhiên

Cấu trúc địa hình đa dạng mang tính chất của miền núi , phân dị độ dốclún, nên thường bị sói mòn rửa trôi làm giảm độ phì của đất, ảnh hưởng tới sảnxuất nông – lâm nghiệp Độ cao phổ biến từ 300- 400m có một số đỉnh cao trên1000m, như núi cao xiêm 1.330m

Đặc trưng khí hậu miền núi phân hoá theo đỉnh cao tạo ra những vùng tiểusinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng Nhiệt đới trung bình năm dao động từ 180c-280c, nhiệt độ trung bình cao nhấtmùa hạ từ 300c- 340c , nhiệt độ trung bình thấp nhất mùa đông từ 50c- 150c, thỉnhthoảng có sương muối, băng giá ở vùng núi đồi cao có khi còn có tuyết bao phủ,lượng mưa hàng năm khá cao nhưng không điều hoà, bình quân từ 2000-2.400mm/năm, khoảng 70% lượng mưa tập trung vào tháng 6-9 trong năm sườn

Trang 18

các dãy núi mưa nhiều từ 2.400- 2.800mm Độ ẩm trung bình năm khoảng 80% , điều kiện đó phù hợp với các loại cây ăn quả , ở vùng núi cao ven khesuối thì thích nghi với các loại cây trồng : Hồi , Quế , Trẩu…

Thuỷ văn: Bình liêu có rất nhiều sông suối nhỏ, ngắn và dốc hội tụ chảy vào

sông Tiên Yên bắt nguồn từ biên giới Việt- Trung chảy dài suốt huyện theohướng Đông Bắc – Tây Nam do có độ dốc lớn nên lòng sông có nhiều ghềnhnên không có giá trị giao thông vận tải Thuỷ chế mang tính chất sông suối ,miền núi , phức tạp và sự phân phối dòng chảy trong năm, mùa mưa lượng nướcdồn nhanh về phía hạ lưu tạo nên dòng xiết gây lũ ngập úng ruộng đồng

Địa hình đồi đất rất lớn , chiếm 90% diện tích chia thành các vùng chính : + Vùng tây sông Bình Liêu

+ Vùng đông sông Bình Liêu

+ Vùng núi cao Đông Bắc

1.3 Đất đai thổ nhưỡng:

Tổng quỹ đất của huyện Bình liêu là 47.306 ha trong đó:

Đất nông nghiệp 26.606 ha chiếm 52,01%

Trong đó : Đất sản xuất nông nghiệp :4.492 ha chiếm 9,50%

Đất lâm nghiệp 20.049 ha , chiếm 42,48%

Đất phi công nghiệp 1.551ha, chiếm 3,28%

Đất chưa sử dụng 21.149ha, chiếm 44,71%

Thới gian qua , diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng từ 2.311ha năm 2000 lên4.492ha năm 2005, đất phi nông nghiệp(chuyên dùng + đất ở) có xu hướng tăng

từ 537 ha năm 2000 lên 1.551 ha năm

Xét về đặc điểm tính chất thổ nhưỡng cho thấy đất đai của huyện phổ biến

là loại đất feralit đỏ vàng, nâu đỏ phát triển trên đá sa phiến thạch và đá riôlit,được phân theo vùng sau:

+ Loại đất phát triển trên đá me riôlit: phân bố chủ yếu ở phía đông và đôngnam sông tiên yên, ven theo dẫy núi Cao Xiêm và Cao Ba Lanh (dọc từ xã Đồng

Trang 19

Văn – Hoành Mô đến Tiên Yên) Loại đất này có độ phì cao, tầng đất dầy phùhợp trồng các loại cây : Hồi, Quế,Trẩu, Sở …

+ Loại đất feralit phát triển trên đá sa phiến thạch : có tầng đất mỏng , độphì kém ; độ dốc lớn nên đất rẽ bị bào mòn và rửa trôi, phân bố chủ yếu ở phíatây và tây bắc sông Tiên Yên Trên loại đất này có thể trồng thông mã vĩ, câykeo …

Biểu 1: Tổng hợp tài nguyên đất huyện Bình Liêu

Đơn vị: ha

Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 5,38 6,86 9,5

Trong đó đất trồng cây hàng năm 1.681 1.955 1.928

Tỷ lệ% so với đất nông nghiệp 72,74 60,46 42,49Trong đó đất ruộng lúa mầu 1.396 1.644 1.621

Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 22,42 37,48 42,48

Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 1,25 1,29 3,28

Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 0,99 1,05 1,04

Tỷ lệ % so với diện tích tự nhiên 0,26 0,24 0,28

IV Đất chưa sử dụng 30.446 25.625 21.149

Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 70,94 54,36 44,71

(Nguồn : Phòng tài nguyên môi trường huyện Bình Liêu)

1.4 Tài nguyên rừmg :

* Rừng tự nhiên :chủ yếu là rừng gỗ các loại , trong đó :

Rừng chữ lượng V (rừng nghèo) : 909 ha chiếm chiếm 14,8% rừng tựnhiên , đã bị khai thác nhiều lần , trữ lượng bình quân từ 50-70m3/ha, chủ yếucòn ở Húc Động , Vô Ngoại, Tình Húc

Rừng phục hồi: 5.250 ha chiếm 85,2% diện tích rừng tự nhiên , trong đórừng có chữ lượng là 2.970 ha và rừng chưa có chữ lượng là 2.280 ha

* Rừng trồng : Tổng diện tích có 11.510 ha, được phân thành :

Trang 20

Diện tích rừng trồng gỗ các loại: thông, keo, bạch đàn, sa mộc… ở Hoành

Mô, Húc Động, Đồng tâm, Tình Húc, Vô Ngoại, Húc Động

Diện tích rừng đặc sản : hồi, quế, sở…tập trung ở Đồng Văn,Húc Động

* Trữ lượng các loại rừng : Tổng trữ lượng là 724.000 m3 gỗ các loại , trong đó: Rừng tự nhiên : 208.100 m3 chiếm 28,7% tổng trữ lượng rừng gỗ toànhuyện , chia ra : rừng nghèo (V) 58.415 m3 ; rừng phục hồi 149.700 m3

Rừng trồng : 516.000 m3 chiếm 71,3% trữ lượng gỗ của huyện, chia ra:Thông cấp tuổi II-IV: 511.720 m3; Bạch đàn cấp tuổi II-III: 4.230 m3; sa mộccấp tuổi II: 60 m3

* Hệ thực vật rừng :

Hệ thực vật chịu ảnh hưởng và có nhiều đặc điểm của hệ thực vật Hoa Nam(Trung Quốc) Bình Liêu có khoảng 250 loài , 80 họ thực vật bậc cao , trong đócác loài thực vật quí hiếm cần được bảo vệ như : lim xanh, sến mật, vù hương ,

sa nhân và nhiều cây đặc sản được trồng ( hồi, quế, sở)

Bình liêu có tiềm năng lớn phát triển rừng vừa để bảo vệ cảnh quan môitrường thiên nhiên , vừa cung cấp gỗ , lâm sản ( hồi, quế, sở)

1.5 Tài nguyên khoáng sản

Theo điều tra khảo sát địa chất , Bình liêu nghèo khoáng sản cả về số lượng vàchất lượng Đây hạn chế đối với phát triển kinh tế của huyện Trên địa bànhuyện mới chỉ phát hiện hiện đá hoa cương dọc từ Đồng Văn , Húc Động vàxung quanh núi cao xiêm , khai thác một số điểm khoáng sản , sản vật liệu xâydựng : đá, cát, sỏi, phân bố theo hai bờ sông Tiên yên ; và sản xuất gạch cungcấp cho xây dựng địa phương

1.6 Kết cấu hạ tầng giao thông:

Các trục đường giao thông liên tỉnh kết nối huyện Bình liêu với bên ngoàiđược đầu tư nâng cấp bước đầu tạo điều kiện cho phát triển giao lưu kinh tếthông suốt và thúc đẩy phát triển khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn Tuyến trục chình QL 18c cùng với hệ thống cống cầu,cống dài ( dài 52km,trongđó đoạn tuyến qua huyện là 33km +5 cầu : Pắc hóc, Pắc lặc,Nà Bam, Pắc

Trang 21

cậm, Bản pạt 1+2 ,cống hộp khe chát) là trục đường huyết mạch của huyện đãđược mở rộng

Đường giao thông trên địa bàn huyện, ngoài trục QL18c, có khoảng 314 km,trong đó đường liên huyện : 53 km, đường liên xã ; 79 km và đường liên thônbản các tuyến chính :

+ Nhựa hoá đường Hoành Mô - Đồnh Văn : dài 8 km

+ Nhựa hoá đường Bình Liêu – Húc Động : dài 10 km

+ Nâng cấp đường Lục Nà – Loòng Vài : dài 10 km

+ Đường Húc Động - Lục Ngù đang được nâng cấp : dài 6 km

1.7 Lưới điện:

Mạng lưới cấp điện và phân phối điện cho huyện Bình Liêu chủ yếu từtrạm 110/35 KV- 16 MVA Tiên Yên trong hệ thống điện lưới quốc gia và thôngqua lưới điện quốc gia 35KV chạy dọc tuyến QL 18c cung cấp cho thị trấn BìnhLiêu , khu cửa khẩu Hoành Mô và các tram hạ áp 35/22-6KV và các trục đườngtruyền tải , phân phối điện đến 7 trung tâm xã và nột số thôn bản trên địa bànhuyện

Hiện tại lưới điện vận hành của huyện mới đáp ứng nhu cầu cho 59,6% hộdân cư sử dụng điện cho các thôn bản ( kể cả thuỷ điện nhỏ).Trong những nămtới,cần tiếp tục đầu tư lưỡi điện nông thôn cho các điểm dân cư thôn bản giáptuyến biên giới còn đến 40,4% số hộ chưa được sử dụng điện sinh hoạt

1.8 Hệ thống cấp nước sạch :

Trang 22

Hệ thống cấp nước của thị trấn Bình Liêu được đầu tư xây dựng cải tạotrạm sử lý nước sạch Bình liêu , công suất 2000 m3/ ngày đêm được lấy từnguồn nước sông Bình Liêu Tuy nhiên do hệ thống mạng cấp nước mới đượcxây dựng đưa vào vận hành nên tỷ lệ được cấp nước máy chỉ đạt 50% dân số thịtrấn

Đầu tư dự án nước sạch nông thôn với các công trình giếng đào, bể chứanước và nước nguồn tự chảy ; Trong năm 2003 – 2004 đã đầu tư khoảng 3 tỷđồng bằng hình thức bể chứa, nhưng chưa đạt được hiệu quả ( tỷ lệ hộ dùngnước sạch mới đạt 41,2% số hộ, năm 2004)

2 Điều kiện kinh tế

Là huyện có cửa khẩu biên giới , kinh tế huyện Bình liêu có những đặcđiểm khác biệt về so với huyện khác trong tỉnh

- Tổng sản phẩm nội địa GDP trên địa bàn huyện năm 2004 là 135,4tỷ đồng( giá so sánh 94) trong đó 83,2 tỷ từ kinh tế địa phương huyện quản lý ( chiếm61,4% GDP) và khoảng 52,2 tỷ đồng từ thu thuế xuất nhập khẩu ở cửa khẩuHoành Mô ( chiếm 38,6% GDP), tăng 22,6% so với năm 2000 GDP (giáHH)bình quân đầu người trên địa bàn huyện đạt 7,32 triệu đồng , bằng khoảng 82%mức bình quân của tỉnh , và 84% mức bình quân cả nước Nhịp độ tăng trưởngGDP bình quân năm ( 2000 - 2004) đạt 9,1%

Nếu tính riêng tổng sản phẩm nội địa GDP (giá CĐ94) thuộc kinh tế địaphương huyện quản lý ( không tính phần thuế xuất nhập khẩu tại cửa khẩuHoành Mô- Đồng Văn) đã tăng liên tục từ 59,1 tỷ đồng năm 2000 lên 83,2 tỷđồng năm 2004 GDP bình quân đầu người là 4,45 triệu đồng tương đương283USD/ người , bằng 48% bình quân của tỉnh và 50,5% cả nước Nhịp độ tăngtrưởng GDP bình quân hàng năm của giai đoạn 2000- 2004 đạt khoảng 9,12%/năm, Riêng năm 2004 GDP tăng gần 10% trong đó nông nghiệp tăng 2,22% ,lâm nghiệp tăng 8,5%, công nghiệp xây dựng tăng 10,4% và dịch vụ tăng 4,5%

Trang 23

Biểu2: Tổng sản phẩm nội địa (GDP)

Đơn vị: tỷ đồng

2000 2001 2002 2003 2004 2005

Tổng sản phẩm nội địa GDP

+ GDP theo kinh tế lãnh thổ 110,5 101,5 99,0 132,4 135,4 144,0+ GDP theo kinh tế huyện 59,1 67,4 64,1 80,9 83,2 91,5

2.1 Cơ sở hạ tầng của huyện

Những năm qua , trên địa bàn huyện đã tập trung nhiều nguồn vốn để đầu

tư xây dựng cải tạo, nâng cấp, như hệ thống giao thông ( trục đường 18c , đườnggiao thông liên xã, giao thông nông thôn liên thôn bản) phát triển mạng lướiđiện, thông tin liên lạc , công trình thuỷ lợi, cấp nước theo hướng kết nối khukinh tế cửa khẩu Hoành Mô – Bình liêu với trung tâm Tỉnh để phục vụ phát triểnKinh Tế - Xã Hội của huyện

2.2 Dịch vụ thương mại

Trong những năm qua đã tập trung đầu tư phát triển khu kinh tế cửa khẩu,khuyến khích và thu hút các Doanh nghiệp, thương tư đến hoạt động kinh doanhtạo bước phát triển mới ngành TM-DV

2.3.Đặc điểm văn hoá – xã hội

- Văn hoá xã hội còn nhiều lạc hậu dân trí nhìn chung thấp , tỷ lệ hộ nghèocòn cao, đời sông nhân dân còn nhiều vất vả khó khăn

- Cơ sở vật chất của thiết bị VH- Thông tin huyện còn chưa tương xứng vớichức năng hoạt động của nó, hiện đang xuống cấp, trang thiết bị nghèo nàn, nhỏ

bé thiếu đồng bộ

- Di tích lịch sử - văn hoá và lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện rất đadạng về loại hình và kiến trúc nghệ thuật :

Trang 24

Lễ hội truyền thống trên đia bàn huyện Bình liêu mang đậm đà nét văn hoácác dân tộc, như hội hát tháng ba của dân tộc Sán Chỉ ngày 16/3 (âm lịch) Văn hoá dân gian : các làn điệu dân ca hát then của dân tộc tày, Sóng cọ lànđiệu múa dân tộc

Các di tích lịch sử, danh thắng và lễ hội trên địa bàn : Di tích lịch sử văn hoáĐình Lục Nà ( Di tích cấp tỉnh) Thác khe vằn ( xã Húc Động)

2.4 Quốc phòng- an ninh

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được gữi vững và

ổn định , an ninh biên giới được đảm bảo , công tác cắm mốc biên giới đúng tiến

độ và đảm bảo an toàn ; an ninh ở vùng sâu, vùng xa và các thôn bản được củng

cố đảm bảo an trật tự trên các lĩnh vực kinh tế,văn hóa xã hội Trong thời gianqua đã phát hiện và sử lý 41 vụ bằng 166 đối tượng xuất nhập cảnh trái phép Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong mọi tầng lớpnhân dân , nhất là trong thanh thiếu niên, học sinh,thường xuyên chỉ đạo thựchiện nhiệm vụ chống tham nhũng,chống buôn lậu, gian lận thương mại góp phầnđảo bảo trật tự kỷ cương xã hội ở địa phương

Bình liêu có 17.700 ha rừng chiếm 7,8% diện tích đất rừng trong tỉnh vàchiếm 37,5% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện

2.5.Y tế-giáo dục

mạng lưới y tế-chăm sóc sức khỏe trên địa bàn huyện tiếp tục được đầu tư cơ

sở vật chất, trang thiết bị, huyện hiện có trung tâm y tế bệnh viện huyện ( qui mô

40 gường ) gồm các khoa, phòng và đội vệ sinh phòng bệnh có khả năng đảmnhiệm cấp cứu thông thường và có một số trường hợp đặc biệt ngoại-sản; và 7trạm y tế xã (24 gường) với tổng số gường bệnh 64 gường (2004 )

Tổng số cán bộ,nhân viên y tế hiện có 5/8 trạm y tế, thị trấn có bác sỹ; các thônbản đều có bác sỹ chăn sóc sức khỏe cộng đồng

Những năm gần đây mạng lưỡi cơ sở giáo trường, lớp học được đầu tưkhá, được đưa vào sử dụng: THCS thị trấn Bình Liêu, THCS Hoành Mô, LụcHồn, Tình Húc, Húc Động

Trang 25

Tuy nhiên,hiện nay hệ thống trường lớp còn nhiều bất cập, tồn tại phổ thông

cơ sở (Tiểu học + THCS ) các điểm trường nằm rải trên các thôn bản, nên khókhăn trong việc quản lý vá nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên và trungtâm dạy nghề

Các phòng học ở các điểm trường tuy đã xóa phòng tranh tre nhưng cũng đãxuống cấp, hư hỏng nhiều hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần được đầu tư cải tạo, xâydựng mới Số lớp học, số học sinh huy động ra lớp ở các ngành học, cấp hàngnăm ngày càng tăng lên, chiếm 30,6% dân số

Đội ngũ giáo viên về cơ bản đáp ứng đủ về số lượng, đã được đào tạo lại đạtchuẩn hóa 100% và trên chuẩn về trình độ ( hệ mầm non 6,5%, tiểu học 21%,bậc học THCS: 7% ) phần lớn các giáo viên có tâm huyết với nghề, có ý thứctrách nhiệm với học sinh dân tộc ở các thôn bản, biên giới.Tuy nhiên số lượnggiáo viên chưa đồng bộ đủ cho các bộ môn, một số môn ít được bồi dưỡng nângcao trình độ nghiệp vụ, cập nhật thông tin các phương pháp giảng dạy

3 Dân số - lao động:

Cơ cấu dân số theo dưới tính dân tộc

Bình liêu có 5 dân tộc chính thuộc các dân tộc ít người trong cộng đồngcác dân tộc việt nam, sống phân tán và xen kễ, trong đó chủ yếu là người Tày,Dao, Sán Chỉ:

Biểu 3 : Bảng tỷ lệ các dân tộc trên địa bàn

( Nguồn: Phòng tài chính kế hoạch huyện Bình Liêu)

Theo số liệu thống kê, dân số trung bình của huyện Bình Liêu năm 2006là: 28.121.000 người trong đó có: 13.385 nam (chiếm 47,59% )và nữ 14.736(52,40%) tỷ lệ phát triển dân số năm 2006 là 1,32% Tổng số dân trong độ tuổilao động toàn huyện là 14.351 người, chiếm 40,36% tổng dân số

Trang 26

Biểu 4: Phân bố dân cư huyện Bình Liêu năm 2006

Đơn vị hành chính (người)Dân số Lao động(người) Mật độ dân số(người/km2)

(Nguồn: phòng thống kê huyện Bình Liêu)

Các xã trong huyện qua rà soát thì hầu như tất cả các xã đều có mật độ dân sốrất thưa

Dân số trong độ tuổi lao động được phân theo các ngành nghề kinh tế nhưsau:

- Nông –lâm nghiệp: 8.989 (chiếm 79,19%)

- Công nghiệp- TTCN: 1.645 người (chiếm 14,49%)

- Thương mại-dịch vụ: 717 người (chiếm 6,31%)

Như vậy lao động trong ngành sản xuất nông nghiệp-lâm ngư nghiệp vẫnchiếm một tỷ lệ lớn (79,19%) tổng lao động xã hội toàn huyện

Các đặc điểm trên ảnh hưởng đến xóa đói giảm nghèo ở Bình Liêu:

- Do đặc điểm địa hình của huyện Bình Liêu là vùng núi cao, dân tộc, xatrung tâm; đất canh tác ít, chủ yếu là đất rừng; khí hậu khô hanh, hạn hán, đa sốcác thôn bản chỉ cấy được một vụ lúa, chủ yếu là trồng mầu; giao thông khôngthuận lợi đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu…nhữngđặc điểm trên ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của nhândân và đó cũng là một trong những nguyên nhân to lớn, gây khó khăn cho côngtác xóa đói giảm nghèo của huyện

Trang 27

II Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình liêu giai đoạn 2000-2006.

1 Cơ sở phân định giàu nghèo

Giàu nghèo là một phạm trù kinh tế - xã hội nhưng nó thay đổi theo thời gian

và không gian Vì thế, việc phân định giàu nghèo có sự khác nhau giữa quốc gia các vùng và các khu vực

Vậy muốn xác định giàu nghèo người ta phải dựa vào thu nhập bình quân đầu người,ngoài ra cồn có các chỉ tiêu khác như mức tiêu dùng, bình quân lươngthực…cung cấp cho con người hàng ngày được coi là tiêu chí để xem xét

Bình liêu là một huyện miền núi có hơn 89% số hộ sản xuất nông – lâm nghiệp , vì thế nông – lâm nghiệp ở đây được coi là hàng đầu với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN , nhân dân Bình liêu vốn cần cù chịu khó nhanh nhạy trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi nhằm ổn định đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước

2 Tình hình đói nghèo của của huyện

Theo kết quả điều tra của ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo, phòng Nội

Vụ - Lao Động – Thương binh xã hội Toàn Huyện tính đến 31/12/2006, toànhuyện còn 2.032 hộ nghèo, chiếm 39,53% trong tổng số hộ tại thời điểm điềutra

Trang 28

STT Xã, thị trấn Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006

Tổng số hộ nghèo

Tỷ l ệ(%)

Tổng

số hộnghèo

Tỷ l ệ(%)

Tổng

số hộ nghèo

Tỷ lệ(%)

Tổng

số hộnghèo

Tỷ lệ (%)

Tổng

số hộ nghèo

Tỷ lệ( %)

Tổng số

hộ ngèo

Tỷ lệ(%)

1 Xã Đồng Văn 53 12,24 31 7,16 21 4,85 16 3,70 13 3,00 212 47,86

Trang 30

Về tình hình đói nghèo ở huyện Bình Liêu giai đoạn 2001-2006 như đã trình bầy ởbiểu trên đã nói lên đây là vấn đề bức xúc khó khăn, trăn trở, với các cấp uỷ, chínhquyền và ban ngành, đoàn thể của huyện, phần lớn các hộ đói nghèo ở đây là những

hộ có hoàn cảnh khó khăn như người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tậtkhông có khả năng lao động , gia đình có người bị nhiễm chất độc hoá học và một

bộ phận ít hộ thiếu vốn đầu tư thiếu sức lao động, thiếu kinh nghiệm trong làm

ăn Mặc dù cuộc sống của nhân dân cơ bản là các hộ sản xuất nông -lâm nghiệpvẫn đang còn rất nhiều khó khăn thông qua đánh giá kết quả theo chuẩn mới của

Bộ LĐ-TBXH (năm 2005) thì tỷ lệ nghèo của huyện còn tương đối lớn , khoảng49,46%, trong đó hầu hết hộ nghèo; 99,8% là các hộ đồng bào dân tộc , thu nhập từnông – lâm chiếm 97% , số hộ gia đình chính sách chỉ có 3,3% Do thu nhập củanhiều hộ dân còn thấp , chủ yếu thu nhập từ nông – lâm nghiệp nên số hộ cậnnghèo còn bấp bênh Đây là một vấn đề hết sức khó khăn phức tạp cho việc pháttriển kinh tế, tăng thu nhập của nhân dân những năm qua.Tỷ lệ nghèo đói năm sau

đã giảm hơn năm trước xong; tốc độ giảm chung của huyện quá chậm, đặc biệt đốivới một số xã như: xã Húc Động thuộc xã vùng cao hầu hết là dân tộc thiểu số (dântộc Sán Chỉ), xã Tình Húc, xã Lục Hồn, xã Đồng Tâm, xã Vô Ngại, là những xã cóbiên giới giáp với (Trung Quốc), có nhiều bản vùng cao, cũng gặp khó khăn trongphát triển kinh tế để xóa đói giảm nghèo Thế nhưng cũng có xã là xã biên giới, cónhiều bản vùng cao nhưng tỷ lệ thoát nghèo nhanh, đây nó thế hiện tính tích cực,sáng tạo trong lao động sản xuất, không trông chờ, ỷ lại đợi chính sách của nhànước và tự mình vươn lên để thoát nghèo, như xã Đồng văn, xã Hoành Mô, đặc biệtđối với thị trấn Bình Liêu, tỷ lệ nghèo hàng năm tuy ít nhưng đây là số hộ rất khókhăn về kinh tế; xong Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân thị trấn đã tích cựcchỉ đạo và hoạt động trên lĩnh vực này bằng mở mang nhiều ngành, nghề khác nhau

để tạo thêm việc làm cho nhân dân có tăng thu nhập, do vậy hàng năm số nghèo

Trang 31

của thị trấn Bình Liêu được giảm nhanh cụ thể là năm 2001 thị trấn có 30 hộnghèo/623 hộ = 4,82% đến năm 2005 còn 6 hộ nghèo = 0,96% tổng số hộ.

Năm 2006 Nhà Nước có chính sách mới là nâng thu nhập bình quân của mỗigia đình lên một mức cao hơn cụ thể là: hộ có thu nhập từ dưới 200.000đ/ 1 khẩu(đối với hộ nông nhgiệp) thì thuộc diện hộ nghèo;hộ có thu nhập từ dưới 260.000đ(đối với những hộ còn lại) là hộ nghèo

Mức cũ là: (hộ nông nghiệp có mức thu nhập dưới 100.000đ là hộ nghèo, hộthuộc đối tượng còn lại có thu nhập từ dưới 120.000đ là hộ nghèo)

Chính vì vậy, số hộ nghèo của đầu năm 2006 có thay đổi lớn ; số hộ nghèo toànhuyện được tăng lên đồng nghĩa với tỷ lệ % hộ nghèo cũng được tăng lên, (nhưbiểu mẫu đã thống kê)

Như vậy hộ nghèo năm 2005 của huyện chỉ có 428 hộ = 9,23% đến đầu năm

2006 qua điều tra, khảo sát, thông kê đã cho thấy số hộ nghèo (theo tiêu chí mới) là244,3 hộ =55,03% số hộ và tỷ lệ nghèo cao nhất đối với các xã là:

xã vô Ngại với 429 hộ = 61,90%, tăng so với năm 2005 là 394 hộ =1.125,7%

xã Tình Húc có 425 hộ = 61,59% tăng so với năm 2005 là 324 hộ = 320,8%

xã Lục Hồn có 425 hộ = 50,18% tăng so với năm 2005 là 309 hộ = 266,4%

xã Đồng tâm có 356 hộ = 56,78% tăng so với năm 2005 là 310 hộ = 673,9%

xã Húc Động có 294 hộ = 68,85% tăng so với năm 2005 là 192 hộ = 188,2% , xãHúc Động tuy số người tăng ít nhưng tỷ lệ nghèo quá cao (vì hộ dân ít) các xã cònlại như xã Hoành Mô, Đồng Văn, …thị trấn cũng có tỷ lệ tăng từ 93 hộ đến 293 hộđây là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong việc chỉ đạo,tổ chức thực hiện phát triểnkinh tế xã hội trong đời sống kinh tế, tinh thần của nhân dân, trước mắt và các nămtiếp theo của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong toàn huyện: Tuy nhiện, trong năm 2006 huyện đã phấn đấu giảm nghèo đáng kể từ 2.542 hộ

= 49,46% đầu năm, đến thời điểm tháng 12/2006 chỉ còn 2.029 hộ = 39,53% (giảm

513 hộ = 9,93%

Ngày đăng: 14/12/2012, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước CHXHCNVN: Phương hướng xóa đói giảm nghèo 2001-2005 Khác
6. Tạp chí lao động xã hội 5 năm :2001-2005 7. Tạp chí cộng sản 3 năm: 2003-2005 Khác
8. Phòng nội vụ lao động- thương binh và xã hội huyện Bình Liêu: các báo cáo 2001-2005 Khác
9. Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu: báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện phát triển kinh tế-xã hội 2010 Khác
10. Giáo trình kinh tế lao động: Bộ giáo dục đào tạo trường ĐHKTQD ( NXBGD) Khác
11. Chương mục tiêu quốc gia giảm nghèo (2006- 2010) 12. phòng nội vụ LĐTB& XH: Báo cáo năm 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Kết quả giảm nghèo năm 2001 - 2006 - Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 5 Kết quả giảm nghèo năm 2001 - 2006 (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w