1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Tài liệu giấy

17 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm Và Các Đặc Trưng Cơ Bản Của Dân Tộc
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Xã hội
Thể loại Báo cáo khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 45,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của dân tộc (Slide 4) (Slide 5) Dân tộc (tộc người, ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ.

Trang 1

1 Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của dân tộc (Slide 4)

(Slide 5)- Dân tộc (tộc người, ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một cộng

đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ, văn hóa

Được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản

 Thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng về ngôn ngữ.

Là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau trong dân tộc và luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn

 Thứ hai, cộng đồng về văn hóa

Phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của các tộc người Bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể

 Thứ ba, ý thức tự giác tộc người

Tiêu chí quan trọng nhất để phân dịnh một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình Sự hình thành và phát triển ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người

(Slide 6) Với nghĩa hẹp dân tộc là một bộ phận của quốc gia, chẳng hạn: dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Bana, dân tộc Ê- đê…ở Việt Nam

(Slide 7)- Dân tộc ( quốc gia dân tộc - nation) là khái niệm dùng để chỉ

một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân của một nước, có lãnh thổ riêng, có nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về

sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước

(Slide 8)Có các đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng về lãnh thổ.

Trang 2

Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt Lãnh thổ dân tộc bao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền của quốc gia dân tộc Trong trường hợp quốc gia có nhiều dân tộc, lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ của các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành Phạm vi lãnh thổ dân tộc hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là một khái niệm xác định, thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Thực tế lịch sử có những trường hợp bị chia cắt tạm thời, nhưng không thể căn cứ vào đó mà cho rằng cộng đồng ấy đã bị chia thành hai hay nhiều dân tộc khác nhau Đương nhiên sự chia cắt đó là một thử thách đối với tính bền vững của một cộng đồng dân tộc

Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng quan trọng không thể thiếu được của dân tộc Lãnh thổ là địa bàn sinh tồn và phát triển của dân tộc, không có lãnh thổ thì không có khái niệm tổ quốc, quốc gia

Thứ hai, dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.

Từ các cộng đồng người nguyên thủy chuyển sang bộ tộc, yếu tố liên kết cộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống dần dần bị suy giảm, vai trò của nhân tố kinh tế – xã hội ngày càng tăng Đây là nhu cầu hoàn toàn khách quan trong đời sống xã hội Những mối liên hệ kinh tế làm tăng tính thống nhất, ổn định, bền vững của cộng đồng người sống trong một lãnh thổ rộng lớn Những mối liên hệ kinh tế thường xuyên và mạnh mẽ đặc biệt là mối liên hệ thị trường đã làm tăng tính thông nhất, tính ổn định, bền vững của cộng đồng người đông đảo sống trong lãnh thổ rộng lớn Thiếu sự cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa phải là dân tộc

Thứ ba, dân tộc có chung một ngôn ngữ.

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp xã hội, là công cụ giao tiếp trong cộng đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Các thành viên của một dân tộc có thể dùng nhiều ngôn ngữ trong giao tiếp với nhau Có một số ngôn ngữ

Trang 3

được nhiều dân tộc sử dụng Điều quan trọng là mỗi dân tộc có một ngôn ngữ chung thông nhất mà các thành viên của dân tộc coi đó là tiếng

mẹ đẻ của họ Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc thể hiện trước hết

ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho từ vựng cơ bản Ngôn ngữ của một dân tộc thể hiện đặc trưng chủ yếu của dân tộc đó

Thứ tư, dân tộc là một cộng đồng về văn hóa và tâm lý.

Văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng Văn hóa dân tộc mang nhiều sắc thái của các địa phương, các sắc tộc, các tập đoàn người song nó vẫn là một nền văn hóa thông nhất không bị chia cắt Tính thống nhất trong đa dạng là đặc trưng của văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộc hình thành trong quá trình lâu dài của lịch sử, hơn bất cứ yếu tố nào khác, tạo ra sắc thái riêng đa dạng, phong phú của từng dân tộc Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Văn hóa của mỗi dân tộc không thể phát triển, nếu không giao lưu văn hóa với các dân tộc khác Mỗi dân tộc có tâm lý, tính cách riêng

Thứ năm, dân tộc có chung một nhà nước.

Trong một dân tộc các thành viên cũng như các cộng đồng tộc người đều chịu sự quản lý của một nhà nước độc lập Đây là điểm phân biệt dân tộc

- quốc gia và dân tộc - tộc người

Với nghĩa rộng, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó, chẳng hạn: dân tộc Nga, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Việt Nam

Tóm lại: Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định được hình thành

trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hóa Dân tộc là sản phẩm của quá trình vận động phát triển của xã hội loài người từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc

Trang 4

Những đặc trưng trên có quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ trong lịch sử hình thành, phát triển cộng đồng dân tộc Trong đó cộng đồng về kinh tế có vai trò quyết định đối với dân tộc Các đặc trưng khác có vai trò nhất định đối với quá trình hình thành, phát triển dân tộc

2 Hai xu hướng khách quan của quan hệ phát triển dân tộc:(Slide 9)

(Slide 10)Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì Lê-nin

đã phát hiện ra 2 xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc

Xu hướng thứ nhất là cộng đồng dân tộc muốn tách ra để hình thành dân tộc độc lập Xu hướng thứ hai là các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau

Tại sao lại có xu hướng thứ nhất và biểu hiện của xu hướng thứ nhất là gì? Ta sẽ cùng nghiên cứu cụ thể

(Slide 11)Xu hướng thứ nhất: tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc

độc lập Nguyên nhân của xu hướng này là do sự thức tỉnh, trưởng thành

về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình Các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập Mà cộng đồng dân cư gồm nhiều cộng đồng dân cư có các nguồn gốc tộc người khác nhau Khi mà các tộc người có sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình thì các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập Vì họ hiểu rằng chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập, họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình, và quyền cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường pháp trị của dân tộc mình

(nhấp chuyển hiệu ứng)Biểu hiện của nó chính là thể hiện qua các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khoải sự áp bức bóc lột của các nước thực dân đế quốc

để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập

Trang 5

(nhấp chuyển hiệu ứng)VD: cuối thế kỉ 19, hầu hết các quốc gia ở châu

phi bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ, trong đó Anh

và Pháp là 2 nước có thuộc địa lớn nhất ở châu phi Pháp chiếm hầu hết khu vực Bắc phi, Tây phi và châu phi xích đạo Anh xâm lược và cai trị hầu hết các quốc gia ở Đông và Nam phi Phần còn lại của châu phi bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Bỉ và Italia xâm chiếm và đô hộ Thực dân phương tây đã tiến hành cai trị bóc lột kinh tế, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân châu phi Và sau CTTG thứ 2 cùng với sự phát triển của phong trào độc lập trên thế giới, chúng ta được biết phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của châu phi phát triển mạnh mẽ Châu phi được

ví như là lục địa mới trỗi dậy Sau sự kiện năm 1954 với chiến thắng điện biên phủ của VN đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của Pháp, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu phi Năm 1960 người ta gọi đó là năm châu phi vì đây là năm có 17 nước ở châu phi đấu tranh giành độc lập dân tộc, đánh dấu 1 bước ngoặt trong phong trào giải phóng dân tộc của người dân châu phi Đây chính là 1 ví dụ minh họa cho sự thức tỉnh về ý thức dân tộc, đấu tranh để thoát khỏi chế độ thuộc địa

(Slide 12) Xu hướng thứ 2 là xu hướng liên hiệp giữa các dân tộc Theo

Lê-nin thì đây là xu hướng nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Đó

là do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của giao lưu kinh tế, văn hóa trong xã hội tư bản dẫn tới nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau

Chúng ta đã được học trong môn kinh tế, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn TK 19 chuyển từ giai đoạn chủ nghĩa tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, và với sự chuyển nghịch sản xuất thì nhu cầu tìm kiếm các vùng đất mới để tìm kiếm các nguồn tài nguyên, nguồn nhân công, tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa Và các nước phát triển đã tiến hành xâm chiếm thuộc địa, tìm kiếm các vùng đất mới dẫn tới nhu

Trang 6

cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc Ngày nay các xu hướng xích lại gần nhau thể hiện ở các hình thức liên minh đa dạng, như liên minh khu vực: khối liên minh ASEAN, EU Xu hướng xích lại gần nhau ngày nay không chỉ do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của văn hóa

mà thế giới còn đang đối diện với rất nhiều vấn đề toàn cầu như dịch bệnh, biến đổi môi trường, vấn đề dân số Những vấn đề này không thể không một quốc gia nào có thể giải quyết được mà buộc phải liên minh, liên kết lại mới giải quyết được

(Slide 13)Sự thể hiện của 2 xu hướng khách quan này, xu hướng tách ra

và xu hướng liên hiệp, trong điều kiện Chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại Thứ nhất là nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do

bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xóa bỏ Và xu hướng thứ hai là các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận Thay vào đó là bóc lột và áp bức trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng

Và theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin thì chỉ trong chủ nghĩa xã hội, khi chế độ người bóc lột người bị xóa bỏ thì tình trạng dân tộc bị áp bức, bóc lột mới bị xóa bỏ Khi đó 2 xu hướng mới có điều kiện phát triển Ngày nay thì 2 xu hướng này diễn ra với những biểu hiện rất đa dạng phong phú Xu hướng tách ra và liên hiệp vẫn tồn tại đan xen với nhau

VD: năm 2014, mối quan hệ của Nga, Mĩ và các nước phương tây đã có rất nhiều căng thẳng sau sự kiện bán đảo Crimea tách ra khỏi Ukraine và sát nhập vào Liên ban Nga sau 1 cuộc biểu quyết dân ý tại bán đảo Crimea này Hay năm 2016, sự kiện Brexit, Anh rời khỏi khối liên minh

EU Đó là xu hướng tách ra, hợp nhất hiện nay biểu hiện rất đa dạng Các bạn có thể về nhà tìm hiểu thêm về vấn đề brexit và từ vấn đề brexit

ở nước Anh thì ta có thể vận dụng vấn đề dân tộc để lí giải

3 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác Lênin (Slide 14)

Trang 7

(Slide 15) 3.1.Cơ sở

a Lý luận:

- Dựa trên quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp cùng với mối quan hệ giữa hai xu hướng của sự phát triển các dân tộc

b Thực tiễn:

- Dựa vào phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX đặc biệt là thực tiễn phong trào cách mạng của nước Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

để đưa ra cương lĩnh dân tộc

(Slide 16) 3.2 Ba nội dung cơ bản của “cương lĩnh dân tộc”

(Slide 17) a Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

- Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc kể cả các cộng đồng bộ tộc và chủng tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc dù lớn hay nhỏ không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp đều có nghĩa

vụ và quyền lợi như nhau; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức bóc lột dân tộc khác trong phạm vi một quốc gia cũng như trên thế giới

- Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ dừng lại ở tư tưởng, ở pháp lý mà quan trọng hơn là phải được thực hiện ngay trong thực tế trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Trên phạm vi thế giới đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa

“sô vanh” nước lớn,chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Đồng thời, gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự thế giới mới, chống áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế

(nhấp chuyển hiệu ứng)

Trang 8

- Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc

(Slide 18) b Các dân tộc được quyền tự quyết

- Quyền dân tộc tự quyết thực chất là quyền các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình Bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia độc lập vì lợi ích của các dân tộc Mặt khác, cũng bao gồm quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để

đủ sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia -dân tộc

- Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và xuất phát từ thực tiễn - cụ thể, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế quốc và phản động lợi dụng chiêu bài dân tộc tự quyết để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước và chia rẽ các dân tộc

(Slide 19) c Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Đây là nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu, đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng giữa các dân tộc Là cơ sở để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến

bộ xã hội Do vậy, nó đóng vai trò liên kết cả ba nội dung trong Cương lĩnh chính trị thành một chỉnh thể thống nhất

(Slide 20) 3.3 Ý nghĩa

Trang 9

- Cương lĩnh dân tộc là cơ sở lý luận khoa học để giai cấp công nhân, Đảng Cộng Sản trên thế giới xem xét để giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc

- Cương lĩnh dân tộc là cơ sở lý luận để Đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề ra đường lối, chính sách, pháp luật trong giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc

4 Đặc điểm các dân tộc Việt Nam: (Slide 34)

(Slide 35)Việt Nam là một quốc gia đa tộc người mang những đặc điểm nổi bật sau đây:

- Thứ nhất: Đại gia đình dân tộc Việt Nam thống nhất hiện có 54 dân tộc

anh em và có sự chênh lệch về số dân giữa các dân tộc Trong đó, dân tộc Kinh chiếm tới khoảng 87% dân số, còn lại là các dân tộc ít người được phân bố rải rác trên địa bàn cả nước 10 dân tộc có số dân từ dưới 1 triệu đến 100 ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơ-me, Mông, Dao, Gia-rai, Ba-na, Ê-đê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn người ( Cống, Sila, Pupéo, Rơ-măm, Ơ-đu, Brâu ) Cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình thành

và phát triển lâu dài trong lịch sử Thực tế cho thấy rằng, nếu một dân tộc

mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hóa dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt

- Thứ hai, các dân tộc Việt Nam cư trú xen kẽ nhau Việt Nam vốn là nơi

chuyển cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Tính chất chuyển

cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen

kẽ và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng

Trang 10

Chính vì vậy nên, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung

và duy nhất trên một địa bàn Đặc điểm này một mặt là tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, mở rộng giao lưu để giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất, đa dạng Tuy nhiên, đặc điểm này tồn tại một mặt khác đó là

do có quá nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cùng nhau sẽ dễ nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột, từ đó tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại an ninh - chính trị và

sự thống nhất của đất nước

- Thứ ba, tuy chiếm số ít nhưng các dân tộc thiểu số lại cư trú trên các

địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, môi trường sinh thái - là các vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa của đất nước Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực Ví dụ như: dân tộc Thái, Mông, Khơme, dân tộc Hoa,…, cũng do vậy nên các thế lực phản động thường lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam

- Thứ tư, các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển không đều Do điều

kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch

sử nên sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư thể hiện một cách rõ rệt Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số khác nhau Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển khác nhau: một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức sản xuất tiến bộ, tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Về văn hóa, trình độ dân trí, chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số vẫn còn thấp Nếu muốn thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải từng bước giảm, tiến tới xóa bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa và xã

Ngày đăng: 11/01/2023, 22:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w